-ooOoo-
PHẦN GIỚI THIỆU
*****
Phân Tích Giới Tỳ Khưu Ni (Bhikkhunīvibhaṅga) là phần thứ hai của
bộ Phân Tích Giới Bổn (Suttavibhaṅga) thuộc về Tạng Luật
(Vinayapiṭaka), phần thứ nhất là Phân Tích Giới Tỳ Khưu
(Bhikkhuvibhaṅga) được trình bày với tên gọi là Đại Phân Tích
(Mahāvibhaṅga).
Tổng cộng điều học của các tỳ khưu ni gồm có 311 điều được phân chia
như sau:
1/- 8 Pārājika (bất cộng trụ)
2/- 17 Saṅghādisesa (tăng tàng)
3/- 30 Nissaggiya Pācittiya (ưng xả đối trị)
4/- 166 Pācittiya (ưng đối trị)
5/- 8 Pāṭidesanīya (ưng phát lộ)
6/- 75 Sekhiya (ưng học)
7/- 7 Adhikaraṇasamathā Dhammā (các pháp dàn xếp tranh tụng).
Tuy nhiên chỉ có những điều học quy định riêng (asādhāraṇapaññatti)
được trình bày trong tập này, còn những điều quy định chung cho tỳ khưu và
tỳ khưu ni (sādhāraṇapaññatti) cần phải xem ở Phân Tích Giới Tỳ Khưu
(Bhikkhuvibhaṅga). Ngài Buddhaghosa trong Chú Giải Tạng Luật
Samantapāsādikā đã giúp chúng ta xác định những điều học chung này,
tuy nhiên thứ tự các điều học trong giới bổn đầy đủ của các tỳ khưu ni
được trình bày như thế nào không thấy ngài đề cập đến.
Sau khi hoàn tất phần nghiên cứu tài liệu này, chúng tôi có lưu ý một
số vấn đề như sau:
1/- Tỳ khưu ni không có phần giới aniyata (bất định). Tỳ khưu và
tỳ khưu ni đều có 30 điều nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị),
tuy có số lượng giống nhau nhưng một số điều học lại khác nhau, 75 điều
sekhiya (ưng học) và 7 pháp dàn xếp tranh tụng hoàn toàn giống nhau.
2/- Đức Phật quy định các điều học cho các tỳ khưu ni thông qua các tỳ
khưu. Mỗi khi có sự việc sanh khởi, các tỳ khưu ni đã kể lại sự việc cho
các tỳ khưu rồi các tỳ khưu mới trình lên đức Phật. Khi đức Phật quy định
điều học, ngài cũng quy định gián tiếp qua các tỳ khưu: "... Và này các
tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này ..." Cũng nên lưu ý
về thể của động từ sử dụng trong lời nói của đức Phật: Động từ "uddissantu"
trong trường hợp của các tỳ khưu ni thuộc mệnh lện cách hàm ý sự chỉ thị,
sự ra lệnh, nên được dịch là "hãy," còn "uddisseyyātha"
áp dụng cho các tỳ khưu thuộc giả định cách có ý nghĩa khuyên bảo nhẹ
nhàng được dịch là "nên;" chúng tôi chưa tìm ra được lý giải về văn
phạm cho điểm này, cũng có thể việc nói gián tiếp hay trực tiếp là lý do
của sự khác biệt này. Và trong các câu chuyện ở Tạng Luật, dường như chỉ
có bà Mahāpajāpati Gotamī là chủ động thưa chuyện cùng đức Phật, còn các
tỳ khưu ni chỉ lắng nghe và trả lời mỗi khi đức Phật hỏi đến.
3/- Các tỳ khưu ni khi đến với đức Phật đều đứng cho dù nghe Pháp. Điều
này được ghi nhận ở các đoạn văn "... rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng ở
một bên..." Và khi từ giã đức Phật, chỉ có phần mô tả việc các tỳ khưu
ni đảnh lễ đức Phật, hướng vai phải nhiễu quanh và ra đi, không có đoạn
"... từ chỗ ngồi đứng dậy..." Riêng đối với các tỳ khưu, vị tỳ khưu
ni cần phải xin phép khi ngồi xuống ở phía trước (pācittiya
điều 94).
4/- Tội quy định cho tỳ khưu thường được giảm nhẹ so với các tỳ khưu ni
trong khi cả hai đều thực hiện hành động phạm tội giống nhau. Ví dụ như
việc che giấu tội pārājika của vị khác, tỳ khưu phạm pācittiya
(ưng đối trị) điều 64 tỳ khưu ni lại phạm pārājika (bất cộng trụ)
điều 2, hoặc vị xu hướng theo tà kiến và vẫn không dứt bỏ sau khi được
nhắc nhở, tỳ khưu phạm pācittiya (ưng đối trị) điều 68 còn tỳ khưu
ni phạm pārājika (bất cộng trụ) điều 3, v.v...
5/- Tuy nhiên, tỳ khưu ni cũng được 2 điều giảm nhẹ là chỉ hầu cận ni
sư tế độ 2 năm trong khi tỳ khưu tối thiểu phải 5 năm hoặc hơn và tỳ khưu
ni không phải hành parivāsa khi phạm tội saṅghādisesa (tăng
tàng), bù lại phải thực hành mānatta nửa tháng ở cả hai hội chúng
(trong khi đó tỳ khưu phải hành parivāsa tùy theo số ngày che giấu
và chỉ 6 đêm mānatta). Phải chăng điều này chứng tỏ bản chất người
nữ không biết giấu diếm tội của bản thân nên hành phạt parivāsa
không cần thiết?
6/- Vấn đề xuất gia cho người nữ có phần phức tạp hơn, ví dụ như ni sư
tế độ phải 12 năm thâm niên (so với tỳ khưu chỉ 10 năm), mỗi năm chỉ có
thể cho tu lên bậc trên 1 nữ đệ tử (không thấy quy định cho tỳ khưu). Sau
khi cho tu lên bậc trên xong, cần phải di chuyển vị tân tỳ khưu ni đi xa
để tránh trường hợp người chồng bắt lại (pācittiya
điều 70).
7/- Về phần giới tử ni muốn tu lên bậc trên phải có sự cho phép của cha
mẹ và người chồng (đã xuất giá vẫn còn lệ thuộc vào cha mẹ), phải tròn đủ
hai mươi tuổi, đã thực hành sáu pháp trong hai năm, và sự truyền pháp tu
lên bậc trên cần được tiến hành lần lượt ở cả hai hội chúng. Giới tử ni
được chia làm hai hạng: Kumārībhūtā có thể hiểu là hạng người nữ
chưa có sự tiếp xúc thể xác với người nam và hạng thứ nhì là Gihigatā
(nghĩa là người nữ đã đi đến nhà) được dịch là người nữ đã kết hôn; ở phần
giải nghĩa từ ngữ ghi là "người nữ đã đi đến ở giữa (những) người nam"
(lối nói bóng bẩy của sự tiếp xúc thể xác với người nam). Nếu vị tỳ khưu
ni cho tu lên bậc trên hạng người nữ gihigatā chưa đủ 12 năm (ūnadvādasavassā)
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) điều 65. Nên hiểu như thế nào
về việc chưa đủ 12 năm? Học giả I. B. Horner lý luận lòng vòng về vấn đề
này: Là kém 12 tuổi? Hay kết hôn chưa đủ 12 năm? Lời giải thích của ngài
Buddhaghosa cũng không soi sáng được vấn đề. Chúng tôi đã suy nghĩ về lời
giải thích của đức Phật về lý do không thể cho tu lên bậc trên hạng người
nữ này khi chưa đủ 12 năm "không có khả năng chịu đựng sự lạnh, sự
nóng, ..." và hiểu theo nghĩa đơn giản của lời giải nghĩa từ ngữ ở
trên: người nữ "có sự tiếp xúc thể xác với người nam" khi bản thân
chưa đủ 12 tuổi. Do thể chất và tâm lý của người nữ vào lứa tuổi ấy chưa
được chuẩn bị đầy đủ nên việc người nam xâm phạm tiết hạnh sẽ gây ra những
tác hại về tâm sinh lý khiến khả năng chịu đựng của hạng người nữ ấy bị
kém đi (Dịch giả I.B. Horner cho biết rằng ở Ấn Độ có những địa phương vẫn
duy trì tập tục cưới gả các cô gái lúc còn 8 tuổi).
8/- Xã hội Ấn Độ thời đó có vẻ rất nguy hiểm đối với nữ giới qua những
sự việc bất trắc xảy ra cho các tỳ khưu ni đi riêng lẻ hay nhóm.
9/- Vấn đề thâu hồi Kaṭhina lại được tìm thấy ở bộ Luật này (pācittiya
điều 30, [253]) thay vì được kết tập ở chương Kaṭhina (Đại Phẩm
– Mahāvagga, chương VII).
Chúng tôi chỉ liệt kê một số vấn đề nổi bật đã được đánh dấu trong quá
trình nghiên cứu. Ngoài ra, chúng tôi còn có các thắc mắc như sau:
1/- Phải chăng bộ Luật chúng ta đang nghiên cứu ở đây đã được rút gọn
lại? Hay nói cách khác, phải chăng có một bộ Luật được kết tập đầy đủ cho
tỳ khưu ni để tiện việc học tập? Theo Đại Phẩm - Mahāvagga, vào
ngày lễ Uposatha các tỳ khưu không được đọc tụng giới bổn
Pātimokkha khi có sự hiện diện của vị tỳ khưu ni (chương II, [201]).
Như thế, các tỳ khưu ni đã đọc tụng riêng theo như ở lời mở đầu và kết
thúc của mỗi loại điều học, hoặc ở lời kết thúc giới bổn đã xác định rõ.
Ngoài ra, cần phải có sự chuyển đổi về văn tự ở các điều học đã được quy
định chung, ví dụ ở điều pārājika thứ nhất phải đọc "yā pana
bhikkhunī" thay vì đọc "yo pana bhikkhu," "antamaso
tiracchānagatena" thay vì "antamaso tiracchānagatāya" v.v...
cho thấy việc lưu truyền một bộ giới bổn đầy đủ của các tỳ khưu ni là hợp
lý. Nếu chấp nhận giả thiết như vậy, phải chăng bộ Luật của tỳ khưu ni đã
được rút gọn lại sau khi sự tồn tại của các tỳ khưu ni không còn nữa? Vào
thời gian nào?
2/- Ngoại trừ một số sinh hoạt của các tỳ khưu ni qua các câu chuyện,
chúng tôi vẫn không nghiệm ra được các hành sự của các tỳ khưu ni đã được
tiến hành như thế nào? Ví dụ như các tỳ khưu ni tụng đọc giới bổn vào lúc
nào trong ngày lễ Uposatha? Trước hay sau khi đi nghe giáo giới? Ni
viện có xác định ranh giới (sīmā) riêng hay không? Nếu có, các tỳ khưu ni
sẽ tự thực hiện lấy hay cần phải có sự giúp đỡ của các tỳ khưu? Trong lúc
tra cứu cách giải quyết cho một số vấn đề, chúng tôi đã không tìm được lời
giải thích của ngài Buddhaghosa hoặc lời giải thích không rõ ràng. Chúng
tôi tự hỏi rằng: Phải chăng ngài đã không có sự tham khảo với các tỳ khưu
ni thời đó? Hay nói theo sự suy diễn là không còn sự sinh hoạt của tỳ khưu
ni vào thế kỷ thứ 5 sau Công Nguyên ở đảo Laṅkā?
Nếu xem xét kỹ lưỡng hai bộ Luật của tỳ khưu và tỳ khưu ni, chúng ta có
thể tìm ra những sự khác biệt về tâm lý giữa hai giới tính đã được đức
Phật nghiệm ra bằng sự tu chứng và giác ngộ của bản thân, trong khi hiện
nay môn Tâm Lý Học phải tốn nhiều công sức với các sự nghiên cứu để tìm ra
nguyên lý và áp dụng vào thực tế. Chúng tôi nghĩ rằng còn nhiều vấn đề lý
thú khác mà bản thân chúng tôi đã bỏ sót hay không đủ khả năng để phát
hiện.
*
Bản dịch Phân Tích Giới Bổn – Suttavibhaṅga của chúng tôi
được thực hiện và trình bày theo văn bản Pali La tinh từ Compact
Disk BUDSIR IV của trường đại học Mahidol ở thủ đô Bangkok, Thái Lan.
Phần mục lục chúng tôi thực hiện theo các chữ số đánh dấu ở đầu mỗi vấn
đề; trình bày theo cách này sẽ giúp quý vị tiết kiệm được thời gian trong
việc xác định vấn đề cần tham khảo. Tuy đã nỗ lực tối đa nhưng chúng tôi
biết rằng bản dịch này vẫn còn nhiều sai sót, rất mong nhận được những sự
chỉ dạy và ý kiến đóng góp của quý vị. Xin email về: [email protected]
Xin chân thành ghi nhận công đức của Thượng Tọa Tiến Sĩ Bửu Chánh về CD
Tam Tạng BUDSIR IV. Chúng tôi cũng xin tán dương công đức của Đại Đức Giác
Hạnh về CD Tam Tạng Chattha Saṅgāyana, đồng thời đã cho mượn dài
hạn các bản dịch tiếng Anh của Cô I. B. Horner. CD Buddhasāsanā quà
biếu của Dr. Bình Anson đã đóng góp phần công đức không nhỏ với hai bản
dịch từ Hán tạng: Luật Tỳ-khưu ni bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Quang
và Luật Ma-ha Tăng-kỳ của Pháp sư Phật-đà Bạt-đà-la (Thích Phước Sơn
dịch).
Chúng tôi cũng xin ghi nhận sự ủng hộ nhiệt tình của Đại Đức Hộ Phạm đã
hy sinh nhiều thời gian cùng chúng tôi suy nghĩ để tìm ra phương thức giải
quyết cho những điểm khó về văn phạm cũng như từ ngữ. Cũng cần nhắc đến
các sự ủng hộ và lời động viên thăm hỏi của các vị: Ven. Chánh Minh, Ven.
Cittānanda, Ven. Khánh Hỷ, Ven. Chánh Kiến, Dr. Bình Anson, bà Diệu Đài,
anh Phạm Trọng Độ, đạo hữu Lương Xuân Lộc, chú Nguyễn Hữu Danh, gia đình
Nguyễn Ngọc Vivian, gia đình Lê Thị Tích, cô Trần Liêng. Không có sự khích
lệ của quý vị, bản dịch này không thể hoàn thành. Mong sao các ước nguyện
của quý vị sẽ được thành tựu như ý và nhanh chóng y như việc chúng tôi đã
hoàn tất bản dịch này.
Công đức này xin dâng đến Hòa Thượng trụ trì và chư tỳ khưu chùa Sri
Jayawardhanaramaya, Colombo, Tích Lan đã bảo bọc và tạo điều kiện thuận
lợi cho chúng tôi trong công việc học tập và nghiên cứu Phật Pháp trong
thời gian qua.
Mong sao hết thảy chúng sanh đều được tiến hóa trong ánh hào quang của
Chánh Pháp.
Colombo, ngày 31 tháng 03 năm 2004
Bhikkhu Indacanda
(Trương đình Dũng)
(Hiệu đính lần thứ nhất hoàn tất ngày 10/10/2004)
-ooOoo-