[01]
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa!
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
BHIKKHUNIPĀTIMOKKHA
(GIỚI BỔN PĀTIMOKKHA CỦA TỲ KHƯU NI)
*****
I. PUBBAKARAṆAṂ
(CÔNG VIỆC CHUẨN BỊ)
Sammajjanī padīpo ca
- udakaṃ āsanena ca, uposathassa etāni -
pubbakaraṇanti vuccati.
Việc quét tước, thắp sáng
đèn, nước (uống nước rửa), và chỗ ngồi, các việc này gọi là công việc
chuẩn bị cho lễ Uposatha (Bố Tát).
Chandapārisuddhi
utukkhānaṃ - bhikkhunigaṇanā ca ovādo, uposathassa
etāni - pubbakiccanti vuccati.
(Việc bày tỏ) sự tùy thuận và
sự trong sạch, việc tính mùa tiết, việc đếm số tỳ khưu ni (hiện diện),
và (việc thỉnh cầu) sự giáo giới, các việc này gọi là phận sự trước tiên
của lễ Uposatha (Bố Tát).
Uposatho yāvatikā ca
bhikkhunī kammappattā, sabhāgāpattiyo ca na
vijjanti, vajjanīyā ca puggalā tasmiṃ na
honti, pattakallanti vuccati.
(Hôm nay) là ngày lễ
Uposatha, các vị tỳ khưu ni với số lượng cần thiết đã có đủ, (trường
hợp) các vị ni vi phạm tội giống nhau không xảy ra, ở đây không có những
nhân vật cần phải tách ly, như thế gọi là “thời điểm thích hợp.”
Pubbakaraṇapubbakiccāni
samāpetvā desitāpattikassa samaggassa
bhikkhunisaṅghassa anumatiyā pātimokkhaṃ uddisituṃ
ārādhanaṃ karomi.
Các công việc chuẩn bị và các
phận sự trước tiên đã được hoàn tất, hội chúng tỳ khưu ni đã sám hối tội
lỗi và có sự hợp nhất, với sự đồng ý của hội chúng tỳ khưu ni tôi xin
thỉnh đọc tụng giới bổn Pātimokkha.
--ooOoo--
II. NIDĀNUDDESO
(PHẦN ĐỌC TỤNG MỞ ĐẦU)
[1]
Suṇātu me ayye
saṅgho ajjuposatho pannaraso. Yadi saṅghassa
pattakallaṃ saṅgho uposathaṃ kareyya,
pātimokkhaṃ uddiseyya. Kiṃ saṅghassa
pubbakiccaṃ? Pārisuddhiṃ ayyāyo ārocetha,
pātimokkhaṃ uddisissāmi. Taṃ sabbāva santā
sādhukaṃ suṇoma manasi karoma. Yassā siyā
āpatti sā āvikareyya, asantiyā āpattiyā
tuṇhī bhavitabbaṃ tuṇhībhāvena kho panāyyāyo
parisuddhāti vedissāmi. Yathā kho pana
paccekapuṭṭhāya veyyākaraṇaṃ hoti, evamevaṃ
evarūpāya parisāya yāvatatiyaṃ anusāvitaṃ hoti.
Yā pana bhikkhunī yāvatatiyaṃ anusāviyamāne
saramānā santiṃ āpattiṃ nāvikareyya,
sampajānamusāvādassā hoti. Sampajānamusāvādo kho
panāyyāyo antarāyiko dhammo vutto bhagavatā
tasmā saramānāya bhikkhuniyā āpannāya
visuddhāpekkhāya santī āpatti āvikātabbā,
āvikatā hissā phāsu hoti.
Bạch chư đại đức ni, xin hội
chúng hãy lắng nghe tôi. Hôm nay ngày mười lăm là ngày lễ Uposatha (Bố
Tát). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên tiến hành
lễ Uposatha, nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Phận sự trước tiên của
hội chúng là gì? Các đại đức ni hãy tuyên bố sự trong sạch rồi tôi sẽ
đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Hết thảy tất cả các vị hiện diện (chúng
ta) hãy nghiêm chỉnh lắng nghe và hãy chú tâm đến điều ấy. Nếu vị ni nào
có phạm tội, vị ni ấy nên bày tỏ; vị ni không có phạm tội thì nên im
lặng. Do thái độ im lặng, tôi sẽ nhận biết về các đại đức ni rằng: “(Các
ni sư) được trong sạch.” Giống như đối với mỗi lần được hỏi đến thì có
câu trả lời; tương tợ như thế, trong hội chúng như thế này (câu hỏi)
được thông báo đến lần thứ ba. Trong khi đang được thông báo đến lần thứ
ba, vị tỳ khưu ni nào nhớ ra mà không bày tỏ tội đang có thì vị ni ấy cố
tình nói dối. Bạch chư đại đức ni, việc cố tình nói dối là pháp chướng
ngại đã được đức Thế Tôn đề cập đến; do đó, vị tỳ khưu ni bị phạm tội mà
nhớ ra và có ý muốn được trong sạch thì nên bày tỏ ra tội đang có. Bởi
vì khi (tội) đã được bày tỏ thì vị ni ấy sẽ được thoải mái.
Uddiṭṭhaṃ kho ayyāyo
nidānaṃ. Tatthāyyāyo pucchāmi kaccittha
parisuddhā, dutiyampi pucchāmi kaccittha
parisuddhā, tatiyampi pucchāmi kaccittha
parisuddhā. Parisuddhetthāyyāyo tasmā tuṇhī
evametaṃ dhārayāmīti.
Bạch chư đại đức ni, phần mở
đầu đã được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi chư đại đức ni
rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Đến lần thứ nhì,
tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Đến lần
thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề
này?Các đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc
này là như vậy.
Nidānuddeso niṭṭhito.
(Phần đọc tụng mở đầu được chấm dứt).
--ooOoo--
III.
PĀRĀJIKUDDESO
(PHẦN ĐỌC TỤNG VỀ GIỚI PĀRĀJIKA)
Tatrime aṭṭha - pārājikā
dhammā uddesaṃ āgacchanti.
Ở đây, tám điều pārājikā (bất
cộng trụ) được đưa ra đọc tụng.
1. Yā pana
bhikkhunī chandaso methunaṃ dhammaṃ paṭiseveyya
antamaso tiracchānagatenapi pārājikā hoti
asaṃvāsā.
1. Vị tỳ khưu ni nào
thuận tình thực hiện việc đôi lứa ngay cả với loài thú đực là vị phạm
tội pārājika, không được cộng trú. (bct.1, tk.)[2]
2. Yā pana
bhikkhunī gāmā vā araññā vā adinnaṃ
theyyasaṅkhātaṃ ādiyeyya, yathārūpe adinnādāne
rājāno coraṃ gahetvā haneyyuṃ vā
bandheyyuṃ vā pabbājeyyuṃ vā, corāsi
bālāsi mūḷhāsi thenāsīti, tathārūpaṃ bhikkhunī
adinnaṃ ādiyamānā ayampi pārājikā hoti
asaṃvāsā.
2. Vị tỳ khưu ni nào
lấy vật không được cho từ làng hoặc từ rừng theo lối trộm cướp; tương tợ
như trong vụ đánh cắp, các vị vua sau khi bắt được nữ đạo tặc thì có thể
hành hạ, hoặc có thể giam giữ, hoặc có thể trục xuất (phán rằng): “Cô là
kẻ trộm, cô là kẻ ngu, cô là kẻ khờ, cô là kẻ cướp;” tương tợ như thế,
vị tỳ khưu ni khi lấy vật không được cho, vị ni này cũng là vị phạm tội
pārājika, không được cộng trú. (bct.2, tk.)
3. Yā pana
bhikkhunī sañcicca manussaviggahaṃ jīvitā
voropeyya satthahārakaṃ vāssa pariyeseyya
maraṇavaṇṇaṃ vā saṃvaṇṇeyya maraṇāya vā
samādapeyya, ambho purisa kiṃ tuyhiminā
pāpakena dujjīvitena mataṃ te jīvitā
seyyoti iti cittamanā cittasaṅkappā
anekapariyāyena maraṇavaṇṇaṃ vā saṃvaṇṇeyya
maraṇāya vā samādapeyya, ayampi pārājikā
hoti asaṃvāsā.
3. Vị tỳ khưu ni nào cố
ý đoạt lấy mạng sống con người, hoặc tìm cách đem lại vũ khí cho người
ấy, hoặc ca ngợi lợi ích của sự chết, hoặc xúi giục đưa đến sự chết:
“Này người ơi, còn gì cho ngươi với mạng sống tội lỗi xấu xa này, sự
chết đối với ngươi còn tốt hơn sự sống!” Vị ni có tâm ý và có tâm tư như
thế rồi bằng nhiều phương thức ca ngợi lợi ích của sự chết hoặc xúi giục
đưa đến sự chết, vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng
trú. (bct.3, tk.)
4. Yā pana
bhikkhunī anabhijānaṃ uttarimanussadhammaṃ
attūpanāyikaṃ alamariyañāṇadassanaṃ samudācareyya iti
jānāmi iti passāmīti, tato aparena
samayena samanuggāhiyamānā vā asamanuggāhiyamānā
vā āpannā visuddhāpekkhā evaṃ vadeyya,
ajānamevaṃ ayye avacaṃ jānāmi apassaṃ
passāmi tucchaṃ musā vilapinti aññatra
adhimānā, ayampi pārājikā hoti asaṃvāsā.
4. Vị tỳ khưu ni nào
tuyên bố về pháp thượng nhân chưa được thắng tri, là pháp thể nhập của
bản thân, là pháp thuộc về trí tuệ và sự thấy biết của bậc thánh rằng:
“Tôi biết như vầy, tôi thấy như vầy.” Sau đó vào lúc khác, dầu được hỏi
hay không được hỏi, (vị ni ấy) có ước muốn được trong sạch tội đã vi
phạm lại nói như vầy: “Này các đại đức ni, tôi đã không biết như vầy lại
nói biết, đã không thấy lại nói thấy, tôi đã nói điều phù phiếm, điều
dối trá,” ngoại trừ vì sự tự tin thái quá; vị ni này cũng là vị phạm tội
pārājika, không được cộng trú. (bct.4, tk.)
5. Yā pana
bhikkhunī avassutā avassutassa purisapuggalassa
adhakkhakaṃ ubbhajānumaṇḍalaṃ āmasanaṃ vā
parāmasanaṃ vā gahaṇaṃ vā chupanaṃ vā
paṭipīḷanaṃ vā sādiyeyya, ayampi pārājikā
hoti asaṃvāsā ubbhajānumaṇḍalikā.
5. Vị tỳ khưu ni nào
nhiễm dục vọng ưng thuận sự sờ vào hoặc sự vuốt ve hoặc sự nắm lấy hoặc
sự chạm vào hoặc sự ôm chặt từ xương đòn (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở
lên của người nam nhiễm dục vọng, vị ni này cũng là vị phạm tội
pārājika, không được cộng trú, là người nữ sờ phần trên đầu gối. (bct.1,
tkni.)[3]
6. Yā pana
bhikkhunī jānaṃ pārājikaṃ dhammaṃ ajjhāpannaṃ
bhikkhuniṃ nevattanā paṭicodeyya na gaṇassa
āroceyya yadā ca sā ṭhitā vā assa
cutā vā nāsitā vā avassatā vā, sā
pacchā evaṃ vadeyya pubbevāhaṃ ayye
aññāsiṃ etaṃ bhikkhuniṃ evarūpā ca evarūpā
ca sā bhaginīti no ca kho attanā
paṭicodessaṃ na gaṇassa ārocessanti, ayampi
pārājikā hoti asaṃ vāsā vajjappaṭicchādikā.
6. Vị tỳ khưu ni nào
dầu biết vị tỳ khưu ni đã vi phạm tội pārājika vẫn không tự chính mình
khiển trách cũng không thông báo cho nhóm khi vị ni kia hãy còn tồn tại,
hoặc bị chết đi, hoặc bị trục xuất, hoặc bỏ đi. Sau này, vị ni ấy nói
như vầy: “Này các ni sư, chính trước đây tôi đã biết rõ tỳ khưu ni kia
rằng: ‘Sư tỷ ấy là như thế và như thế’ mà tôi không tự chính mình khiển
trách cũng không thông báo cho nhóm;” vị ni này cũng là vị phạm tội
pārājika, không được cộng trú, là người nữ che giấu tội. (bct.2, tkni.)
7. Yā pana
bhikkhunī samaggena saṅghena ukkhittaṃ bhikkhuṃ
dhammena vinayena satthusāsanena anādaraṃ
appaṭikāraṃ akatasahāyaṃ tamanuvatteyya, sā
bhikkhunī bhikkhunīhi evamassa vacanīyā eso
kho ayye bhikkhu samaggena saṅghena
ukkhitto dhammena vinayena satthusāsanena anādaro
appaṭikāro akatasahāyo māyye etaṃ bhikkhuṃ
anuvattīti, evañca sā bhikkhunī bhikkhunīhi
vuccamānā tatheva paggaṇheyya sā bhikkhunī
bhikkhunīhi yāvatatiyaṃ samanubhāsitabbā tassa
paṭinissaggāya yāvatatiyaṃ ce samanubhāsiyamānā
taṃ paṭinissajjeyya iccetaṃ kusalaṃ no ce
paṭinissajjeyya, ayampi pārājikā hoti asaṃvāsā
ukkhittānuvattikā.
7. Vị tỳ khưu ni nào xu
hướng theo vị tỳ khưu đã bị hội chúng hợp nhất phạt án treo là vị (tỳ
khưu) không tôn trọng, không hối cải, không thể hiện tình đồng đạo theo
Pháp, theo Luật, theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Vị tỳ khưu ni ấy nên
được nói bởi các tỳ khưu ni như sau: “Này ni sư, vị tỳ khưu ấy đã bị hội
chúng hợp nhất phạt án treo là vị (tỳ khưu) không tôn trọng, không hối
cải, không thể hiện tình đồng đạo theo Pháp, theo Luật, theo lời giáo
huấn của bậc Đạo Sư. Này ni sư, chớ có xu hướng theo vị tỳ khưu ấy.” Và
khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu ni mà vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ
y như thế, thì vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở đến lần
thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc
ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ, vị ni này cũng là vị
phạm tội pārājika, không được cộng trú, là người nữ xu hướng theo kẻ bị
phạt án treo. (bct.3, tkni.)
8. Yā pana
bhikkhunī avassutā avassutassa purisapuggalassa
hatthaggahaṇaṃ vā sādiyeyya saṅghāṭikaṇṇaggahaṇaṃ
vā sādiyeyya santiṭṭheyya vā sallapeyya vā
saṅketaṃ vā gaccheyya purisassa vā
abbhāgamanaṃ sādiyeyya channaṃ vā anupaviseyya
kāyaṃ vā tadatthāya upasaṃhareyya etassa
asaddhammassa paṭisevanatthāya, ayampi pārājikā
hoti asaṃvāsā aṭṭhavatthukā.
8. Vị tỳ khưu ni nào
nhiễm dục vọng thích thú sự nắm lấy cánh tay của người nam nhiễm dục
vọng, hoặc thích thú sự nắm lấy chéo áo choàng (của người nam), hoặc
đứng chung, hoặc trò chuyện, hoặc đi đến nơi hẹn hò, hoặc thích thú sự
viếng thăm của người nam, hoặc đi vào nơi che khuất, hoặc kề sát cơ thể
nhằm mục đích ấy là nhằm mục đích của việc thực hiện điều không tốt đẹp
ấy, vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú, là
người nữ liên quan tám sự việc. (bct.4, tkni.)
Uddiṭṭhā kho ayyāyo
aṭṭha pārājikā dhammā. Yesaṃ bhikkhunī
aññataraṃ vā aññataraṃ vā āpajjitvā na
labhati bhikkhunīhi saddhiṃ saṃvāsaṃ yathā
pure tathā pacchā pārājikā hoti asaṃvāsā.
Tatthāyyāyo pucchāmi kaccittha parisuddhā,
dutiyampi pucchāmi kaccittha parisuddhā,
tatiyampi pucchāmi kaccittha parisuddhā.
Parisuddhetthāyyāyo tasmā tuṇhī evametaṃ
dhārayāmīti.
Bạch chư đại đức ni, tám điều
pārājika đã được đọc tụng xong. Vị tỳ khưu ni vi phạm điều nọ hoặc điều
kia thuộc về các điều này thì không có được sự cộng trú cùng với các tỳ
khưu ni, trước đây như thế nào thì sau này là như vậy; (vị ni ấy) là vị
ni phạm tội pārājika không được cộng trú. Trong các điều ấy, tôi hỏi các
đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Đến
lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề
này?Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong
vấn đề này?Các đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận
sự việc này là như vậy.
Pārājikuddeso niṭṭhito.
(Phần Đọc Tụng Giới Pārājika được chấm dứt).
--ooOoo--
IV.
SAṄGHĀDISESUDDESO
(PHẦN ĐỌC TỤNG VỀ GIỚI SAṄGHĀDISESA)
Ime kho panāyyāyo
sattarasa saṅghādisesā dhammā uddesaṃ
āgacchanti.
Bạch chư đại đức ni, mười bảy
điều saṅghādisesa (tăng tàng) này được đưa ra đọc tụng.
1. Yā pana
bhikkhunī ussayavādikā vihareyya gahapatinā vā
gahapatiputtena vā dāsena vā kammakārena
vā antamaso samaṇaparibbājakenāpi, ayampi
bhikkhunī paṭhamāpattikaṃ dhammaṃ āpannā
nissāraṇīyaṃ saṅghādisesaṃ.
1. Vị tỳ khưu ni nào
sống làm người thưa kiện với nam gia chủ, hoặc với con trai của nam gia
chủ, hoặc với người nô tỳ, hoặc với người làm công, hoặc ngay cả với
sa-môn du sĩ, vị tỳ khưu ni này phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) ngay
lúc vừa mới vi phạm, cần được tách riêng. (ttg.1, tkni.)[4]
2. Yā pana
bhikkhunī jānaṃ coriṃ vajjhaṃ viditaṃ
anapaloketvā rājānaṃ vā saṅghaṃ vā gaṇaṃ
vā pūgaṃ vā seṇiṃ vā aññatra kappā
vuṭṭhāpeyya, ayampi bhikkhunī paṭhamāpattikaṃ
dhammaṃ āpannā nissāraṇīyaṃ saṅghādisesaṃ.
2. Vị tỳ khưu ni nào
biết được nữ đạo tặc có tội tử hình được loan báo mà vẫn nhận vào cho tu
khi chưa xin phép đức vua, hoặc hội chúng, hoặc nhóm, hoặc phường hội,
hoặc phường thợ, ngoại trừ có sự được phép; vị tỳ khưu ni này cũng phạm
tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được
tách riêng. (ttg.2, tkni.)
3. Yā pana
bhikkhunī ekā vā gāmantaraṃ gaccheyya, ekā
vā nadīpāraṃ gaccheyya, ekā vā rattiṃ
vippavaseyya, ekā vā gaṇamhā ohiyeyya,
ayampi bhikkhunī paṭhamāpattikaṃ dhammaṃ āpannā
nissāraṇīyaṃ saṅghādisesaṃ.
3. Vị tỳ khưu ni nào đi
vào trong làng một mình, hoặc đi sang bờ bên kia sông một mình, hoặc ban
đêm trú ngụ riêng một mình, hoặc một mình tách rời ra khỏi nhóm; vị tỳ
khưu ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa
(tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.3, tkni.)
4. Yā pana
bhikkhunī samaggena saṅghena ukkhittaṃ
bhikkhuniṃ dhammena vinayena satthusāsanena
anapaloketvā kārakasaṅghaṃ anaññāya gaṇassa
chandaṃ osāreyya, ayampi bhikkhunī
paṭhamāpattikaṃ dhammaṃ āpannā nissāraṇīyaṃ
saṅghādisesaṃ.
4. Vị tỳ khưu ni nào
khi chưa xin phép hội chúng thực hiện hành sự và không quan tâm đến ước
muốn của nhóm lại phục hồi cho vị tỳ khưu ni đã bị hội chúng hợp nhất
phạt án treo theo Pháp theo Luật theo lời dạy của bậc Đạo Sư; vị tỳ khưu
ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng
tàng) cần được tách riêng. (ttg.4, tkni.)
5. Yā pana
bhikkhunī avassutā avassutassa purisapuggalassa
hatthato khādanīyaṃ vā bhojanīyaṃ vā
sahatthā paṭiggahetvā khādeyya vā bhuñjeyya
vā, ayampi bhikkhunī paṭhamāpattikaṃ dhammaṃ
āpannā nissāraṇīyaṃ saṅghādisesaṃ.
5. Vị tỳ khưu ni nào
nhiễm dục vọng tự tay thọ nhận vật thực loại cứng hoặc loại mềm từ tay
của người nam nhiễm dục vọng rồi nhai hoặc ăn; vị tỳ khưu ni này cũng
phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần
được tách riêng. (ttg.5, tkni.)
6. Yā pana
bhikkhunī evaṃ vadeyya kiṃ te ayye
eso purisapuggalo karissati avassuto vā
anavassuto vā yato tvaṃ anavassutā iṅgha
ayye yaṃ te eso purisapuggalo deti
khādanīyaṃ vā bhojanīyaṃ vā taṃ tvaṃ
sahatthā paṭiggahetvā khāda vā bhuñja
vāti, ayampi bhikkhunī paṭhamāpattikaṃ dhammaṃ
āpannā nissāraṇīyaṃ saṅghādisesaṃ.
6. Vị tỳ khưu ni nào
nói như vầy: “Này ni sư, cá nhân người đàn ông ấy nhiễm dục vọng hay
không nhiễm dục vọng thì sẽ làm gì ni sư khi ni sư không nhiễm dục vọng?
Này ni sư, cá nhân người đàn ông ấy dâng vật thực loại cứng hoặc loại
mềm nào đến ni sư, ni sư cứ tự tay thọ nhận vật ấy rồi nhai hoặc ăn đi;”
vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội
saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.6, tkni.)
7. Yā pana
bhikkhunī sañcarittaṃ samāpajjeyya itthiyā vā
purisamatiṃ purisassa vā itthimatiṃ jāyattane
vā jārattane vā antamaso taṅkhaṇikāyapi,
ayampi bhikkhunī paṭhamāpattikaṃ dhammaṃ āpannā
nissāraṇīyaṃ saṅghādisesaṃ.
7. Vị tỳ khưu ni nào
tiến hành việc mai mối ý định của người nam đến người nữ, hoặc là ý định
của người nữ đến người nam trong việc trở thành vợ chồng, hoặc trong
việc trở thành nhân tình, thậm chí chỉ là cuộc tình trong chốt lát, vị
tỳ khưu ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội
saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.5, tk.)
8. Yā pana
bhikkhunī bhikkhuniṃ duṭṭhā dosā appatītā
amūlakena pārājikena dhammena anuddhaṃseyya
appeva nāma naṃ imamhā brahmacariyā
cāveyyanti, tato aparena samayena
samanuggāhiyamānā vā asa manuggāhiyamānā vā
amūlakañceva taṃ adhikaraṇaṃ hoti bhikkhunī
ca dosaṃ patiṭṭhāti, ayampi bhikkhunī
paṭhamāpattikaṃ dhammaṃ āpannā nissāraṇīyaṃ
saṅghādisesaṃ.
8. Vị tỳ khưu ni nào
xấu xa, sân hận, bất bình vị tỳ khưu ni (khác) rồi bôi nhọ về tội
pārājika không có nguyên cớ (nghĩ rằng): “Chắc là ta có thể loại cô ấy
ra khỏi Phạm hạnh này.” Sau đó vào lúc khác, dầu được hỏi hay không được
hỏi và sự tranh tụng ấy thật sự không có nguyên cớ, và vị tỳ khưu ni
(dầu có) thú nhận lỗi lầm, vị ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi
phạm, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.8, tk.)
9. Yā pana
bhikkhunī bhikkhuniṃ duṭṭhā dosā appatītā
aññabhāgiyassa adhikaraṇassa kiñcidesaṃ lesamattaṃ
upādāya pārājikena dhammena anuddhaṃseyya appeva
nāma naṃ imamhā brahmacariyā cāveyyanti,
tato aparena samayena samanuggāhiyamānā vā
asamanuggāhiyamānā vā aññabhāgiyañceva taṃ
adhikaraṇaṃ hoti, kocideso lesamatto upādinno
bhikkhunī ca dosaṃ patiṭṭhāti, ayampi
bhikkhunī paṭhamāpattikaṃ dhammaṃ āpannā
nissāraṇīyaṃ saṅghādisesaṃ.
9. Vị tỳ khưu ni nào
xấu xa, sân hận, bất bình vị tỳ khưu ni (khác) rồi nắm lấy sự kiện nhỏ
nhặt nào đó thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt và bôi nhọ về
tội pārājika (nghĩ rằng): “Chắc là ta có thể loại cô ấy ra khỏi Phạm
hạnh này.” Sau đó vào lúc khác, dầu được hỏi hay không được hỏi, và cuộc
tranh tụng ấy là có quan hệ khác biệt hẳn, sự kiện nhỏ nhặt nào đó đã
được nắm lấy, và vị tỳ khưu ni (dầu có) thú nhận lỗi lầm; vị ni này cũng
phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần
được tách riêng. (ttg.9, tk.)
10. Yā pana
bhikkhunī kupitā anattamanā evaṃ vadeyya
buddhaṃ paccācikkhāmi dhammaṃ paccācikkhāmi
saṅghaṃ paccācikkhāmi sikkhaṃ paccācikkhāmi
kinnumāva samaṇiyo yā samaṇiyo sakyadhītaro
santaññāpi samaṇiyo lajjiniyo kukkuccikā
sikkhākāmā tāsāhaṃ santike brahmacariyaṃ
carissāmīti. Sā bhikkhunī bhikkhunīhi evamassa
vacanīyā māyye kupitā anattamanā evaṃ
avaca buddhaṃ paccācikkhāmi dhammaṃ
paccācikkhāmi saṅghaṃ paccācikkhāmi sikkhaṃ
paccācikkhāmi kinnumāva samaṇiyo yā samaṇiyo
sakyadhītaro santaññāpi samaṇiyo lajjiniyo
kukkuccikā sikkhākāmā tāsāhaṃ santike
brahmacariyaṃ carissāmīti abhiramāyye svākkhāto
dhammo cara brahmacariyaṃ sammā dukkhassa
antakiriyāyāti. Evañca sā bhikkhunī bhikkhunīhi
vuccamānā tatheva paggaṇheyya sā bhikkhunī
bhikkhunīhi yāvatatiyaṃ samanubhāsitabbā tassa
paṭinissaggāya, yāvatatiyañce samanubhāsiyamānā taṃ
paṭinissajjeyya iccetaṃ kusalaṃ no ce
paṭinissajjeyya, ayampi bhikkhunī yāvatatiyakaṃ
dhammaṃ āpannā nissāraṇīyaṃ saṅghādisesaṃ.
10. Vị tỳ khưu ni nào
nổi giận, bất bình rồi nói như vầy: “Tôi lìa bỏ đức Phật, tôi lìa bỏ đức
Pháp, tôi lìa bỏ hội chúng, tôi lìa bỏ sự học tập. Các nữ sa-môn Thích
nữ này là các nữ sa-môn hạng gì? Cũng có những nữ sa-môn khác thanh
tịnh, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, tôi sẽ thực hành Phạm
hạnh trong sự hiện diện của các nữ sa-môn ấy.” Vị tỳ khưu ni ấy nên được
nói bởi các tỳ khưu ni như sau: “Này ni sư, khi nổi giận, bất bình chớ
nói như vầy: ‘Tôi lìa bỏ đức Phật, tôi lìa bỏ đức Pháp, tôi lìa bỏ hội
chúng, tôi lìa bỏ sự học tập. Các nữ sa-môn Thích nữ này là các nữ
sa-môn hạng gì? Cũng có những nữ sa-môn khác thanh tịnh, khiêm tốn, có
hối hận, ưa thích sự học tập, tôi sẽ thực hành Phạm hạnh trong sự hiện
diện của các nữ sa-môn ấy.’ Này ni sư, hãy hoan hỷ, Pháp đã được khéo
thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ
đau.” Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu ni mà vị tỳ khưu ni ấy vẫn
chấp giữ y như thế, vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc nhở
đến lần thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt
bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ, vị tỳ khưu ni
này cũng phạm tội (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là tội
saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.7, tkni.)
11. Yā pana
bhikkhunī kismiñcideva adhikaraṇe paccākatā
kupitā anattamanā evaṃ vadeyya chandagāminiyo
ca bhikkhuniyo dosagāminiyo ca bhikkhuniyo
mohagāminiyo ca bhikkhuniyo bhayagāminiyo ca
bhikkhuniyoti, sā bhikkhunī bhikkhunīhi evamassa
vacanīyā māyye kismiñcideva adhikaraṇe paccākatā
kupitā anattamanā evaṃ avaca chandagāminiyo ca
bhikkhuniyo dosagāminiyo ca bhikkhuniyo
mohagāminiyo ca bhikkhuniyo bhayagāminiyo ca
bhikkhuniyoti, ayyā kho chandāpi gaccheyya
dosāpi gaccheyya mohāpi gaccheyya bhayāpi
gaccheyyāti. Evañca sā bhikkhunī bhikkhunīhi
vuccamānā tatheva paggaṇheyya sā bhikkhunī
bhikkhunīhi yāvatatiyaṃ samanubhāsitabbā tassa
paṭinissaggāya, yāvatatiyañce samanubhāsiyamānā taṃ
paṭinissajjeyya iccetaṃ kusalaṃ no ce
paṭinissajjeyya, ayampi bhikkhunī yāvatatiyakaṃ
dhammaṃ āpannā nissāraṇīyaṃ saṅghādisesaṃ.
11. Vị tỳ khưu ni nào
bị xử thua trong cuộc tranh tụng nào đó nên nổi giận, bất bình rồi nói
như vầy: “Các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì thương, các tỳ khưu ni có sự
thiên vị vì ghét, các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì si mê, các tỳ khưu ni
có sự thiên vị vì sợ hãi.” Vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu
ni như sau: “Này ni sư, khi bị xử thua trong cuộc tranh tụng nào đó rồi
nổi giận, bất bình chớ nên nói như vầy: ‘Các tỳ khưu ni có sự thiên vị
vì thương, các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì ghét, các tỳ khưu ni có sự
thiên vị vì si mê, các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì sợ hãi.’ Chính ni sư
mới thiên vị vì thương, mới thiên vị vì ghét, mới thiên vị vì si mê, mới
thiên vị vì sợ hãi.” Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu ni mà vị tỳ
khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu
ni nhắc nhở đến lần thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần
thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ,
vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là
tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.8, tkni.)
12. Bhikkhuniyo
paneva saṃsaṭṭhā viharanti pāpācārā pāpasaddā
pāpasilokā bhikkhunisaṅghassa vihesikā aññamaññissā
vajjappaṭicchādikā, tā bhikkhuniyo bhikkhunīhi
evamassu vacanīyā bhaginiyo kho saṃsaṭṭhā
viharanti pāpācārā pāpasaddā pāpasilokā
bhikkhunisaṅghassa vihesikā aññamaññissā
vajjappaṭicchādikā viviccathāyye vivekaññeva
bhaginīnaṃ saṅgho vaṇṇetīti. Evañca tā
bhikkhuniyo bhikkhunīhi vuccamānā tatheva
paggaṇheyyuṃ, tā bhikkhuniyo bhikkhunīhi
yāvatatiyaṃ samanubhāsitabbā tassa paṭinissaggāya,
yāvatatiyañce samanubhāsiyamānā taṃ paṭinissajjeyyuṃ
iccetaṃ kusalaṃ no ce paṭinissajjeyyuṃ,
imāpi bhikkhuniyo yāvatatiyakaṃ dhammaṃ āpannā
nissāraṇīyaṃ saṅghādisesaṃ.
12. Hơn nữa, các tỳ
khưu ni sống thân cận (với thế tục), có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng đồn
xấu xa, có sự nuôi mạng xấu xa, là những người gây khó khăn cho hội
chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau. Các tỳ khưu
ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như sau: “Các sư tỷ sống thân cận
(với thế tục), có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng đồn xấu xa, có sự nuôi mạng
xấu xa, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là
những người che giấu tội lẫn nhau. Này các ni sư, hãy tự tách rời ra.
Hội chúng khen ngợi sự tách rời của các sư tỷ.” Và khi được nói như vậy
bởi các tỳ khưu ni mà các tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, các tỳ
khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc nhở đến lần thứ ba để từ bỏ việc
ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này
là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ các vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội (khi
được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được
tách riêng. (ttg.9, tkni.)
13. Yā pana
bhikkhunī evaṃ vadeyya saṃsaṭṭhāva ayye
tumhe viharatha mā tumhe nānā viharittha
santi saṅghe aññāpi bhikkhuniyo evācārā
evaṃsaddā evaṃsilokā bhikkhunisaṅghassa vihesikā
aññamaññissā vajjappaṭicchādikā tā saṅgho na
kiñci āha tumhaññeva saṅgho uññāya
paribhavena akkhantiyā vebhassiyā dubbalyā
evamāha bhaginiyo kho saṃsaṭṭhā viharanti
pāpācārā pāpasaddā pāpasilokā bhikkhunisaṅghassa
vihesikā aññamaññissā vajjappaṭicchādikā viviccathāyye
vivekaññeva bhaginīnaṃ saṅgho vaṇṇetīti. Sā
bhikkhunī bhikkhunīhi evamassa vacanīyā māyye
evaṃ avaca saṃsaṭṭhāva ayye tumhe
viharatha mā tumhe nānā viharittha santi
saṅghe aññāpi bhikkhuniyo evācārā evaṃsaddā
evaṃsilokā bhikkhunisaṅghassa vihesikā aññamaññissā
vajjappaṭicchādikā tā saṅgho na kiñci āha
tumhaññeva saṅgho uññāya paribhavena akkhantiyā
vebhassiyā dubbalyā evamāha bhaginiyo kho
saṃsaṭṭhā viharanti pāpācārā pāpasaddā
pāpasilokā bhikkhunisaṅghassa vihesikā aññamaññissā
vajjappaṭicchādikā viviccathāyye vivekaññeva
bhaginīnaṃ saṅgho vaṇṇetīti. Evañca sā
bhikkhunī bhikkhunīhi vuccamānā tatheva
paggaṇheyya sā bhikkhunī bhikkhunīhi yāvatatiyaṃ
samanubhāsitabbā tassa paṭinissaggāya, yāvatatiyañce
samanubhāsiyamānā taṃ paṭinissajjeyya iccetaṃ
kusalaṃ no ce paṭinissajjeyya, ayampi
bhikkhunī yāvatatiyakaṃ dhammaṃ āpannā
nissāraṇīyaṃ saṅghādisesaṃ.
13. Vị tỳ khưu ni nào
nói như vầy: “Này các ni sư, các vị hãy sống thân cận, các vị chớ có
sống cách khác. Trong hội chúng cũng có những tỳ khưu ni khác có hạnh
kiểm như vậy, có tiếng đồn như vậy, có sự nuôi mạng như vậy, là những
người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu
tội lẫn nhau; hội chúng đã không nói các cô ấy bất cứ điều gì. Nhưng với
chính các cô, hội chúng đã nói với sự không tôn trọng, với sự xem
thường, không lòng nhẫn nại, theo lối nói tầm phào, có tính chất yếu
nhược như vầy: ‘Các sư tỷ sống thân cận (với thế tục), có hạnh kiểm xấu
xa, có tiếng đồn xấu xa, có sự nuôi mạng xấu xa, là những người gây khó
khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau.
Này các ni sư, hãy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự tách rời của
các sư tỷ.’” Vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như sau:
“Này ni sư, chớ nói như vầy: ‘Này các ni sư, các vị hãy sống thân cận,
các vị chớ có sống cách khác. Trong hội chúng cũng có những tỳ khưu ni
khác có hạnh kiểm như vậy, có tiếng đồn như vậy, có sự nuôi mạng như
vậy, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những
người che giấu tội lẫn nhau; hội chúng đã không nói các cô ấy bất cứ
điều gì. Nhưng với chính các cô, hội chúng đã nói với sự không tôn
trọng, với sự xem thường, không lòng nhẫn nại, theo lối nói tầm phào, có
tính chất yếu nhược như vầy: Các sư tỷ sống thân cận (với thế tục), có
hạnh kiểm xấu xa, có tiếng đồn xấu xa, có sự nuôi mạng xấu xa, là những
người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu
tội lẫn nhau. Này các ni sư, hãy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự
tách rời của các sư tỷ.’” Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu ni mà
vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, vị tỳ khưu ni ấy nên được các
tỳ khưu ni nhắc nhở đến lần thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở
đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không
dứt bỏ vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội (khi được nhắc nhở) đến lần thứ
ba, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.10, tkni.)
14. Yā pana
bhikkhunī samaggassa saṅghassa bhedāya
parakkameyya bhedanasaṃvattanikaṃ vā adhikaraṇaṃ
samādāya paggayha tiṭṭheyya, sā bhikkhunī
bhikkhunīhi evamassa vacanīyā māyyā samaggassa
saṅghassa bhedāya parakkami bhedanasaṃvattanikaṃ
vā adhikaraṇaṃ samādāya paggayha aṭṭhāsi,
sametāyyā saṅghena samaggo hi saṅgho
sammodamāno avivadamāno ekuddeso phāsu
viharatīti. Evañca sā bhikkhunī bhikkhunīhi
vuccamānā tatheva paggaṇheyya, sā bhikkhunī
bhikkhunīhi yāvatatiyaṃ samanubhāsitabbā tassa
paṭinissaggāya, yāvatatiyañce samanubhāsiyamānā taṃ
paṭinissajjeyya iccetaṃ kusalaṃ. No ce
paṭinissajjeyya, ayampi bhikkhunī yāvatatiyakaṃ
dhammaṃ āpannā nissāraṇīyaṃ saṅghādisesaṃ.
14. Vị tỳ khưu ni nào
ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa đến
chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ. Vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi
các tỳ khưu ni như vầy: “Ni sư chớ có ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất,
hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ.
Ni sư hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện,
không cãi cọ, chung một nguyên tắc thì sống được an lạc.” Và khi được
các tỳ khưu ni nói như vậy mà vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế,
thì vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc nhở đến lần thứ ba để
dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như
thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ vị tỳ khưu ni này cũng phạm
tội (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là tội saṅghādisesa (tăng tàng)
cần được tách riêng. (ttg.10, tk.)
15. Tassāyeva kho
pana bhikkhuniyā bhikkhuniyo honti anuvattikā
vaggavādikā ekā vā dve vā tisso vā
tā evaṃ vadeyyuṃ māyyāyo etaṃ bhikkhuniṃ
kiñci avacuttha dhammavādinī cesā bhikkhunī
vinayavādinī cesā bhikkhunī amhākañcesā
bhikkhunī chandañca ruciñca ādāya voharati
jānāti no bhāsati amhākampetaṃ khamatīti.
Tā bhikkhuniyo bhikkhunīhi evamassu vacanīyā
māyyāyo evaṃ avacuttha na cesā bhikkhunī
dhammavādinī na cesā bhikkhunī vinayavādinī
māyyānampi saṅghabhedo ruccittha sametāyyānaṃ
saṅghena samaggo hi saṅgho sammodamāno
avivadamāno ekuddeso phāsu viharatīti. Evañca
tā bhikkhuniyo bhikkhunīhi vuccamānā tatheva
paggaṇheyyuṃ tā bhikkhuniyo bhikkhunīhi
yāvatatiyaṃ samanubhāsitabbā tassa paṭinissaggāya,
yāvatatiyañce samanubhāsiyamānā taṃ paṭinissajjeyyuṃ
iccetaṃ kusalaṃ no ce paṭinissajjeyyuṃ,
imāpi bhikkhuniyo yāvatatiyakaṃ dhammaṃ āpannā
nissāraṇīyaṃ saṅghādisesaṃ.
15. Các tỳ khưu ni là
những kẻ ủng hộ của chính vị tỳ khưu ni ấy tức là những kẻ tuyên bố ly
khai dầu là một vị, hoặc hai vị, hoặc ba vị, và các vị ni ấy nói như
vầy: “Các ni sư chớ có nói bất cứ điều gì về vị tỳ khưu ni này. Vị tỳ
khưu ni này là người nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu ni này là người nói đúng
Luật. Vị tỳ khưu ni này nắm được rồi phát biểu về ước muốn và điều thích
ý của chúng tôi, vị ni ấy hiểu và nói cho chúng tôi; hơn nữa điều ấy hợp
ý chúng tôi.” Các vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như
vầy: “Các ni sư chớ có nói như thế. Vị tỳ khưu ni này không phải là
người nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu ni này không phải là người nói đúng
Luật. Các ni sư chớ có thích ý về việc chia rẽ hội chúng. Các ni sư hãy
hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ,
chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.” Và khi được các tỳ khưu ni
nói như vậy mà các vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì các vị
tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ
việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế
việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội
(khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần
được tách riêng. (ttg.11, tk.)
16. Bhikkhunī paneva
dubbacajātikā hoti uddesapariyāpannesu sikkhāpadesu
bhikkhunīhi sahadhammikaṃ vuccamānā attānaṃ
avacanīyaṃ karoti mā maṃ ayyāyo kiñci
avacuttha kalyāṇaṃ vā pāpakaṃ vā
ahampāyyāyo na kiñci vakkhāmi kalyāṇaṃ vā
pāpakaṃ vā viramathāyyāyo mama vacanāyāti.
Sā bhikkhunī bhikkhunīhi evamassa vacanīyā
māyyā attānaṃ avacanīyaṃ akāsi, vacanīyameva
ayyā attānaṃ karotu, ayyāpi bhikkhuniyo
vadatu sahadhammena bhikkhuniyopi ayyaṃ
vakkhanti sahadhammena, evaṃ saṃvaddhā hi
tassa bhagavato parisā yadidaṃ aññamaññavacanena
aññamaññavuṭṭhāpanenāti. Evañca sā bhikkhunī
bhikkhunīhi vuccamānā tatheva paggaṇheyya sā
bhikkhunī bhikkhunīhi yāvatatiyaṃ samanubhāsitabbā
tassa paṭinissaggāya, yāvatatiyañce samanubhāsiyamānā
taṃ paṭinissajjeyya iccetaṃ kusalaṃ no ce
paṭinissajjeyya, ayampi bhikkhunī yāvatatiyakaṃ
dhammaṃ āpannā nissāraṇīyaṃ saṅghādisesaṃ.
16. Ngay cả vị tỳ khưu
ni có bản tánh khó dạy, trong khi được dạy bảo bởi các tỳ khưu ni về các
điều học thuộc về giới bổn lại tỏ ra ương ngạnh: “Các ni sư chớ có nói
bất cứ điều gì đến tôi dầu là tốt hay là xấu; tôi cũng sẽ không nói bất
cứ điều gì đến các ni sư dầu là tốt hay là xấu. Các ni sư hãy kềm chế
lại việc đề cập đến tôi.” Vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu
ni như vầy: “Ni sư chớ tỏ ra ương ngạnh, ni sư hãy tỏ ra là người dễ
dạy. Ni sư hãy dạy bảo các tỳ khưu ni đúng theo Pháp, các tỳ khưu ni
cũng sẽ dạy bảo ni sư đúng theo Pháp; bởi vì như vậy hội chúng của đức
Thế Tôn ấy được phát triển, tức là với sự dạy bảo lẫn nhau, với sự khích
lệ lẫn nhau.” Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu ni mà vị tỳ khưu
ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu
ni nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần
thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ
vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là
tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.12, tk.)
17. Bhikkhunī paneva
aññataraṃ gāmaṃ vā nigamaṃ vā upanissāya
viharati kuladūsikā pāpasamācārā tassā kho
pāpakā samācārā dissanti ceva suyyanti ca
kulāni ca tāya duṭṭhāni dissanti ceva
suyyanti ca. Sā bhikkhunī bhikkhunīhi
evamassa vacanīyā ayyā kho kuladūsikā
pāpasamācārā ayyāya kho pāpakā samācārā
dissanti ceva suyyanti ca kulāni cāyyāya
duṭṭhāni dissanti ceva suyyanti ca,
pakkamatāyyā imamhā āvāsā alaṃ te idha
vāsenāti. Evañca sā bhikkhunī bhikkhunīhi
vuccamānā tā bhikkhuniyo evaṃ vadeyya
chandagāminiyo ca bhikkhuniyo dosagāminiyo ca
bhikkhuniyo mohagāminiyo ca bhikkhuniyo
bhayagāminiyo ca bhikkhuniyo, tādisikāya
āpattiyā ekaccaṃ pabbājenti ekaccaṃ na
pabbājentīti. Sā bhikkhunī bhikkhunīhi evamassa
vacanīyā māyyā evaṃ avaca na ca
bhikkhuniyo chandagāminiyo na ca bhikkhuniyo
dosagāminiyo na ca bhikkhuniyo mohagāminiyo
na ca bhikkhuniyo bhayagāminiyo, ayyā kho
kuladūsikā pāpasamācārā ayyāya kho pāpakā
samācārā dissanti ceva suyyanti ca kulāni
cāyyāya duṭṭhāni dissanti ceva suyyanti ca
pakkamatāyyā imamhā āvāsā alaṃ te idha
vāsenāti. Evañca sā bhikkhunī bhikkhunīhi
vuccamānā tatheva paggaṇheyya sā bhikkhunī
bhikkhunīhi yāvatatiyaṃ samanubhāsitabbā tassa
paṭinissaggāya, yāvatatiyañce samanubhāsiyamānā taṃ
paṭinissajjeyya iccetaṃ kusalaṃ no ce
paṭinissajjeyya, ayampi bhikkhunī yāvatatiyakaṃ
dhammaṃ āpannā nissāraṇīyaṃ saṅghādisesaṃ.
17. Vị tỳ khưu ni sống
nương tựa vào ngôi làng hoặc thị trấn nọ là kẻ làm hư hỏng các gia đình
và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của vị ni ấy không
những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng
vì vị ni ấy không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Vị tỳ
khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như vầy: “Chính ni sư là kẻ
làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai
trái của ni sư không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các
gia đình bị hư hỏng vì ni sư không những được nhìn thấy mà còn được nghe
đồn nữa. Ni sư hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với ni sư đã
đủ rồi!” Và khi được nói như thế bởi các tỳ khưu ni, vị tỳ khưu ni ấy
lại nói với các tỳ khưu ni ấy như vầy: “Các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì
thương, các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì ghét, các tỳ khưu ni có sự
thiên vị vì si mê, các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì sợ hãi, cùng với tội
như nhau họ lại xua đuổi vị ni này, họ lại không xua đuổi vị ni kia.” Vị
tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như vầy: “Ni sư chớ có nói
như thế. Các tỳ khưu ni không có sự thiên vị vì thương, các tỳ khưu ni
không có sự thiên vị vì ghét, các tỳ khưu ni không có sự thiên vị vì si
mê, các tỳ khưu ni không có sự thiên vị vì sợ hãi. Chính ni sư là kẻ làm
hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái
của ni sư không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia
đình bị hư hỏng vì ni sư không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn
nữa. Ni sư hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với ni sư đã đủ
rồi!” Và khi được các tỳ khưu ni nói như vậy mà vị tỳ khưu ni ấy vẫn
chấp giữ y như thế, thì vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc
nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba
mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ vị tỳ
khưu ni này cũng phạm tội (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là tội
saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng. (ttg.13, tk.)
Uddiṭṭhā kho ayyāyo
sattarasa saṅghādisesā dhammā nava
paṭhamāpattikā aṭṭha yāvatatiyakā, Yesaṃ
bhikkhunī aññataraṃ vā aññataraṃ vā
āpajjati tāya bhikkhuniyā ubhatosaṅghe
pakkhamānattaṃ caritabbaṃ. Ciṇṇamānattā bhikkhunī
yattha siyā vīsatigaṇo bhikkhunisaṅgho tattha
sā bhikkhunī abbhetabbā. Ekāyapi ce ūno
vīsatigaṇo bhikkhunisaṅgho taṃ bhikkhuniṃ
abbheyya, sā ca bhikkhunī anabbhitā tā
ca bhikkhuniyo gārayhā ayaṃ tattha sāmīci.
Tatthāyyāyo pucchāmi kaccittha parisuddhā,
dutiyampi pucchāmi kaccittha parisuddhā,
tatiyampi pucchāmi kaccittha parisuddhā.
Parisuddhetthāyyāyo tasmā tuṇhī evametaṃ
dhārayāmīti.
Bạch chư đại đức ni, mười bảy
điều saṅghādisesa (tăng tàng) đã được đọc tụng xong, chín điều bị
phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, tám điều (khi được nhắc nhở) đến lần
thứ ba. Vị tỳ khưu ni vi phạm điều nọ hoặc điều kia thuộc về các điều
này thì vị tỳ khưu ni ấy nên thực hành nửa tháng mānatta nơi có cả hai
hội chúng. Vị tỳ khưu ni có hành phạt mānatta đã được hoàn tất thì vị tỳ
khưu ni ấy nên được giải tội tại nơi nào có hội chúng tỳ khưu ni nhóm
hai mươi vị. Nếu hội chúng tỳ khưu ni nhóm hai mươi vị chỉ thiếu đi một
mà giải tội cho vị tỳ khưu ni ấy thì vị tỳ khưu ni ấy chưa được giải tội
và các tỳ khưu ni ấy bị khiển trách. Đây là điều đúng đắn trong trường
hợp ấy. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị
được thanh tịnh trong vấn đề này?Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn
các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng:
Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?Các đại đức ni được
thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Saṅghādisesuddeso niṭṭhito.
(Phần Đọc Tụng Giới Saṅghādisesa được chấm dứt).
--ooOoo--
V. NISSAGGIYE
VITTHĀRUDDESO
(PHẦN ĐỌC TỤNG CHI TIẾT VỀ GIỚI ƯNG XẢ)
Ime kho panāyyāyo
tiṃsa nissaggiyā pācittiyā dhammā uddesaṃ
āgacchanti.
Bạch chư đại đức ni, ba mươi
điều nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị) này được đưa ra đọc tụng.
1. Yā pana
bhikkhunī pattasannicayaṃ kareyya nissaggiyaṃ
pācittiyaṃ.
1. Vị tỳ khưu ni nào
thực hiện việc tích trữ bình bát thì (bình bát ấy) nên được xả bỏ và (vị
ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.1, tkni.)[5]
2. Yā pana
bhikkhunī akālacīvaraṃ kālacīvaranti adhiṭṭhahitvā
bhājāpeyya nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
2. Vị tỳ khưu ni nào
xác định y ngoài hạn kỳ là: “Y trong thời hạn” rồi bảo phân chia thì (y
ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
(ưxđt.2, tkni.)
3. Yā pana
bhikkhunī bhikkhuniyā saddhiṃ cīvaraṃ
parivattetvā sā pacchā evaṃ vadeyya
handāyye tuyhaṃ cīvaraṃ āhara metaṃ
cīvaraṃ yaṃ tuyhaṃ tuyhamevetaṃ yaṃ mayhaṃ
mayhamevetaṃ āhara metaṃ cīvaraṃ sakaṃ
paccāharāti acchindeyya vā acchindāpeyya vā
nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
3. Vị tỳ khưu ni nào
khi đã trao đổi y với tỳ khưu ni sau đó lại nói như vầy: “Này ni sư, hãy
nhận lấy y của cô. Y này là của tôi. Y nào của cô là của chính cô, y nào
của tôi là của chính tôi. Hãy đưa đây, y này là của tôi. Hãy mang đi y
của mình” rồi giật lại hoặc bảo giật lại thì (y ấy) nên được xả bỏ và
(vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.3, tkni.)
4. Yā pana
bhikkhunī aññaṃ viññāpetvā aññaṃ viññāpeyya
nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
4. Vị tỳ khưu ni nào
sau khi yêu cầu vật khác lại yêu cầu vật khác nữa thì (vật khác nữa ấy)
nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.4,
tkni.)
5. Yā pana
bhikkhunī aññaṃ cetāpetvā aññaṃ cetāpeyya
nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
5. Vị tỳ khưu ni nào
sau khi bảo sắm vật khác lại bảo sắm vật khác nữa thì (vật khác nữa ấy)
nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.5,
tkni.)
6. Yā pana
bhikkhunī aññadatthikena parikkhārena aññuddisikena
saṅghikena aññaṃ cetāpeyya nissaggiyaṃ
pācittiyaṃ.
6. Vị tỳ khưu ni nào
bảo sắm vật khác nữa bằng phần tài vật thuộc về hội chúng đã được chỉ
định về việc khác cho nhu cầu của việc khác thì (vật khác nữa ấy) nên
được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.6,
tkni.)
7. Yā pana
bhikkhunī aññadatthikena parikkhārena aññuddisikena
saṅghikena saññācikena aññaṃ cetāpeyya
nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
7. Vị tỳ khưu ni nào
bảo sắm vật khác nữa do tự mình yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về hội
chúng đã được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc khác thì (vật
khác nữa ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối
trị). (ưxđt.7, tkni.)
8. Yā pana
bhikkhunī aññadatthikena parikkhārena aññuddisikena
mahājanikena aññaṃ cetāpeyya nissaggiyaṃ
pācittiyaṃ.
8. Vị tỳ khưu ni nào
bảo sắm vật khác nữa bằng phần tài vật thuộc về nhóm đã được chỉ định về
việc khác cho nhu cầu của việc khác thì (vật khác nữa ấy) nên được xả bỏ
và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.8, tkni.)
9. Yā pana
bhikkhunī aññadatthikena parikkhārena aññuddisikena
mahājanikena saññācikena aññaṃ cetāpeyya
nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
9. Vị tỳ khưu ni nào
bảo sắm vật khác nữa do tự mình yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về nhóm
đã được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc khác thì (vật khác
nữa ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
(ưxđt.9, tkni.)
10. Yā pana
bhikkhunī aññadatthikena parikkhārena aññuddisikena
puggalikena saññācikena aññaṃ cetāpeyya
nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
10. Vị tỳ khưu ni nào
bảo sắm vật khác nữa do tự mình yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về cá
nhân đã được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc khác thì (vật
khác nữa ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối
trị). (ưxđt.10, tkni.)
Pattavaggo paṭhamo.
(Phần Bình Bát là phần thứ nhất).
11. Garupāvuraṇaṃ
pana bhikkhuniyā cetāpentiyā catukkaṃsaparamaṃ
cetāpetabbaṃ. Tato ce uttari cetāpeyya
nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
11. Vị tỳ khưu ni,
trong khi bảo sắm tấm choàng loại dày, nên bảo sắm tối đa là bốn kaṃsa.
Nếu bảo sắm vượt quá trị giá ấy thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ni
ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.1-yphục, tkni.)[6]
12. Lahupāvuraṇaṃ
pana bhikkhuniyā cetāpentiyā aḍḍhateyyakaṃsaparamaṃ
cetāpetabbaṃ. Tato ce uttari cetāpeyya
nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
12. Vị tỳ khưu ni,
trong khi bảo sắm tấm choàng loại nhẹ, nên bảo sắm tối đa là hai kaṃsa
rưỡi. Nếu bảo sắm vượt quá trị giá ấy thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị
ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.2-yphục, tkni.)
13. Niṭṭhitacīvarasmiṃ
bhikkhuniyā ubbhatasmiṃ kathine dasāhaparamaṃ
atirekacīvaraṃ dhāretabbaṃ. Taṃ atikkāmentiyā
nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
13. Khi vấn đề y đã
được dứt điểm đối với vị tỳ khưu ni tức là khi Kaṭhina đã hết hiệu lực,
y phụ trội được cất giữ tối đa mười ngày. Vượt quá hạn ấy thì (y ấy) nên
được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” (ưxđt.1-y,
tk.)
14. Niṭṭhitacīvarasmiṃ
bhikkhuniyā ubbhatasmiṃ kathine ekarattampi ce
bhikkhunī pañcahi cīvarehi vippavaseyya aññatra
bhikkhunisammutiyā nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
14. Khi vấn đề y đã
được dứt điểm đối với vị tỳ khưu ni tức là khi Kaṭhina đã hết hiệu lực,
nếu vị tỳ khưu ni xa lìa năm y dầu chỉ một đêm thì (y ấy) nên được xả bỏ
và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị), ngoại trừ có sự đồng ý
của các tỳ khưu ni. (ưxđt.2-y, tk.)
15. Niṭṭhitacīvarasmiṃ
bhikkhuniyā ubbhatasmiṃ kathine bhikkhuniyā
paneva akālacīvaraṃ uppajjeyya ākaṅkhamānāya
bhikkhuniyā paṭiggahetabbaṃ, paṭiggahetvā khippameva
kāretabbaṃ no cassa pāripūri māsaparamaṃ
tāya bhikkhuniyā taṃ cīvaraṃ nikkhipitabbaṃ
ūnassa pāripūriyā satiyā paccāsāya. Tato
ce uttari nikkhipeyya satiyāpi paccāsāya
nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
15. Khi vấn đề y đã
được dứt điểm đối với vị tỳ khưu ni tức là khi Kaṭhina đã hết hiệu lực,
lại có y ngoài hạn kỳ phát sanh đến vị tỳ khưu ni, vị tỳ khưu ni đang
mong muốn thì nên thọ lãnh. Sau khi thọ lãnh nên bảo thực hiện ngay lập
tức, và nếu không đủ thì vị tỳ khưu ni ấy nên giữ lại y ấy tối đa một
tháng khi có sự mong mỏi làm cho đủ phần thiếu hụt; nếu giữ lại quá hạn
ấy mặc dầu có sự mong mỏi, (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội
pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.3-y, tk.)
16. Yā pana
bhikkhunī aññātakaṃ gahapatiṃ vā gahapatāniṃ
vā cīvaraṃ viññāpeyya aññatra samayā
nissaggiyaṃ pācittiyaṃ. Tatthāyaṃ samayo
acchinnacīvarā vā hoti bhikkhunī naṭṭhacīvarā
vā ayaṃ tattha samayo.
16. Vị tỳ khưu ni nào
yêu cầu nam gia chủ hoặc nữ gia chủ không phải là thân quyến về y thì (y
ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại
trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp này là vị tỳ khưu ni có y bị
cướp đoạt hoặc là có y bị hư hỏng. Đây là duyên cớ trong trường hợp này.
(ưxđt.6-y, tk.)
17. Tañce aññātako
gahapati vā gahapatānī vā bahūhi cīvarehi
abhihaṭṭhuṃ pavāreyya santaruttaraparamaṃ tāya
bhikkhuniyā tato cīvaraṃ sāditabbaṃ. Tato
ce uttari sādiyeyya nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
17. Nếu có nam gia chủ
hoặc nữ gia chủ không phải là thân quyến thỉnh cầu vị ni ấy để đem lại
với nhiều y, vị tỳ khưu ni ấy nên chấp nhận y trong số ấy với mức tối đa
là y nội và thượng y, nếu chấp nhận vượt quá số ấy thì (y ấy) nên được
xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.7-y, tk.)
18. Bhikkhuniṃ
paneva uddissa aññātakassa gahapatissa vā
gahapatāniyā vā cīvaracetāpanaṃ upakkhaṭaṃ hoti
iminā cīvaracetāpanena cīvaraṃ cetāpetvā
itthannāmaṃ bhikkhuniṃ cīvarena acchādessāmīti.
Tatra cesā bhikkhunī pubbe appavāritā
upasaṅkamitvā cīvare vikappaṃ āpajjeyya sādhu
vata maṃ āyasmā iminā cīvaracetāpanena
evarūpaṃ vā evarūpaṃ vā cīvaraṃ cetāpetvā
acchādehīti kalyāṇakamyataṃ upādāya nissaggiyaṃ
pācittiyaṃ.
18. Trường hợp có số
tiền mua y của nam gia chủ hoặc nữ gia chủ không phải là thân quyến đã
được chuẩn bị dành riêng cho vị tỳ khưu ni: “Với số tiền mua y này sau
khi mua y tôi sẽ dâng y đến vị tỳ khưu ni tên (như vầy).” Trong trường
hợp ấy, nếu vị tỳ khưu ni ấy khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến và
đưa ra sự căn dặn về y: “Quả thật là tốt, với số tiền mua y này ông hãy
mua y có hình thức như vầy và như vầy rồi dâng cho tôi;” vì sự mong muốn
y tốt đẹp, (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng
đối trị). (ưxđt.8-y, tk.)
19. Bhikkhuniṃ
paneva uddissa ubhinnaṃ aññātakānaṃ gahapatīnaṃ
vā gahapatānīnaṃ vā paccekacīvaracetāpanāni
upakkhaṭāni honti imehi mayaṃ
paccekacīvaracetāpanehi paccekacīvarāni cetāpetvā
itthannāmaṃ bhikkhuniṃ cīvarehi acchādessāmāti.
Tatra cesā bhikkhūnī pubbe appavāritā
upasaṅkamitvā cīvare vikappaṃ āpajjeyya sādhu
vata maṃ āyasmanto imehi paccekacīvaracetāpanehi
evarūpaṃ vā evarūpaṃ vā cīvaraṃ cetāpetvā
acchādetha ubhova santā ekenāti kalyāṇakamyataṃ
upādāya nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
19. Trường hợp có các
số tiền mua y khác nhau của hai nam gia chủ hoặc (của hai) nữ gia chủ
không phải là các thân quyến đã được chuẩn bị dành riêng cho vị tỳ khưu
ni: “Với các số tiền mua y khác nhau này sau khi mua các y khác nhau
chúng tôi sẽ dâng các y đến vị tỳ khưu ni tên (như vầy).” Trong trường
hợp ấy, nếu vị tỳ khưu ni ấy khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến và
đưa ra sự căn dặn về y: “Quả thật là tốt, với các số tiền mua y này quý
ông cả hai nhập thành một rồi hãy mua y có hình thức như vầy và như vầy
rồi hãy dâng cho tôi;” vì sự mong muốn y tốt đẹp, (y ấy) nên được xả bỏ
và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.9-y, tk.)
20. Bhikkhuniṃ
paneva uddissa rājā vā rājabhoggo vā
brāhmaṇo vā gahapatiko vā dūtena
cīvaracetāpanaṃ pahiṇeyya iminā cīvaracetāpanena
cīvaraṃ cetāpetvā itthannāmaṃ bhikkhuniṃ
cīvarena acchādehīti. So ce dūto taṃ
bhikkhuniṃ upasaṅkamitvā evaṃ vadeyya idaṃ
kho ayye ayyaṃ uddissa cīvaracetāpanaṃ
ābhataṃ paṭiggaṇhātāyyā cīvaracetāpananti. Tāya
bhikkhuniyā so dūto evamassa vacanīyo na
kho mayaṃ āvuso cīvaracetāpanaṃ paṭiggaṇhāma
cīvarañca kho mayaṃ paṭiggaṇhāma kālena
kappiyanti. So ce dūto taṃ bhikkhuniṃ
evaṃ vadeyya atthi panāyyāya koci
veyyāvaccakaroti. Cīvaratthikāya bhikkhave bhikkhuniyā
veyyāvaccakaro niddisitabbo ārāmiko vā upāsako
vā eso kho āvuso bhikkhunīnaṃ
veyyāvaccakaroti. So ce dūto taṃ
veyyāvaccakaraṃ saññāpetvā taṃ bhikkhuniṃ
upasaṅkamitvā evaṃ vadeyya yaṃ kho ayye
ayyā veyyāvaccakaraṃ niddisi saññatto so
mayā upasaṅkamatāyyā kālena cīvarena taṃ
acchādessatīti. Cīvaratthikāya bhikkhave bhikkhuniyā
veyyāvaccakaro upasaṅkamitvā dvattikkhattuṃ codetabbo
sāretabbo attho me āvuso cīvarenāti
dvattikkhattuṃ codayamānā sārayamānā taṃ cīvaraṃ
abhinipphādeyya iccetaṃ kusalaṃ, no ce
abhinipphādeyya catukkhattuṃ pañcakkhattuṃ
chakkhattuparamaṃ tuṇhībhūtāya uddissa ṭhātabbaṃ
catukkhattuṃ pañcakkhattuṃ chakkhattuparamaṃ
tuṇhībhūtā uddissa tiṭṭhamānā taṃ cīvaraṃ
abhinipphādeyya iccetaṃ kusalaṃ. Tato ce
uttari vāyamamānā taṃ cīvaraṃ abhinipphādeyya
nissaggiyaṃ pācittiyaṃ. No ce abhinipphādeyya
yatassā cīvaracetāpanaṃ ābhataṃ, tattha sāmaṃ
vā gantabbaṃ dūto vā pāhetabbo yaṃ
kho tumhe āyasmanto bhikkhuniṃ uddissa
cīvaracetāpanaṃ pahiṇittha na taṃ tassā
bhikkhuniyā kiñci atthaṃ anubhoti
yuñjantāyasmantosakaṃ mā vo sakaṃ vinassāti
ayaṃ tattha sāmīci.
20. Trường hợp đức vua,
hoặc quan triều đình, hoặc bà-la-môn, hoặc gia chủ phái sứ giả đem số
tiền mua y dành riêng cho vị tỳ khưu ni (nói rằng): “Hãy mua y với số
tiền mua y này rồi hãy dâng đến vị tỳ khưu ni tên (như vầy).” Nếu người
sứ giả ấy đi đến gặp vị tỳ khưu ni ấy và nói như vầy: “Thưa ni sư, số
tiền mua y này được dành riêng cho ni sư đã được mang lại. Xin ni sư hãy
nhận lãnh tiền mua y.” Người sứ giả ấy nên được vị tỳ khưu ni ấy nói như
vầy: “Này đạo hữu, chúng tôi không nhận lãnh tiền mua y và chúng tôi chỉ
nhận lãnh y đúng phép vào lúc hợp thời.” Nếu người sứ giả ấy nói với vị
tỳ khưu ni ấy như vầy: “Vậy có ai là người phục vụ cho ni sư không?” Này
các tỳ khưu ni, vị tỳ khưu ni có sự cần dùng y nên chỉ ra người phục vụ
là người phụ việc chùa hoặc là nam cư sĩ: “Này đạo hữu, đây chính là
người phục vụ cho các tỳ khưu ni.” Nếu người sứ giả ấy sau khi đã dặn dò
người phục vụ ấy rồi đã đi đến gặp vị tỳ khưu ni ấy nói như vầy: “Thưa
ni sư, người phục vụ mà ni sư đã chỉ ra đã được tôi dặn dò. Ni sư hãy đi
đến lúc đúng thời, người ấy sẽ dâng y cho ni sư.” Này các tỳ khưu ni, vị
tỳ khưu ni có sự cần dùng y sau khi đi đến gặp người phục vụ ấy rồi nên
thông báo nên nhắc nhở hai hoặc ba lần: “Này đạo hữu, tôi có nhu cầu về
y.” Trong khi thông báo nhắc nhở hai hoặc ba lần, nếu đạt được y ấy, như
thế việc này là tốt đẹp; nếu không đạt được thì nên đứng với trạng thái
im lặng bốn lần, năm lần, tối đa là sáu lần. Trong khi đứng với trạng
thái im lặng bốn lần, năm lần, tối đa là sáu lần, nếu đạt được y ấy, như
thế việc này là tốt đẹp; nếu không đạt được rồi ra sức vượt quá số lần
ấy và đạt được y ấy thì (y ấy) phạm vào nissaggiya và (vị ni ấy) phạm
tội pācittiya (ưng đối trị). Nếu không đạt được thì tiền mua y đã được
mang lại là của nơi nào thì nên đích thân đi đến nơi ấy, hoặc nên phái
sứ giả đi đến (nói rằng): “Này quý vị, các người đã gởi đến số tiền mua
y dành riêng cho vị tỳ khưu ni nào, số tiền ấy không có được chút gì lợi
ích cho vị tỳ khưu ni ấy. Quý vị hãy thâu hồi lại vật của mình, chớ để
vật của quý vị bị mất mát.” Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy.
(ưxđt.10-y, tk.)
Cīvaravaggo dutiyo.
(Phần Y Phục là phần thứ nhì).
21. Yā pana
bhikkhunī jātarūparajataṃ uggaṇheyya vā
uggaṇhāpeyya vā upanikkhittaṃ vā sādiyeyya
nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
21. Vị tỳ khưu ni nào
nhận lấy hoặc bảo nhận lấy vàng bạc hoặc ưng thuận (vàng bạc) đã được
mang đến thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya
(ưng đối trị). (ưxđt.8-ttằm, tk.)[7]
22. Yā pana
bhikkhunī nānappakārakaṃ rūpiyasaṃvohāraṃ samāpajjeyya
nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
22. Vị tỳ khưu ni nào
tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều hình thức thì (vật ấy)
nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
(ưxđt.9-ttằm, tk.)
23. Yā pana
bhikkhunī nānappakārakaṃ kayavikkayaṃ samāpajjeyya
nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
23. Vị tỳ khưu ni nào
tiến hành việc mua bán dưới nhiều hình thức thì (vật ấy) nên được xả bỏ
và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.10-ttằm, tk.)
24. Yā pana
bhikkhunī ūnapañcabandhanena pattena aññaṃ navaṃ
pattaṃ cetāpeyya nissaggiyaṃ pācittiyaṃ. Tāya
bhikkhuniyā so patto bhikkhuniparisāya
nissajjitabbo yo ca tassā bhikkhuniparisāya
pattapariyanto so tassā bhikkhuniyā padātabbo
ayaṃ te bhikkhuni patto yāvabhedanāya
dhāretabboti ayaṃ tattha sāmīci.
24. Vị tỳ khưu ni nào
với bình bát chưa đủ năm miếng vá mà kiếm thêm bình bát mới khác thì
(bình bát mới ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng
đối trị). Vị tỳ khưu ni ấy nên xả bỏ bình bát ấy đến tập thể các tỳ khưu
ni. Và cái nào là bình bát cuối cùng của tập thể các tỳ khưu ni ấy, cái
ấy nên trao đến vị tỳ khưu ni ấy: “Này tỳ khưu ni, đây là bình bát của
cô, nên giữ lấy cho đến khi bể.” Đây là điều đúng đắn trong trường hợp
ấy. (ưxđt.2-bbát, tk.)[8]
25. Yāni kho
pana tāni gilānānaṃ bhikkhunīnaṃ paṭisāyanīyāni
bhesajjāni seyyathīdaṃ sappi navanītaṃ telaṃ
madhu phāṇitaṃ, tāni paṭiggahetvā sattāhaparamaṃ
sannidhikārakaṃ paribhuñjitabbāni. Taṃ atikkāmentiyā
nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
25. Các loại dược phẩm
nào được dùng cho các tỳ khưu ni bị bệnh như là bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn,
mật ong, đường mía. Các thứ ấy sau khi thọ lãnh nên được thọ dụng với sự
cất giữ tối đa là bảy ngày. Vượt quá hạn ấy thì nên được xả bỏ và (vị ni
ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.3-bbát, tk.)
26. Yā pana
bhikkhunī bhikkhuniyā sāmaṃ cīvaraṃ datvā
kupitā anattamanā acchindeyya vā acchindāpeyya
vā nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
26. Vị tỳ khưu ni nào
sau khi tự mình cho y đến vị tỳ khưu ni lại nổi giận, bất bình, rồi giật
lại, hoặc bảo giật lại thì (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội
pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.5-bbát, tk.)
27. Yā pana
bhikkhunī sāmaṃ suttaṃ viññāpetvā tantavāyehi
cīvaraṃ vāyāpeyya nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
27. Vị tỳ khưu ni nào
tự mình yêu cầu chỉ sợi rồi bảo các thợ dệt dệt thành y thì (y ấy) nên
được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.6-bbát,
tk.)
28. Bhikkhuniṃ
paneva uddissa aññātako gahapati vā
gahapatānī vā tantavāyehi cīvaraṃ vāyāpeyya,
tatra cesā bhikkhunī pubbe appavāritā
tantavāye upasaṅkamitvā cīvare vikappaṃ
āpajjeyya idaṃ kho āvuso cīvaraṃ maṃ
uddissa vīyyati āyatañca karotha vitthatañca
appitañca suvītañca suppavāyitañca suvilekhitañca
suvitacchitañca karotha appeva nāma mayampi
āyasmantānaṃ kiñcimattaṃ anupadajjeyyāmāti evañca
sā bhikkhunī vatvā kiñcimattaṃ anupadajjeyya
antamaso piṇḍapātamattampi nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
28. Trường hợp có nam
gia chủ hoặc nữ gia chủ không phải là thân quyến bảo các thợ dệt dệt
thành y dành riêng cho vị tỳ khưu ni. Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ
khưu ni ấy khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến gặp các thợ dệt và
đưa ra sự căn dặn về y: “Này đạo hữu, y này được dệt dành riêng cho tôi.
Hãy làm (y ấy) dài, rộng, chắc chắn, hãy dệt cho khéo, dệt cho đều đặn,
khéo cào, khéo chải. Có lẽ chúng tôi có thể biếu xén các ông vật gì đó.”
Và sau khi nói như vậy, nếu vị tỳ khưu ni ấy biếu xén vật gì dó dầu chỉ
là đồ ăn khất thực thì (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội
pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.7-bbát, tk.)
29. Dasāhānāgataṃ
kattikatemāsikapuṇṇamaṃ bhikkhuniyā paneva
accekacīvaraṃ uppajjeyya accekaṃ maññamānāya
bhikkhuniyā paṭiggahetabbaṃ, paṭiggahetvā yāva
cīvarakālasamayaṃ nikkhipitabbaṃ. Tato ce uttari
nikkhipeyya nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
29. Khi còn mười ngày
là đến ngày rằm Kattika của ba tháng,[9]
trường hợp vị tỳ khưu ni có y đặc biệt phát sanh, vị tỳ khưu ni nghĩ
rằng là (y) đặc biệt rồi nên thọ lãnh, sau khi thọ lãnh nên để riêng cho
đến hết thời hạn về y. Nếu để riêng vượt quá hạn ấy thì (y ấy) nên được
xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.8-bbát, tk.)
30. Yā pana
bhikkhunī jānaṃ saṅghikaṃ lābhaṃ pariṇataṃ
attano pariṇāmeyya nissaggiyaṃ pācittiyaṃ.
30. Vị tỳ khưu ni nào
dầu biết lợi lộc đã được khẳng định là dâng đến hội chúng vẫn thuyết
phục dâng cho bản thân thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm
tội pācittiya (ưng đối trị). (ưxđt.10-bbát, tk.)
Pattavaggo tatiyo.
(Phần về Bình Bát là phần thứ ba).
Uddiṭṭhā kho ayyāyo
tiṃsa nissaggiyā pācittiyā dhammā. Tatthāyyāyo
pucchāmi kaccittha parisuddhā, dutiyampi
pucchāmi kaccittha parisuddhā, tatiyampi
pucchāmi kaccittha parisuddhā. Parisuddhetthāyyāyo
tasmā tuṇhī evametaṃ dhārayāmīti.
Bạch chư đại đức ni, ba mươi
điều nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị) đã được đọc tụng xong.
Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được
thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các
vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc
hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Các đại đức ni được thanh
tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Nissaggiyā pācittiyā niṭṭhitā.
(Các Giới Ưng Xả Đối Trị được chấm dứt).
--ooOoo--