-ooOoo-
TẠNG
LUẬT – PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU
TẬP MỘT
*******
Kính lễ
đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
CHƯƠNG VERAÑJA
[1] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Verañjā,
ở cội cây Nimba của dạ xoa Naḷeru,[1]
cùng với đại chúng tỳ khưu có số lượng năm trăm vị tỳ khưu. Vị bà-la-môn
Verañja đã nghe được rằng: “Chắn chắn là ngài Sa-môn Gotama, con trai
dòng Sākya (Thích Ca), từ dòng dõi Sākya đã xuất gia, và hiện ngự tại
Verañjā, ở cội cây Nimba của dạ xoa Naḷeru cùng với đại chúng tỳ khưu có
số lượng năm trăm vị tỳ khưu. Tiếng tăm tốt đẹp về ngài Gotama ấy
đã được lan rộng ra như vầy: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng
Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Tối Thượng Điều Ngự
Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Vị ấy sau khi tự mình chứng
ngộ thắng trí đã công bố về thế gian này tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma
Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và
loài người. Vị ấy thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở
đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về
văn tự. Vị ấy giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và
đầy đủ. Tốt thay cho việc diện kiến các vị A-la-hán như thế ấy!”
[2] Sau đó, bà-la-môn Verañja đã đi đến gặp đức Thế
Tôn. Sau khi đến, vị ấy đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi
trao đổi lời xã giao thân thiện đã ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi
xuống một bên, bà-la-môn Verañja đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Thưa ngài Gotama, tôi đã được nghe điều này: “Sa-môn
Gotama không cung kính, hoặc không đứng dậy, hoặc không mời chỗ ngồi đến
các vị bà-la-môn già cả, uy tín, lớn tuổi, sống thọ, đã đạt đến giai
đoạn cuối của cuộc đời.” Thưa ngài Gotama, điều ấy thật đúng như thế
bởi vì ngài Gotama không cung kính, hoặc không đứng dậy, hoặc
không mời chỗ ngồi đến các vị bà-la-môn già cả, uy tín, lớn tuổi, sống
thọ, đã đạt đến giai đoạn cuối của cuộc đời. Thưa ngài Gotama, điều ấy
thật không thích đáng!
- Này Bà-la-môn, trong thế gian tính luôn cõi chư
thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi sa-môn, Bà-la-môn,
chư thiên và loài người, ta không thấy một ai mà ta có thể cung kính,
hoặc có thể đứng dậy, hoặc có thể mời chỗ ngồi. Này Bà-la-môn, bởi vì
nếu Như Lai cung kính, hoặc đứng dậy, hoặc mời chỗ ngồi người nào thì
đầu của người ấy sẽ bị vỡ tan.
- Ngài Gotama không biết về phẩm chất (arasarūpo)!
- Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp
môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa-môn
Gotama không biết về phẩm chất.” Này Bà-la-môn, các phẩm chất về
sắc, các phẩm chất về thinh, các phẩm chất về hương, các phẩm chất về
vị, các phẩm chất về xúc, đối với Như Lai các việc ấy đã được diệt tận,
các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho
không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai.
Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói
một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa-môn Gotama không
biết về phẩm chất;” và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý
nghĩa ấy khi nói ra.[2]
- Ngài Gotama không biết thưởng thức (Nibbhogo)!
- Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp
môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa-môn
Gotama không biết thưởng thức.” Này Bà-la-môn, các sự thưởng thức về
sắc, các sự thưởng thức về thinh, các sự thưởng thức về hương, các sự
thưởng thức về vị, các sự thưởng thức về xúc, đối với Như Lai các việc
ấy đã được diệt tận, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng
gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi
trong tương lai. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn
ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa-môn
Gotama không biết thưởng thức;” và chắc chắn rằng ông không liên
tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.
- Ngài Gotama thuyết về không hành động
(akiriyavādo)!
- Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp
môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa-môn
Gotama thuyết về không hành động.” Này Bà-la-môn, bởi vì ta thuyết
về không hành động đối với việc làm ác của thân, đối với lời nói ác của
miệng, đối với suy nghĩ ác của ý; ta thuyết về không hành động của các
pháp ác và bất thiện có nhiều dạng. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp
môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể
nói rằng: “Sa-môn Gotama thuyết về không hành động;” và chắc chắn
rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.
- Ngài Gotama thuyết về đoạn diệt (ucchedavādo)![3]
- Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp
môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa-môn
Gotama thuyết về đoạn diệt.” Này Bà-la-môn, bởi vì ta thuyết về sự
đoạn diệt của luyến ái, của sân hận, của si mê; ta thuyết về sự đoạn
diệt của các pháp ác và bất thiện có nhiều dạng. Này Bà-la-môn, thật sự
đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về
ta thì có thể nói rằng: “Sa-môn Gotama thuyết về đoạn diệt;” và
chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.
- Ngài Gotama có sự ghê tởm (jegucchī)!
- Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp
môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa-môn
Gotama có sự ghê tởm.” Này Bà-la-môn, bởi vì ta ghê tởm với việc làm
ác của thân, với lời nói ác của miệng, với suy nghĩ ác của ý; ta ghê tởm
trong sự tạo thành các pháp ác và bất thiện có nhiều dạng. Này
Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một
cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa-môn Gotama có sự ghê tởm;”
và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.
- Ngài Gotama là người cách ly (venayiko)!
- Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp
môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa-môn
Gotama là người cách ly.” Này Bà-la-môn, bởi vì ta thuyết về pháp
đưa đến sự cách ly đối với luyến ái, đối với sân, đối với si; ta thuyết
về pháp đưa đến sự cách ly đối với các pháp ác và bất thiện có nhiều
dạng. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong
khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa-môn Gotama
là người cách ly;” và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý
nghĩa ấy khi nói ra.
- Ngài Gotama là người thiêu đốt (tapassī)!
- Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp
môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa-môn
Gotama là người thiêu đốt.” Này Bà-la-môn, ta thuyết rằng các pháp
ác và bất thiện tức là việc làm ác của thân, lời nói ác của miệng, và
suy nghĩ ác của ý cần được thiêu đốt. Này Bà-la-môn, người nào có các
pháp ác và bất thiện cần được thiêu đốt đã được diệt tận, các rễ đã được
cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự
sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai; ta gọi người ấy
là: “Người thiêu đốt.” Này Bà-la-môn, các pháp ác và bất thiện
cần được thiêu đốt của Như Lai đã được diệt tận, các rễ đã được cắt lìa,
như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không
còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, thật sự đây
là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta
thì có thể nói rằng: “Sa-môn Gotama là người thiêu đốt;” và chắc
chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.
- Ngài Gotama là người thoát khỏi bào thai
(apagabbho)!
- Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp
môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa-môn
Gotama là người thoát khỏi bào thai.” Này Bà-la-môn, sự sanh vào bào
thai trong ngày vị lai của người nào, tức là sự tái sanh và hiện hữu lần
nữa đã được diệt tận, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị
bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh
khởi trong tương lai; ta gọi người ấy là: “Người thoát khỏi bào thai.”
Này Bà-la-môn, sự sanh vào bào thai trong ngày vị lai của Như Lai, tức
là sự tái sanh và hiện hữu lần nữa đã được diệt tận, các rễ đã được cắt
lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống,
không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, thật
sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn
về ta thì có thể nói rằng: “Sa-môn Gotama là người thoát khỏi bào
thai;” và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói
ra.
[3] Này Bà-la-môn, cũng giống như con gà mái có
được tám, hoặc mười, hoặc mười hai quả trứng. Nếu con gà mái nằm lên
trên chúng đúng cách, ủ nóng đều đúng cách, ấp đúng cách, và trong số
các con gà con mới nở ấy, con nào dùng vuốt của móng chân hoặc mỏ phá vỡ
vỏ trứng và nở ra an toàn trước tiên, thì điều nên nói về con gà con ấy
là thế nào, lớn nhất hay nhỏ nhất?
- Thưa ngài Gotama, nên gọi nó là “Con lớn nhất”
bởi vì nó lớn nhất trong bầy.
- Này Bà-la-môn, cũng tương tợ như thế trong số
chúng sanh sống trong vô minh (ví như) đang ở trong quả trứng và bị trùm
kín lại, ta là người duy nhất đã phá vỡ vỏ trứng vô minh và chứng đắc
quả vị Chánh Đẳng Giác vô thượng ở trên đời. Này Bà-la-môn, ta đây là
người đứng đầu và cao cả nhất của thế gian. Này Bà-la-môn, hơn nữa ta đã
có sự nỗ lực được thành tựu không bị thối giảm, có niệm được thiết lập
không bị xao lãng, có thân được khinh an không còn rạo rực, có tâm được
an trụ tập trung. Này Bà-la-môn, quả vậy sau khi đã tách ly khỏi các dục
và tách ly khỏi các pháp bất thiện, ta đây đã chứng đạt và trú thiền thứ
nhất với hỷ và lạc sanh lên do tách ly (khỏi các triền cái), có tầm, có
tứ. Do sự đình chỉ tầm và tứ, ta đã chứng đạt và trú thiền thứ hai với
nội phần an tỉnh, tâm được chuyên nhất, có hỷ và lạc sanh lên do định,
không tầm, không tứ. Và do sự không còn tham muốn ở hỷ, với xả ta đã
trú, có niệm và tỉnh giác ta đã chứng nghiệm trạng thái lạc bằng thân,
đó là điều mà các bậc Thánh nói rằng: “Vị ấy có xả, có niệm, có sự
trú vào lạc;” ta đã chứng đạt và trú thiền thứ ba. Do sự từ bỏ lạc,
do sự từ bỏ khổ (của thân), do sự trừ diệt hỷ và ưu ở tâm (đã có) trước
đây, ta đã chứng đạt và trú thiền thứ tư với sự thanh tịnh của xả và
niệm, không khổ không lạc.
Trong khi tâm được an trụ, thuần tịnh, trong sạch,
không ô nhiễm, lìa khỏi phiền não, nhu thuận, có thể sử dụng, ổn định,
đạt đến trạng thái vững chắc như thế, ta đây đã hướng dẫn tâm đến trí
tuệ ghi nhớ về các kiếp sống trước (Túc Mạng Minh). Ta nhớ lại nhiều
kiếp sống trước như là một lần sanh, hai lần sanh, ba lần sanh, bốn lần
sanh, năm lần sanh, mười lần sanh, hai mươi lần sanh, ba mươi lần sanh,
bốn mươi lần sanh, năm mươi lần sanh, một trăm lần sanh, một ngàn lần
sanh, một trăm ngàn lần sanh, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều
hoại và thành kiếp: “Vào kiếp sống ấy, ta đã có tên như vầy, dòng họ
như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, kinh nghiệm khổ và lạc như
vầy, có tuổi thọ như vầy. Từ chỗ ấy, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên
tại chỗ kia. Ở nơi kia, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp
như vầy, thức ăn như vầy, kinh nghiệm khổ và lạc như vầy, có tuổi thọ
như vầy. Từ nơi kia, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại nơi này.”
Như thế, ta nhớ lại nhiều kiếp sống trước với các nét cá biệt và đại
cương. Này Bà-la-môn, quả vậy vào canh đầu của đêm ta đã chứng đạt Minh
thứ nhất này, ta đã diệt tận vô minh và làm cho minh sanh khởi, ta đã
diệt tận bóng tối và làm cho ánh sáng sanh khởi. Như thế ấy là điều (ta
đã thành đạt) trong lúc ta sống không dễ duôi, nỗ lực, quyết tâm. Này
Bà-la-môn, chính điều này đã là sự khai mở đầu tiên của ta, tương tợ như
con gà con thoát ra từ vỏ trứng vậy.
Trong khi tâm được an trụ, thuần tịnh, trong sạch,
không ô nhiễm, lìa khỏi phiền não, nhu thuận, có thể sử dụng, ổn định,
đã đạt đến trạng thái vững chắc như thế, ta đây đã hướng dẫn tâm đến trí
tuệ (quán xét) về sự sanh tử của chúng sanh (Sanh Tử Minh). Ta đây nhìn
thấy chúng sanh bằng thiên nhãn thuần tịnh vượt trội loài người, ta đây
biết được rằng trong khi chết đi rồi sanh lại chúng sanh đều đi theo
nghiệp tương ứng (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, đến chốn
an vui, (hay) đọa vào cõi khổ: “Quả đúng như vậy, những chúng sanh
đang hiện hữu (bhonto) này có hành động xấu xa bằng thân, có hành động
xấu xa bằng lời nói, có suy nghĩ xấu xa bằng ý, vu khống các bậc Thánh,
theo tà kiến, tán thành các hành động do tà kiến, khi tan rã thân xác và
chết đi, họ bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Trái lại,
những chúng sanh đang hiện hữu (bhonto) này có hành động tốt đẹp bằng
thân, có hành động tốt đẹp bằng lời nói, có suy nghĩ tốt đẹp bằng ý,
không vu khống các bậc Thánh, theo chánh kiến, tán thành các hành động
do chánh kiến, khi tan rã thân xác và chết đi, họ được sanh vào chốn an
vui, cõi trời, loài người.” Như thế, ta nhìn thấy chúng sanh bằng
thiên nhãn thuần tịnh vượt trội loài người, ta đây biết được rằng trong
khi chết đi rồi sanh lại chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng (trở
thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, đến chốn an vui, (hay) đọa vào
cõi khổ. Này Bà-la-môn, quả vậy vào canh giữa của đêm ta đã chứng đạt
Minh thứ hai này, ta đã diệt tận vô minh và làm cho minh sanh khởi, ta
đã diệt tận bóng tối và làm cho ánh sáng sanh khởi. Như thế ấy là điều
(ta đã thành đạt) trong lúc ta sống không dễ duôi, nỗ lực, quyết tâm.
Này Bà-la-môn, chính điều này đã là sự khai mở thứ hai của ta, tương tợ
như con gà con thoát ra từ vỏ trứng vậy.
Trong khi tâm được an trụ, thuần tịnh, trong sạch,
không ô nhiễm, lìa khỏi phiền não, nhu thuận, có thể sử dụng, ổn định,
đã đạt đến trạng thái vững chắc như thế, ta đây đã hướng dẫn tâm đến trí
tuệ đoạn tận các lậu hoặc (Lậu Tận Minh). Ta đây đã biết rõ: “Đây là
Khổ” đúng theo bản thể thật (yathābhūtaṃ). Ta đây đã biết rõ: “Đây
là nguyên nhân của Khổ” đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: “Đây
là sự Diệt Khổ” đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: “Đây
là sự thực hành đưa đến sự Diệt Khổ” đúng theo bản thể thật. Ta đây
đã biết rõ: “Đây là các lậu hoặc” đúng theo bản thể thật. Ta đây
đã biết rõ: “Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc” đúng theo bản
thể thật. Ta đây đã biết rõ: “Đây là sự diệt tận các lậu hoặc”
đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: “Đây là sự thực hành đưa
đến sự diệt tận các lậu hoặc” đúng theo bản thể thật. Trong khi ta
đây biết được như thế, thấy được như thế, thì tâm cũng đã được giải
thoát khỏi dục lậu, tâm cũng đã được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm cũng
đã được giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi ta đã được giải thoát, trí tuệ
giải thoát đã khởi lên và ta đã biết rõ rằng: “Sự tái sanh đã cạn
kiệt, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn (đưa đến) bản
ngã nào khác (tương tợ) như vầy nữa.” Này Bà-la-môn, quả vậy vào
canh cuối của đêm ta đã chứng đạt Minh thứ ba này, ta đã diệt tận vô
minh và làm cho minh sanh khởi, ta đã diệt tận bóng tối và làm cho ánh
sáng sanh khởi. Như thế ấy là điều (ta đã thành đạt) trong lúc ta sống
không dễ duôi, nỗ lực, quyết tâm. Này Bà-la-môn, chính điều này đã là sự
khai mở thứ ba của ta, tương tợ như con gà con thoát ra từ vỏ trứng vậy.
[4] Khi được nói như thế, bà-la-môn Verañja đã nói
với đức Thế Tôn điều này:
- Ngài Gotama là vị đứng đầu, ngài Gotama là người
cao cả nhất. Bạch ngài Gotama, thật là tuyệt vời! Bạch ngài Gotama, thật
là tuyệt vời! Bạch ngài Gotama, giống như người có thể lật ngửa vật đã
được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại
cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): “Những người có mắt sẽ nhìn
thấy được các hình dáng;” tương tợ như thế, Pháp đã được ngài Gotama
giảng rõ bằng nhiều phương tiện. Tôi đây xin quy y ngài Gotama, Giáo
Pháp, và Hội chúng tỳ khưu. Xin ngài Gotama chấp nhận tôi là nam cư sĩ
đã được quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Xin ngài Gotama hãy nhận
lời tôi về việc cư trú mùa mưa ở Verañjā cùng với hội chúng tỳ khưu.
Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi
ấy, người bà-la-môn Verañja hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh,
rồi ra đi.
[5] Vào lúc bấy giờ, Verañjā có sự khó khăn về vật
thực, đời sống khổ cực, dịch bệnh hoành hành (setaṭṭhikā),[4]
vật thực được phân phối theo thẻ, không dễ dàng sinh sống bằng sự ra sức
khất thực.
Vào lúc bấy giờ, có những người buôn ngựa từ xứ
Uttarāpatha đã đến cư trú mùa mưa ở Verañjā cùng với năm trăm con ngựa.
Ở các bãi nhốt ngựa, họ có chuẩn bị từng phần (pattha) lúa mạch[5]
cho các vị tỳ khưu. Vào buổi sáng, các vị tỳ khưu mặc y cầm y bát rồi đi
vào trong thành Verañjā để khất thực. Khi không nhận được đồ ăn khất
thực, các vị đi đến khất thực ở các bãi nhốt ngựa và mang về tu viện
(mỗi vị) một phần lúa mạch. Các vị giã đi giã lại trong cối giã rồi thọ
dụng. Đại đức Ānanda nghiền phần lúa mạch ở tảng đá rồi dâng lên đức Thế
Tôn. Đức Thế Tôn thọ dụng thức ấy.
Quả vậy, đức Thế Tôn đã nghe tiếng cối giã. Các
đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng
thời các vị mới hỏi, biết đúng thời các vị vẫn không hỏi. Các đấng Như
lai hỏi có liên quan đến lợi ích và không (hỏi việc) không có liên quan
đến lợi ích, khi không có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai có cách
để cắt đứt vấn đề. Chư Phật Thế Tôn hỏi các vị tỳ khưu bởi hai lý do: “Chúng
ta sẽ thuyết Pháp hoặc sẽ quy định điều học cho các đệ tử.” Khi ấy,
đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng:
- Này Ānanda, tiếng cối giã ấy là gì vậy?
Khi ấy, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này Ānanda, tốt lắm! Tốt lắm! Này Ānanda, (điều
ấy) đã được khắc phục bởi các ngươi là những người hoàn thiện. Về sau
này, con người sẽ chê bai cơm gạo sāli và thịt.
[6] Sau đó, đại đức Mahāmoggallāna (Mục Kiền Liên)
đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi
xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Mahāmoggallāna đã
nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, hiện nay Verañjā có sự khó khăn về vật
thực, đời sống khổ cực, dịch bệnh hoành hành, vật thực được phân phối
theo thẻ, không dễ dàng sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Bạch ngài,
bề mặt bên dưới của đại địa cầu này có chất như là mật ong, không cặn
bã, và có hương vị y như thế. Bạch ngài, thật tốt thay nếu con lật ngửa
quả địa cầu ra (để rồi) các tỳ khưu sẽ thọ dụng chất bổ dưỡng (ấy).[6]
- Này Moggallāna, ngươi sẽ giải quyết thế nào về
các chúng sanh sống ở quả địa cầu?
- Bạch ngài, con sẽ biến hoá một bàn tay trở thành
giống như đại địa cầu và di chuyển chúng sanh sống ở quả địa cầu đến đó,
rồi con sẽ lật ngửa quả địa cầu ra bằng cánh tay kia.
- Này Moggallāna, thôi đi. Ngươi chớ thích thú để
lật ngửa quả địa cầu ra nữa khiến chúng sanh sẽ gánh chịu sự xáo trộn.
- Bạch ngài, thật tốt thay nếu tất cả hội chúng tỳ
khưu có thể đi đến Uttarakuru để khất thực.
- Này Moggallāna, ngươi sẽ giải quyết thế nào về
các tỳ khưu không có thần thông?
- Bạch ngài, bằng cách nào mà tất cả các tỳ khưu
đều sẽ đi được thì con sẽ làm theo cách ấy.
- Này Moggallāna, thôi đi. Ngươi chớ thích thú đến
việc đi đến Uttarakuru để khất thực của toàn bộ hội chúng tỳ khưu nữa.
[7] Khi ấy, đại đức Sāriputta (Xá Lợi Phất) trong
lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi:
“Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã không tồn tại lâu dài? Phạm
hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã tồn tại lâu dài?” Sau đó vào lúc
chiều tối, đại đức Sāriputta khi xuất khỏi thiền tịnh đã đi đến gặp đức
Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên.
Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Sāriputta đã nói với đức Thế Tôn điều
này:
- Bạch ngài, trường hợp con trong lúc thiền tịnh ở
nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Phạm hạnh
thời chư Phật Thế Tôn nào đã không tồn tại lâu dài? Phạm hạnh thời chư
Phật Thế Tôn nào đã tồn tại lâu dài?”
- Này Sāriputta, Phạm hạnh thời đức Thế Tôn
Vipassī, thời đức Thế Tôn Sikhī, và thời đức Thế Tôn Vessabhū đã không
tồn tại lâu dài. Này Sāriputta, Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Kakusandha,
thời đức Thế Tôn Konāgamana, và thời đức Thế Tôn Kassapa đã tồn tại lâu
dài.
- Bạch ngài, vậy do nhân gì, do duyên gì khiến Phạm
hạnh thời đức Thế Tôn Vipassī, thời đức Thế Tôn Sikhī, và thời đức Thế
Tôn Vessabhū đã không tồn tại lâu dài?
- Này Sāriputta, đức Thế Tôn Vipassī, đức Thế Tôn
Sikhī, và đức Thế Tôn Vessabhū đã không nỗ lực để thuyết giảng Giáo Pháp
một cách chi tiết đến các đệ tử và các vị ấy đã có ít suttaṃ, geyyaṃ,
veyyākaraṇaṃ, gāthā, udānaṃ, itivuttakaṃ, jātakaṃ, abbhūtadhammaṃ,
vedallaṃ.[7]
Điều học cho các đệ tử đã không được (các vị ấy) quy định và giới bổn
Pātimokkha đã không được công bố. Với sự tịch diệt của chư Phật Thế
Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được giác ngộ theo chư
Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau, có dòng họ khác
nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã xuất gia, các vị ấy
đã khiến cho Phạm hạnh ấy biến mất thật nhanh chóng. Này Sāriputta, cũng
giống như nhiều bông hoa khác nhau được đặt xuống ở trên tấm ván sàn và
không được kết lại với nhau bằng sợi chỉ, cơn gió (sẽ) làm phân tán, làm
tung toé, và hủy hoại chúng. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Này
Sāriputta, giống như việc (các bông hoa) không được kết lại với nhau
bằng sợi chỉ; này Sāriputta, tương tợ như thế với sự tịch diệt của chư
Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được giác ngộ
theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau, có dòng họ
khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã xuất gia, các
vị ấy đã khiến cho Phạm hạnh ấy biến mất thật nhanh chóng. Và chư Phật
Thế Tôn ấy (chỉ) nỗ lực dùng tâm biết được tâm để giáo huấn các đệ tử.
Này Sāriputta, trong thời quá khứ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng
Giác Vessabhū, ở trong khu rừng ghê rợn nọ, dùng tâm biết được tâm rồi
giáo huấn và chỉ dạy hội chúng tỳ khưu một ngàn vị rằng: “Hãy suy tầm
như vầy.[8]
Chớ suy tầm như thế.[9]
Hãy tác ý như vầy.[10]
Chớ tác ý như thế.[11]
Hãy từ bỏ điều này.[12]
Hãy thành tựu rồi an trú điều này.”[13]
Này Sāriputta, khi ấy trong lúc được đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh
Đẳng Giác Vessabhū giáo huấn như thế chỉ dạy như thế, các tâm của một
ngàn vị tỳ khưu ấy đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các
lậu hoặc. Này Sāriputta, vào trường hợp ấy trong khi đã bị kinh sợ đối
với khu rừng ghê rợn, người nào chưa dứt bỏ ái dục đi vào khu rừng ấy
thì hầu hết các sợi lông sẽ dựng đứng lên. Này Sāriputta, đây là nhân
đây là duyên khiến Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Vipassī, thời đức Thế Tôn
Sikhī, và thời đức Thế Tôn Vessabhū đã không tồn tại lâu dài.
- Bạch ngài, vậy do nhân gì, do duyên gì khiến Phạm
hạnh thời đức Thế Tôn Kakusandha, thời đức Thế Tôn Konāgamana, và thời
đức Thế Tôn Kassapa đã tồn tại lâu dài?
- Này Sāriputta, đức Thế Tôn Kakusandha, đức Thế
Tôn Konāgamana, và đức Thế Tôn Kassapa đã nỗ lực để thuyết giảng Giáo
Pháp một cách chi tiết đến các đệ tử và các vị ấy đã có nhiều suttaṃ,
geyyaṃ, veyyākaraṇaṃ, gāthā, udānaṃ, itivuttakaṃ, jātakaṃ,
abbhūtadhammaṃ, vedallaṃ. Điều học cho các Thinh Văn đã được (các vị
ấy) quy định và giới bổn Pātimokkha đã được công bố. Với sự tịch
diệt của chư Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được
giác ngộ theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau,
có dòng họ khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã
xuất gia, các vị ấy đã duy trì Phạm hạnh ấy lâu dài và trường cửu. Này
Sāriputta, cũng giống như nhiều bông hoa khác nhau được đặt xuống ở trên
tấm ván sàn và được kết lại với nhau bằng sợi chỉ, cơn gió (sẽ) không
làm phân tán, không làm tung toé, và không hủy hoại chúng. Điều ấy có
nguyên nhân thế nào? Này Sāriputta, giống như việc (các bông hoa) được
kết lại với nhau bằng sợi chỉ; này Sāriputta, tương tợ như thế với sự
tịch diệt của chư Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã
được giác ngộ theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác
nhau, có dòng họ khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau
đã xuất gia, các vị ấy đã duy trì Phạm hạnh ấy lâu dài và trường cửu.
Này Sāriputta, đây là nhân, đây là duyên khiến Phạm hạnh thời đức Thế
Tôn Kakusandha, thời đức Thế Tôn Konāgamana, và thời đức Thế Tôn Kassapa
đã tồn tại lâu dài.
[8] Sau đó, đại đức Sāriputta đã từ chỗ ngồi đứng
dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay hướng về đức Thế Tôn, và đã nói
với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch Thế Tôn, nay là thời điểm của việc ấy. Bạch
Thiện Thệ, nay là thời điểm của việc ấy, (tức là thời điểm) đức Thế Tôn
nên quy định điều học cho các đệ tử, nên công bố giới bổn Pātimokkha;
như thế Phạm hạnh này có thể được tiếp tục và tồn tại lâu dài.
- Này Sāriputta, ngươi hãy chờ đợi! Này Sāriputta,
ngươi hãy chờ đợi! Trong trường hợp ấy, chỉ có Như Lai mới biết thời
điểm. Này Sāriputta, cho đến khi nào một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa
xuất hiện trong hội chúng này thì cho đến khi ấy bậc Đạo Sư chưa quy
định điều học và công bố giới bổn Pātimokkha cho các đệ tử. Này
Sāriputta, chính bởi vì một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện trong hội
chúng này nên bậc Đạo Sư quy định điều học và công bố giới bổn
Pātimokkha cho các đệ tử nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu
hoặc ấy. Này Sāriputta, cho đến khi nào hội chúng chưa đạt đến sự lớn
mạnh về số lượng thì cho đến khi ấy một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa
xuất hiện trong hội chúng này. Này Sāriputta, chính bởi vì hội chúng đạt
đến sự đông đảo về số lượng nên một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện
trong hội chúng này, nên bậc Đạo Sư quy định điều học và công bố giới
bổn Pātimokkha cho các đệ tử nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến
lậu hoặc ấy. Này Sāriputta, cho đến khi nào hội chúng chưa đạt đến sự
lớn mạnh về việc phát triển thì cho đến khi ấy một số pháp đưa đến lậu
hoặc chưa xuất hiện trong hội chúng này. Này Sāriputta, chính bởi vì hội
chúng đạt đến sự lớn mạnh về việc phát triển nên một số pháp đưa đến lậu
hoặc xuất hiện trong hội chúng này, nên bậc Đạo Sư quy định điều học và
công bố giới bổn Pātimokkha cho các đệ tử nhằm diệt trừ chính các
pháp đưa đến lậu hoặc ấy. Này Sāriputta, cho đến khi nào hội chúng chưa
đạt đến sự dồi dào về lợi lộc thì cho đến khi ấy một số pháp đưa đến lậu
hoặc chưa xuất hiện trong hội chúng này. Này Sāriputta, chính bởi vì hội
chúng đạt đến sự dồi dào về lợi lộc nên một số pháp đưa đến lậu hoặc
xuất hiện trong hội chúng này, nên bậc Đạo Sư quy định điều học và công
bố giới bổn Pātimokkha cho các đệ tử nhằm diệt trừ chính các pháp
đưa đến lậu hoặc ấy. Này Sāriputta, cho đến khi nào hội chúng chưa đạt
đến sự lớn mạnh về việc học nhiều thì cho đến khi ấy một số pháp đưa đến
lậu hoặc chưa xuất hiện trong hội chúng này. Này Sāriputta, chính bởi vì
hội chúng đạt đến sự lớn mạnh về việc học nhiều nên một số pháp đưa đến
lậu hoặc xuất hiện trong hội chúng này, nên bậc Đạo Sư quy định điều học
và công bố giới bổn Pātimokkha cho các đệ tử nhằm diệt trừ chính
các pháp đưa đến lậu hoặc ấy.[14]
Này Sāriputta, bởi vì hội chúng tỳ khưu không có ô nhiễm, không có tội
lỗi, có ác pháp đã lìa, được thanh tịnh, trong sạch, đã an trú vào mục
đích.[15]
Này Sāriputta, bởi vì trong số năm trăm tỳ khưu này, vị tỳ khưu thấp
nhất (đã) là vị Nhập Lưu, không còn pháp bị đọa, được bền vững, và hướng
đến sự giác ngộ.
[9] Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng:
- Này Ānanda, điều này đã trở thành thông lệ của
các đấng Như Lai là khi các vị cư trú mùa mưa do những ai đã thỉnh mời
thì các vị không ra đi du hành trong xứ sở khi chưa thông báo cho những
người ấy. Này Ānanda, chúng ta sẽ thông báo cho bà-la-môn Verañja này.
- Bạch ngài, xin vâng. Đại đức Ānanda đã đáp lời
đức Thế Tôn.
Sau đó, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát cùng với
đại đức Ānanda là sa-môn thị giả đi đến tư gia của bà-la-môn Verañja,
sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy,
bà-la-môn Verañja đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức
Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã nói với bà-la-môn
Verañja đang ngồi một bên điều này:
- Này Bà-la-môn, do được ông thỉnh mời chúng tôi đã
trải qua mùa (an cư) mưa. Giờ chúng tôi thông báo ông rằng chúng tôi
muốn ra đi du hành trong xứ sở.
- Bạch ngài Gotama, sự thật là các vị đã được tôi
thỉnh mời và đã trải qua mùa (an cư) mưa. Tuy nhiên, việc cúng dường
chưa được dâng cúng. Và điều ấy không phải là không có vật bố thí cũng
không phải là không có lòng bố thí. Trong trường hợp này, điều ấy làm
sao có thể đạt được khi cuộc sống tại gia có nhiều phận sự và có nhiều
việc cần phải làm? Xin ngài Gotama nhận lời buổi trai phạn của tôi vào
ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.
Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau
đó, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn
khởi cho bà-la-môn Verañja bằng bài Pháp thoại, rồi đã từ chỗ ngồi đứng
dậy, và ra đi.
Sau đó, khi trải qua đêm ấy bà-la-môn Verañja đã
cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm tại tư gia
của mình rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn rằng:
- Bạch ngài Gotama, đã đến giờ. Thức ăn đã chuẩn bị
xong.
Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y cầm y
bát đi đến tư gia của bà-la-môn Verañja, sau khi đến đã ngồi xuống trên
chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu. Sau đó, bà-la-môn
Verañja đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng tỳ khưu có đức Phật
đứng đầu với thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn
đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, bà-la-môn Verañja đã
choàng lên đức Thế Tôn với ba y và choàng lên mỗi một vị tỳ khưu với một
xấp vải đôi. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và
tạo niềm phấn khởi cho bà-la-môn Verañja bằng bài Pháp thoại, rồi đã từ
chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.
Sau đó, khi đã ngụ tại Verañjā theo như ý thích,
đức Thế Tôn đã đi dọc theo Soreyya, Saṅkassa, Kaṇṇakujja, và đến được
bến đò Payāga.[16]
Sau khi đến nơi, ngài đã vượt qua sông Gaṅgā tại bến đò Payāga và ngự
đến thành Bārāṇasī (Ba-la-nại). Sau đó, khi đã ngụ tại thành Bārāṇasī
theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến thành Vesālī (Vệ Xá).
Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Vesālī. Tại nơi ấy,
trong thành Vesālī, đức Thế Tôn đã ngụ tại Mahāvana (Đại Lâm), nơi giảng
đường Kūṭāgāra.
Dứt
tụng phẩm Verañja.
*******
[1]
Theo ngài Buddhaghosa giải thích ở Samantapāsādikā (Chú Giải
Tạng Luật), Verañjā là tên của một thành phố, Pucimanda là cây
Nimba (Từ điển Pāli-English của Pali Text Society cho biết
đó là một loại cây có lá đắng và gỗ cứng), Naḷeru là tên của một
dạ-xoa, và đức Thế Tôn ngự ở khu vực lân cận của cây ấy.
[2]
Theo ngài Buddhaghosa, ông bà-la-môn nói “arasarūpo” để
chỉ trích đức Phật sống không thuận theo tập quán là người trẻ nên
cung kính, hoặc đứng dậy, hoặc mời chỗ ngồi đối với các vị già cả, uy
tín, v.v... Còn đức Thế Tôn cũng dùng nhóm từ “arasarūpo” nhưng
đề cập đến năm đối tượng thích ý là sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị
ngon, xúc lạc được tầm cầu bởi năm giác quan là mắt, tai, mũi, lưỡi,
và thân. Ở các phần kế tiếp, khi chỉ trích đức Phật “không biết
thưởng thức,” “thuyết về không hành động,” “có sự ghê
tởm,” “là người từ bỏ,” là người thiêu đốt,” vị
bà-la-môn cũng ám chỉ việc đức Phật không cung kính, hoặc không đứng
dậy, hoặc không mời chỗ ngồi đến các vị già cả, uy tín, v.v...
[3]
Theo ngài Buddhaghosa, vị bà-la-môn chỉ trích rằng đức Phật thuyết về
đoạn kiến (ucchedavāda) chủ trương sau đời này không có đời khác.
[4]
Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Có nhiều xương trắng nằm rải rác
vì có quá nhiều người chết đói hoặc là tên của một loại bệnh mốc trắng
ở cây lúa;” chúng tôi tạm dịch thoát như trên.
[5]
Theo ngài Buddhaghosa, lúa mạch này đã được tách vỏ trấu và hấp chín.
Các người buôn ngựa đem theo lúa mạch để cho ngựa ăn ở những vùng
không kiếm ra cỏ và họ đã xén phần ăn sáng của ngựa để dâng cho các vị
tỳ khưu. Ngài Mahāsamaṇa Chao giải thích ở tác phẩm Vinayamukha
thì 1 pattha có dung tích bằng hai bàn tay bụm lại.
[6]
Pappoṭakojam = chất sanh ra từ cây nấm (?).
[7]
Xin xem Diệu Pháp Yếu Lược (Saddhammasaṅgaha) để có lời giải
thích chi tiết về chín thể loại này.
[8]
Suy tầm về ly dục, suy tầm về vô sân, và suy tầm vô hại (Theo lời
giảng giải của ngài Buddhaghosa).
[9]
Chớ suy tầm về ngũ dục, chớ suy tầm về sân hận, chớ suy tầm về hãm hại
(Theo lời giảng giải của ngài Buddhaghosa).
[10]
Tác ý đến vô thường, tác ý đến khổ não, tác ý đến vô ngã, tác ý đến
bất tịnh (Theo lời giảng giải của ngài Buddhaghosa).
[11]
Chớ tác ý đến bốn điều đối nghịch trên là: thường, lạc, ngã, tịnh
(Theo lời giảng giải của ngài Buddhaghosa).
[12]
Hãy từ bỏ bất thiện pháp (Theo lời giảng giải của ngài Buddhaghosa).
[13]
Hãy thành tựu và an trú vào thiện pháp (Theo lời giảng giải của ngài
Buddhaghosa).
[14]
Phần “sự lớn mạnh về việc học nhiều” này không có ở đĩa CD
Budsir IV của Thái Lan. Chúng tôi thêm vào theo bản dịch tiếng Anh
của học giả I. B. Horner.
[15]
Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, và Tri kiến về sự giải thoát (Theo lời
giảng giải của ngài Buddhaghosa).
[16]
Payāga là một thị trấn ở bên bờ sông Gaṅgā, nay là thành phố Allahabad
(Chú thích của người dịch).
-ooOoo-