|
Tạng Luật
Vinaya Pitaka
Đại Phẩm
Mahāvagga
Tỳ-khưu Indacanda
Nguyệt Thiên dịch
Mục lục | 01a
| 01b | 01c |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 | 08 |
09 |
10
VIII. CHƯƠNG Y PHỤC
(CĪVARAKKHANDHAKAṂ)
[128] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành
Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, thành
Vesālī được phồn thịnh, giàu có, đông dân, nhiều người chen chúc, vật
thực dễ dàng, có bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy tòa nhà dài, bảy ngàn bảy trăm
lẻ bảy lầu mái nhọn, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy công viên, bảy ngàn bảy
trăm lẻ bảy hồ sen, có nàng kỹ nữ Ambapālī xinh đẹp, duyên dáng, yêu
kiều, được phú cho làn da đẹp hạng nhất, thiện xảo về múa, hát, đàn,
được những người đàn ông có lòng say đắm cầu cạnh, nàng qua đêm (với
giá) năm mươi (kahāpaṇa). Và có nàng thành Vesālī càng thêm phần rạng
rỡ.
Khi ấy, viên thị trưởng thành Rājagaha đã đi đến
Vesālī do công việc cần thiết. Viên thị trưởng thành Rājagaha đã nhìn
thấy thành Vesālī là phồn thịnh, giàu có, đông dân, nhiều người chen
chúc, vật thực dễ dàng, có bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy tòa nhà dài, bảy
ngàn bảy trăm lẻ bảy lầu mái nhọn, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy công viên,
bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy hồ sen, có nàng kỹ nữ Ambapālī xinh đẹp, duyên
dáng, yêu kiều, được phú cho làn da đẹp hạng nhất, thiện xảo về múa,
hát, đàn, được những người đàn ông có lòng say đắm cầu cạnh, nàng qua
đêm (với giá) năm mươi (kahāpaṇa), và có nàng thành Vesālī càng thêm
phần rạng rỡ. Sau đó, khi đã hoàn tất công việc cần làm ấy ở Vesālī,
viên thị trưởng thành Rājagaha đã quay về lại thành Rājagaha và đi đến
gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã nói với đức vua
Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:
- Tâu bệ hạ, thành Vesālī là phồn thịnh, giàu có,
đông dân, nhiều người chen chúc, vật thực dễ dàng, có bảy ngàn bảy trăm
lẻ bảy tòa nhà dài, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy lầu mái nhọn, bảy ngàn bảy
trăm lẻ bảy công viên, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy hồ sen, có nàng kỹ nữ
Ambapālī xinh đẹp, duyên dáng, yêu kiều, được phú cho làn da đẹp hạng
nhất, thiện xảo về múa, hát, đàn, được những người đàn ông có lòng say
đắm cầu cạnh, nàng qua đêm (với giá) năm mươi (kahāpaṇa), và có nàng
thành Vesālī càng thêm phần rạng rỡ. Tâu bệ hạ, tốt đẹp thay nếu chúng
ta cũng có thể đào tạo thành kỹ nữ.
- Này khanh, như thế thì khanh hãy tìm người con
gái tương tợ rồi đào tạo nàng thành kỹ nữ.
Vào lúc bấy giờ, trong thành Rājagaha có người con
gái tên Sālavatī là người xinh đẹp, duyên dáng, yêu kiều, được phú cho
làn da đẹp hạng nhất. Khi ấy, viên thị trưởng thành Rājagaha đã đào tạo
người con gái Sālavatī thành kỹ nữ. Sau đó chẳng bao lâu, nàng kỹ nữ
Sālavatī đã trở nên thiện xảo về múa hát đàn, được những người đàn ông
có lòng say đắm cầu cạnh, và nàng qua đêm (với giá) một trăm. Sau đó
chẳng bao lâu, nàng kỹ nữ Sālavatī đã mang thai. Khi ấy, nàng kỹ nữ
Sālavatī đã khởi ý điều này: “Đàn bà mang thai đâu còn được đàn ông
ưa thích. Nếu có người biết rằng: ‘kỹ nữ Sālavatī mang thai’ thì tất cả
các người đeo đuổi sẽ bỏ rơi ta. Hay là ta nên cáo bệnh?” Sau đó,
nàng kỹ nữ Sālavatī đã bảo người gác cổng rằng:
- Này chú em gác cổng, chớ để bất cứ người đàn ông
nào vào. Và ai hỏi ta thì bảo rằng: “Bị bệnh.”
- Thưa cô chủ, xin vâng. Người gác cổng ấy đã đáp
lại nàng kỹ nữ Sālavatī.
Sau đó, khi bào thai ấy được phát triển đầy đủ,
nàng kỹ nữ Sālavatī đã sanh ra đứa bé trai. Khi ấy, nàng kỹ nữ Sālavatī
đã bảo người tớ gái rằng:
- Này em, giờ hãy đặt đứa bé trai này vào trong giỏ
đan loại nhỏ rồi mang đi quăng bỏ ở đống rác.
- Thưa cô chủ, xin vâng.
Rồi người tớ gái ấy nghe theo nàng kỹ nữ Sālavatī
đã đặt đứa bé trai ấy vào trong giỏ đan loại nhỏ rồi mang đi quăng bỏ ở
đống rác.
Vào lúc bấy giờ, có vương tử tên là Abhaya đang đi
chầu vua vào sáng sớm đã nhìn thấy đứa bé trai ấy đang bị bầy quạ bu
quanh, sau khi nhìn thấy đã hỏi mọi người rằng:
- Này các khanh, vật gì bị bầy quạ bu quanh vậy?
- Thưa ngài, đứa bé trai.
- Này các khanh, còn sống không?
- Thưa ngài, còn sống.
- Này các khanh, như thế thì hãy mang đứa bé trai
ấy về hậu cung của chúng ta và giao cho các vú nuôi chăm sóc.
- Thưa ngài, xin vâng.
Rồi những người dân ấy nghe theo vương tử Abhaya đã
mang đứa bé trai ấy về hậu cung của vương tử Abhaya rồi giao cho các vú
nuôi (nói rằng):
- Các người hãy chăm sóc.
Họ đã đặt tên đứa bé là “Jīvaka ” (vì khi
vương tử Abhaya hỏi là “Cái gì?” thì mọi ngưòi trả lời là “Jīvati”
nghĩa là “còn sống”). Và bởi vì “được nuôi dưỡng bởi vương tử”
(kumārena posāpitoti) nên đã được đặt tên là “Komārabhacca.”
Sau đó chẳng bao lâu, Jīvaka Komārabhacca đã đạt
đến tuổi hiểu biết. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp vương tử
Abhaya, sau khi đến đã nói với vương tử Abhaya điều này:
- Thưa ngài, ai là mẹ của con, ai là cha của con?
- Này Jīvaka thương, ta cũng không biết mẹ của con;
tuy nhiên ta là cha của con vì con đã được ta nuôi dưỡng.
Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Không
có nghề nghiệp không dễ gì sống nhờ vả vào các gia đình vương giả này,
hay là ta nên học lấy nghề nghiệp?”
[129] Vào lúc bấy giờ, có người thầy thuốc tiếng
tăm lẫy lừng sống ở Takkasilā. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca không xin
phép vương tử Abhaya đã đi đến Takkasilā, tuần tự đã đi đến Takkasilā
gặp người thầy thuốc ấy, sau khi đến đã nói với người thầy thuốc ấy điều
này:
- Thưa thầy, con muốn học nghề.
- Này Jīvaka mến, như vậy thì con có thể học.
Sau đó, Jīvaka Komārabhacca học nhiều, học nhanh
chóng, suy nghiệm chính xác, và điều đã được học thì không quên đi. Sau
đó, khi trải qua bảy năm Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý rằng: “Ta học
nhiều, học nhanh chóng, suy nghiệm chính xác, và điều đã được học thì
không quên đi. Và trong khi ta đã học được bảy năm rồi mà đích cuối cùng
của nghề này vẫn không được biết đến, vậy thì khi nào đích cuối cùng của
nghề này mới được biết đến?” Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến
gặp người thầy thuốc ấy, sau khi đến đã nói với người thầy thuốc ấy điều
này:
- Thưa thầy, con học nhiều, học nhanh chóng, suy
nghiệm chính xác, và điều đã được học thì không quên đi. Và trong khi
con đã học được bảy năm rồi mà đích cuối cùng của nghề này vẫn không
được biết đến, vậy thì khi nào đích cuối cùng của nghề này mới được biết
đến?
- Này Jīvaka mến, như vậy thì con hãy cầm lấy cái
thuổng, đi dạo xung quanh Takkasilā một do tuần, nếu con thấy được bất
cứ vật gì không phải là dược phẩm thì hãy đem vật ấy về đây.
- Thưa thầy, xin vâng.
Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo người thuốc ấy đã
cầm lấy cái thuổng, và trong khi đi dạo xung quanh Takkasilā một do
tuần, đã không nhìn thấy bất cứ vật gì không phải là dược phẩm. Sau đó,
Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp người thầy thuốc ấy, sau khi đến đã
nói với người thầy thuốc ấy điều này:
- Thưa thầy, trong khi đi dạo xung quanh Takkasilā
một do tuần con đã không thấy được bất cứ vật gì không phải là dược
phẩm.
- Này Jīvaka mến, con đã học xong. Bấy nhiêu đó đã
đủ cho cuộc sống của con rồi.
Rồi người thầy thuốc ấy đã trao cho Jīvaka
Komārabhacca chút ít (tiền) dự phòng đường xa. Sau đó, Jīvaka
Komārabhacca đã nhận lấy chút ít (tiền) dự phòng đường xa rồi ra đi về
phía thành Rājagaha. Sau đó, vào khoảng giữa cuộc hành trình, ở Sāketa
chút ít (tiền) dự phòng đường xa ấy đã hết. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca
đã khởi ý điều này: “Những con đường này hoang vắng, ít nước, ít thức
ăn, không có (tiền) dự phòng đường xa không phải dễ dàng để đi, hay là
ta nên kiếm (tiền) dự phòng đường xa?”
[130] Vào lúc bấy giờ, ở Sāketa có người vợ của nhà
đại phú bị bệnh đau đầu đã bảy năm. Nhiều thầy thuốc vô cùng nổi danh và
tiếng tăm lừng lẫy đã đi đến và chữa trị dài ngày vẫn không đủ khả năng
làm lành bệnh; họ đã nhận lãnh nhiều vàng rồi ra đi. Khi ấy, Jīvaka
Komārabhacca đã đi vào Sāketa và hỏi dân chúng rằng:
- Này các người, ai bị bệnh? Tôi chữa trị ai đây?
- Này ông thầy, người vợ nhà đại phú kia bị bệnh
đau đầu đã bảy năm. Này ông thầy, hãy đi và chữa trị người vợ nhà đại
phú.
Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến tư gia của vị
đại phú, sau khi đến đã bảo người gác cổng rằng:
- Này chú gác cổng, hãy đi và báo cho người vợ nhà
đại phú điều này: “Thưa bà, người thầy thuốc đã đến, ông ấy có ý muốn
gặp bà.”
- Thưa thầy, xin vâng.
Rồi người gác cổng ấy nghe theo Jīvaka Komārabhacca
đã đi đến gặp người vợ nhà đại phú, sau khi đến đã nói với người vợ nhà
đại phú điều này:
- Thưa bà, người thầy thuốc đã đến, ông ấy có ý
muốn gặp bà.
- Này chú gác cổng, người thầy thuốc ra làm sao?
- Thưa bà, còn trẻ lắm.
- Này chú gác cổng, thôi đủ rồi! Thầy thuốc còn trẻ
lắm thì sẽ làm được gì cho ta? Nhiều thầy thuốc vô cùng nổi danh và
tiếng tăm lừng lẫy đã đi đến và chữa trị dài ngày vẫn không đủ khả năng
làm lành bệnh; họ đã nhận lãnh nhiều vàng rồi ra đi.
Sau đó, người gác cổng ấy đã đi đến gặp Jīvaka
Komārabhacca, sau khi đến đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:
- Thưa thầy, người vợ nhà đại phú đã nói như vầy: “Này
chú gác cổng, thôi đủ rồi! Thầy thuốc còn trẻ lắm thì sẽ làm được gì cho
ta? Nhiều thầy thuốc vô cùng nổi danh và tiếng tăm lừng lẫy đã đi đến và
chữa trị dài ngày vẫn không đủ khả năng làm lành bệnh; họ đã nhận lãnh
nhiều vàng rồi ra đi.”
- Này chú gác cổng, hãy đi và báo cho người vợ nhà
đại phú như vầy: “Thưa bà, người thầy thuốc đã nói như vầy: ‘Thưa bà,
bà không phải đưa trước vật gì. Khi nào khỏi bệnh, khi ấy bà muốn cho
vật gì thì bà cứ việc cho vật ấy’.”
- Thưa thầy, xin vâng.
Rồi người gác cổng ấy nghe theo Jīvaka Komārabhacca
đã đi đến gặp người vợ nhà đại phú, sau khi đến đã nói với người vợ nhà
đại phú điều này:
- Thưa bà, người thầy thuốc đã nói như vầy: “Thưa
bà, bà không phải đưa trước vật gì. Khi nào khỏi bệnh, khi ấy bà muốn
cho vật gì thì bà cứ việc cho vật ấy.”
- Này chú gác cổng, như thế thì hãy bảo người thầy
thuốc đi đến.
- Thưa bà, xin vâng.
Rồi người gác cổng ấy nghe theo người vợ nhà đại
phú đã đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca, sau khi đến đã nói với Jīvaka
Komārabhacca điều này:
- Thưa thầy, người vợ nhà đại phú cho gọi thầy.
Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp người vợ
nhà đại phú, sau khi đến đã xem xét sự biến đổi ở sắc mặt của người vợ
nhà đại phú rồi nói với người vợ nhà đại phú điều này:
- Thưa bà, tôi cần một bụm tay bơ lỏng.
Khi ấy, người vợ nhà đại phú đã bảo người trao cho
Jīvaka Komārabhacca một bụm tay bơ lỏng. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã
nấu sôi bụm tay bơ lỏng ấy với nhiều loại dược phẩm rồi bảo người vợ nhà
đại phú nằm ngửa ở trên giường và cho vào theo đường mũi. Sau đó, bơ
lỏng đã được cho vào theo đường mũi ấy đã đi ra theo đường miệng. Khi
ấy, người vợ nhà đại phú đã nhổ bơ lỏng ấy vào vật đựng rồi bảo người tớ
gái rằng:
- Này em, hãy thu hồi lại bơ lỏng này bằng lớp gòn.
Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Thật
là kỳ lạ! Bà chủ nhà này thật là hà tiện! Bởi vì thứ bơ lỏng chỉ đáng
quăng bỏ này còn được bảo thu hồi lại bằng lớp gòn! Và nhiều thứ thuốc
vô cùng quý giá của ta đã được sử dụng, rồi bà ta sẽ trả công cán cho ta
bằng cái gì đây?” Khi ấy, sau khi xem xét sự biến đổi ở sắc mặt của
Jīvaka Komārabhacca, người vợ nhà đại phú đã nói với Jīvaka Komārabhacca
điều này:
- Thưa thầy, sao thầy có vẻ lo âu vậy?
- Trong trường hợp này, tôi đã khởi ý điều này: “Thật
là kỳ lạ! Bà chủ nhà này thật là hà tiện! Bởi vì thứ bơ lỏng chỉ đáng
quăng bỏ này còn được bảo thu hồi lại bằng lớp gòn! Và nhiều thứ thuốc
vô cùng quý giá của ta đã được sử dụng, rồi bà ta sẽ trả công cán cho ta
bằng cái gì đây?”
- Thưa thầy, chúng tôi là những gia chủ hiểu về
điều ấy là sự tiết kiệm. Bơ lỏng ấy là thuốc xoa chân rất tốt cho các
tôi tớ và các người làm công, hoặc là dầu cho việc đốt đèn. Thưa thầy,
thầy chớ có lo âu. Sự trả công cho thầy sẽ không phải bỏ phí.
Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã trị dứt chứng bệnh
đau đầu bảy năm của người vợ nhà đại phú chỉ bằng có mỗi một việc làm ở
mũi. Sau đó, khi được khỏi bệnh người vợ nhà đại phú đã thưởng cho
Jīvaka Komārabhacca bốn ngàn. Người con trai (nghĩ rằng): “Mẹ ta đã
khỏi bệnh!” nên đã thưởng cho Jīvaka Komārabhacca bốn ngàn. Người
con dâu (nghĩ rằng): “Mẹ chồng ta đã khỏi bệnh!” nên đã thưởng
cho Jīvaka Komārabhacca bốn ngàn. Người gia chủ đại phú (nghĩ rằng): “Vợ
ta đã khỏi bệnh!” nên đã thưởng cho Jīvaka Komārabhacca bốn ngàn,
một tôi trai, một tớ gái, và chiếc xe ngựa. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca
đã cầm lấy mười sáu ngàn ấy, một tôi trai, một tớ gái, và chiếc xe ngựa
rồi ra đi đến thành Rājagaha. Tuần tự, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến
thành Rājagaha gặp vương tử Abhaya, sau khi đến đã nói với vương tử
Abhaya điều này:
- Thưa ngài, đây là công việc đầu tiên của con gồm
có mười sáu ngàn, một tôi trai, một tớ gái, và chiếc xe ngựa. Thưa ngài,
xin ngài hãy nhận lấy cho việc đã nuôi dưỡng con.
- Này Jīvaka thương, thôi đi, hãy để cho chính con.
Con hãy cho xây biệt thự trong tư dinh của chúng ta.
- Thưa ngài, xin vâng.
Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo vương tử Abhaya
đã cho xây biệt thự trong tư dinh của vương tử Abhaya
[131] Vào lúc bấy giờ, đức vua Seniya Bimbisāra xứ
Magadha bị bệnh rò rỉ (bhagandalābādha). Các vải choàng đều bị lấm lem
bởi máu. Các vương phi thấy được trêu ghẹo rằng:
- Bữa nay, chúa công tới chu kỳ. Kinh nguyệt của
chúa công đã có. Chẳng bao lâu nữa chúa công sẽ sanh con.
Vì chuyện ấy, đức vua bị xấu hổ. Sau đó, đức vua
Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với vương tử Abhaya điều này:
- Này khanh Abhaya, trẫm có bệnh giống như vầy. Các
vải choàng đều bị lấm lem bởi máu. Các vương phi thấy được trêu ghẹo
rằng: “Bữa nay, chúa công tới chu kỳ. Kinh nguyệt của chúa công đã
có. Chẳng bao lâu nữa chúa công sẽ sanh con.” Này khanh Abhaya, hãy
tìm thầy thuốc hạng nào đó có thể điều trị cho trẫm.
- Tâu bệ hạ, Jīvaka này của thần là thầy thuốc trẻ,
giỏi giang, cậu ta sẽ điều trị cho bệ hạ.
- Này khanh Abhaya, như thế thì hãy ra lệnh cho
thầy thuốc Jīvaka. Vị ấy sẽ điều trị cho trẫm.
Sau đó, vương tử Abhaya đã truyền lệnh cho Jīvaka
Komārabhacca rằng:
- Này con Jīvaka, hãy đi và điều trị cho đức vua.
- Thưa ngài, xin vâng.
Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo vương tử Abhaya
sau khi nhét dược phẩm vào trong móng tay rồi đã đi đến gặp đức vua
Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã nói với đức vua Seniya
Bimbisāra xứ Magadha điều này:
- Tâu bệ hạ, hãy để thần xem bệnh của bệ hạ.
Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã trị dứt căn bệnh rò
rỉ của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha chỉ bằng có mỗi một liều
thuốc thoa. Sau đó, khi được khỏi bệnh đức vua Seniya Bimbisāra xứ
Magadha đã cho người trang điểm năm trăm người nữ với tất cả các đồ
trang sức, xong bảo tháo ra, cho chất thành đống, rồi nói với Jīvaka
Komārabhacca điều này:
- Này khanh Jīvaka, tất cả các đồ trang sức này từ
năm trăm người nữ là của khanh.
- Tâu bệ hạ, không dám, chỉ xin bệ hạ hãy nhớ cho
chức vụ của thần.
- Này khanh Jīvaka, như vậy thì khanh hãy phục vụ
trẫm, các cung phi, và hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu.
- Tâu bệ hạ, xin vâng. Jīvaka Komārabhacca đã trả
lời đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.
[132] Vào lúc bấy giờ, có nhà đại phú ở thành
Rājagaha bị bệnh đau đầu đã được bảy năm. Nhiều thầy thuốc vô cùng nổi
danh và tiếng tăm lừng lẫy đã đi đến và chữa trị dài ngày vẫn không đủ
khả năng làm lành bệnh; họ đã nhận lãnh nhiều vàng rồi ra đi. Hơn nữa,
ông ta đã bị các thầy thuốc từ chối. Một số thầy thuốc đã nói như vầy: “Trong
năm ngày nữa, người gia chủ đại phú này sẽ chết.” Một số thầy thuốc
khác đã nói như vầy: “Trong bảy ngày nữa, người gia chủ đại phú này
sẽ chết.” Khi ấy, vị thị trưởng thành Rājagaha đã khởi ý điều này: “Người
gia chủ đại phú này có nhiều cống hiến cho đức vua và cho thị trấn nữa.
Tuy nhiên, ông ta đã bị các thầy thuốc từ chối. Một số thầy thuốc đã nói
như vầy: ‘Trong năm ngày nữa, người gia chủ đại phú này sẽ chết.’ Một số
thầy thuốc khác đã nói như vầy: ‘Trong bảy ngày nữa, người gia chủ đại
phú này sẽ chết.’ Và Jīvaka này là thầy thuốc của đức vua, trẻ tuổi, và
giỏi giang, hay là chúng ta nên cầu xin đức vua phái thầy thuốc Jīvaka
điều trị cho người gia chủ đại phú vậy?” Sau đó, viên thị trưởng
thành Rājagaha đã đi đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau
khi đến đã nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:
- Tâu bệ hạ, người gia chủ đại phú này có nhiều
cống hiến cho đức vua và cho thị trấn nữa. Tuy nhiên, ông ta đã bị các
thầy thuốc từ chối. Một số thầy thuốc đã nói như vầy: “Trong năm ngày
nữa, người gia chủ đại phú này sẽ chết.” Một số thầy thuốc khác đã
nói như vầy: “Trong bảy ngày nữa, người gia chủ đại phú này sẽ chết.”
Tâu bệ hạ, tốt đẹp thay xin bệ hạ hãy ra lệnh cho thầy thuốc Jīvaka
điều trị cho người gia chủ đại phú.
Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra
lệnh cho Jīvaka Komārabhacca rằng:
- Này khanh Jīvaka, hãy đi và điều trị cho người
gia chủ đại phú.
- Tâu bệ hạ, xin vâng.
Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo lời đức vua
Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp người gia chủ đại phú, sau khi
đến đã xem xét sự biến đổi ở sắc mặt của người gia chủ đại phú rồi đã
nói với người gia chủ đại phú điều này:
- Này gia chủ, nếu tôi chữa ông khỏi bệnh ấy, tôi
sẽ được công cán gì đây?
- Thưa thầy, tất cả tài sản sẽ là của thầy và tôi
sẽ là đầy tớ của thầy.
- Này gia chủ, ông có thể nằm một bên hông trong
bảy tháng không?
- Thưa thầy, tôi có thể nằm một bên hông trong bảy
tháng.
- Này gia chủ, ông có thể nằm bên hông kia trong
bảy tháng không?
- Thưa thầy, tôi có thể nằm bên hông kia trong bảy
tháng.
- Này gia chủ, ông có thể nằm ngửa trong bảy tháng
không?
- Thưa thầy, tôi có thể nằm ngửa trong bảy tháng.
Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã bảo người gia chủ
đại phú nằm xuống trên giường, sau khi buộc chặt ở trên giường rồi đã
cắt làn da đầu, tách đôi vết mổ, rồi lôi ra hai con sâu đưa cho mọi
người thấy (nói rằng):
- Hãy xem hai con sâu một nhỏ một lớn này. Các vị
thầy nào đã nói như vầy: “Trong năm ngày nữa, người gia chủ đại phú
này sẽ chết,” các vị ấy đã thấy con sâu lớn này trong năm ngày nữa
sẽ xâm nhập bộ não của người gia chủ đại phú; do sự xâm nhập vào bộ não
mà người gia chủ đại phú sẽ phải chết. Các vị thầy ấy đã nhìn thấy đúng.
Còn các vị thầy nào đã nói như vầy: “Trong bảy ngày nữa, người gia
chủ đại phú này sẽ chết,” các vị ấy đã thấy con sâu nhỏ này trong
bảy ngày nữa sẽ xâm nhập bộ não của người gia chủ đại phú; do sự xâm
nhập vào bộ não mà người gia chủ đại phú sẽ phải chết. Các vị thầy ấy đã
nhìn thấy đúng.
Rồi Jīvaka Komārabhacca đã khép lại vết mổ, khâu
lại đường cắt ở đầu, và bôi thuốc mỡ vào.
Sau đó, khi trải qua bảy ngày người gia chủ đại phú
đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:
- Thưa thầy, tôi không thể nằm một bên hông trong
bảy tháng.
- Này gia chủ, không phải ông đã cam đoan với tôi
rằng: “Thưa thầy, tôi có thể nằm một bên hông trong bảy tháng”
hay sao?
- Thưa thầy, đúng vậy. Tôi đã cam đoan, nhưng mà
tôi sẽ chết mất. Tôi không thể nằm một bên hông trong bảy tháng.
- Này gia chủ, như thế thì ngươi hãy nằm bên hông
kia trong bảy tháng.
Sau đó, khi trải qua bảy ngày người gia chủ đại phú
đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:
- Thưa thầy, tôi không thể nằm bên hông kia trong
bảy tháng.
- Này gia chủ, không phải ông đã cam đoan với tôi
rằng: “Thưa thầy, tôi có thể nằm bên hông kia trong bảy tháng”
hay sao?
- Thưa thầy, đúng vậy. Tôi đã cam đoan, nhưng mà
tôi sẽ chết mất. Tôi không thể nằm một bên hông trong bảy tháng.
- Này gia chủ, như thế thì ngươi hãy nằm ngửa trong
bảy tháng.
Sau đó, khi trải qua bảy ngày người gia chủ đại phú
đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:
- Thưa thầy, tôi không thể nằm ngửa trong bảy
tháng.
- Này gia chủ, không phải ông đã cam đoan với tôi
rằng: “Thưa thầy, tôi có thể nằm ngửa trong bảy tháng” hay sao?
- Thưa thầy, đúng vậy. Tôi đã cam đoan, nhưng mà
tôi sẽ chết. Tôi không thể nằm ngửa trong bảy tháng.
- Này gia chủ, nếu tôi không nói nhiều lên như thế
thì ông không thể nằm xuống được như vầy. Hơn nữa, tôi đã tính trước và
biết rằng: “Trong ba lần bảy ngày, người gia chủ đại phú sẽ khỏi bệnh.”
Này gia chủ, hãy đứng dậy, ông đã khỏi bệnh. Ông hãy xem coi “Công
cán của tôi là cái gì?”
- Thưa thầy, tất cả tài sản hãy là của thầy và tôi
sẽ là đầy tớ của thầy.
- Này gia chủ, thôi đi. Ông chớ có cho tôi tất cả
tài sản và chớ có là đầy tớ của tôi. Hãy trao cho đức vua một trăm ngàn
và tôi một trăm ngàn.
Sau đó, người gia chủ đại phú được khỏi bệnh đã
trao cho đức vua một trăm ngàn và Jīvaka Komārabhacca một trăm ngàn.
[133] Vào lúc bấy giờ, người con trai của nhà đại
phú ở Bārāṇasī (Ba La Nại) trong lúc chơi giỡn trò nhào lộn bị bệnh xoắn
ruột. Vì thế, ngay cả cháo húp vào cũng không được tiêu hóa đúng đắn,
vật thực ăn vào cũng không được tiêu hóa đúng đắn, thậm chí việc tiểu
tiện đại tiện cũng không bình thường. Do đó, cậu trai trở nên ốm o, cằn
cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Khi ấy, nhà đại
phú thành Bārāṇasī đã khởi ý điều này: “Con trai ta có chứng bệnh như
thế này. Ngay cả cháo húp vào cũng không được tiêu hóa đúng đắn, vật
thực ăn vào cũng không được tiêu hóa đúng đắn, thậm chí việc tiểu tiện
đại tiện cũng không bình thường. Do đó, con trai ta trở nên ốm o, cằn
cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Hay là ta nên đi
đến thành Rājagaha cầu xin đức vua phái thầy thuốc Jīvaka điều
trị cho con trai của ta vậy?” Sau đó, nhà đại phú ở Bārāṇasī đã đi
đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã nói với đức
vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:
- Tâu bệ hạ, con trai thần có chứng bệnh như thế
này. Ngay cả cháo húp vào cũng không được tiêu hóa đúng đắn, vật thực ăn
vào cũng không được tiêu hóa đúng đắn, thậm chí việc tiểu tiện đại tiện
cũng không bình thường. Do đó, con trai thần trở nên ốm o, cằn cỗi,
xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Tâu bệ hạ, tốt đẹp
thay xin bệ hạ hãy ra lệnh cho thầy thuốc Jīvaka điều trị cho con trai
của thần.
Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra
lệnh cho Jīvaka Komārabhacca rằng:
- Này khanh Jīvaka, hãy đi. Sau khi đi đến Bārāṇasī
khanh hãy điều trị cho con trai nhà đại phú ở Bārāṇasī.
- Tâu bệ hạ, xin vâng.
Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo lời đức vua
Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi Bārāṇasī gặp người con trai nhà đại
phú ở Bārāṇasī, sau khi đến đã xem xét sự biến đổi ở sắc mặt của người
con trai nhà đại phú ở Bārāṇasī rồi bảo mọi người tránh đi, dùng màn che
vây kín lại, cột chặt (người con trai) vào cây cột nhà, bảo người vợ
đứng ở phía trước, rồi cắt làn da ở bụng, lấy ruột ra, đưa cho người vợ
thấy (nói rằng):
- Hãy nhìn xem bệnh của tướng công bà. Vì điều này
mà ngay cả cháo húp vào cũng không được tiêu hóa đúng đắn, vật thực ăn
vào cũng không được tiêu hóa đúng đắn, thậm chí việc tiểu tiện đại tiện
cũng không bình thường. Vì điều ấy, người này trở nên ốm o, cằn cỗi,
xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân.
Rồi Jīvaka Komārabhacca đã tháo gở phần ruột bị
xoắn, đặt các thứ ruột vào trở lại, khâu lại làn da bụng, rồi bôi thuốc
mỡ vào.
Sau đó chẳng bao lâu, người con trai nhà đại phú ở
Bārāṇasī đã được khỏi bệnh. Khi ấy, người con trai nhà đại phú ở
Bārāṇasī (nghĩ rằng): “Ta đã được khỏi bệnh” rồi đã thưởng cho
Jīvaka Komārabhacca mười sáu ngàn. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã cầm
lấy mười sáu ngàn ấy rồi quay trở về lại thành Rājagaha.
[134] Vào lúc bấy giờ, đức vua Pajjota xứ Ujjenī bị
bệnh vàng da. Nhiều thầy thuốc vô cùng nổi danh và tiếng tăm lừng lẫy đã
đi đến và chữa trị dài ngày vẫn không đủ khả năng làm lành bệnh; họ đã
nhận lãnh nhiều vàng rồi ra đi. Sau đó, đức vua Pajjota đã phái sứ giả
đi đến tâu trực tiếp với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha rằng:
- Tâu bệ hạ, tôi bị bệnh như thế này. Tâu bệ hạ,
tốt đẹp thay xin bệ hạ hãy ra lệnh cho thầy thuốc Jīvaka điều trị cho
tôi.
Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra
lệnh cho Jīvaka Komārabhacca rằng:
- Này khanh Jīvaka, hãy đi. Sau khi đi đến Ujjenī
khanh hãy điều trị cho đức vua Pajjota.
- Tâu bệ hạ, xin vâng.
Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo lời đức vua
Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi Ujjenī gặp đức vua Pajjota, sau khi
đến đã xem xét sự biến đổi ở sắc mặt của đức vua Pajjota rồi đã nói điều
này:
- Tâu bệ hạ, thần sẽ đun sôi bơ lỏng và bệ hạ sẽ
uống thứ ấy.
- Này khanh Jīvaka, thôi đi. Ngươi hãy làm khỏi
bệnh bằng cách nào mà có thể không dùng bơ lỏng. Đối với ta, bơ lỏng ghê
tởm và không thích hợp.
Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Bệnh
của đức vua này là như thế ấy; không dùng bơ lỏng ta không thể nào làm
khỏi bệnh được. Hay là ta nên nấu sôi bơ lỏng có màu cam, hương của cam,
và vị của cam?” Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã nấu sôi bơ lỏng có
màu cam, hương của cam, và vị của cam với nhiều loại dược phẩm. Khi ấy,
Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Bơ lỏng khi đã được đức vua
này uống vào, trong khi được tiêu hóa sẽ làm ợ chua. Đức vua này thì tàn
bạo có thể cho người giết ta, hay là ta nên hỏi phòng xa trước?” Sau
đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp đức vua Pajjota, sau khi đến đã
nói với đức vua Pajjota điều này:
- Tâu bệ hạ, những người thầy thuốc chúng tôi nhổ
các thứ rễ cây, thu hoạch các thứ dược phẩm vào thời điểm thích hợp. Tốt
đẹp thay xin bệ hạ hãy ra lệnh cho các trạm xe và các cổng thành rằng: “Jīvaka
muốn đi bằng xe nào thì hãy để cho đi bằng xe đó, muốn đi ra bằng cổng
nào thì hãy để cho đi ra bằng cổng đó, muốn đi ra lúc nào thì hãy cho đi
ra lúc đó, muốn đi vào lúc nào thì hãy cho đi vào lúc đó.”
Sau đó, đức vua Pajjota đã ra lệnh cho các trạm xe
và các cổng thành rằng:
- Jīvaka muốn đi bằng xe nào thì hãy để cho đi bằng
xe đó, muốn đi ra bằng cổng nào thì hãy để cho đi ra bằng cổng đó, muốn
đi ra lúc nào thì hãy cho đi ra lúc đó, muốn đi vào lúc nào thì hãy cho
đi vào lúc đó.
Vào lúc bấy giờ, đức vua Pajjota có con voi cái tên
là Bhaddavatikā có thể đi năm mươi do tuần (trong một ngày). Rồi Jīvaka
Komārabhacca đã đem lại thứ bơ lỏng ấy cho đức vua Pajjota (nói rằng):
- Xin bệ hạ hãy uống cam.
Sau đó, khi đã cho đức vua Pajjota uống bơ lỏng
xong, Jīvaka Komārabhacca đã đi ra chuồng voi và vội vã rời thành phố
bằng con voi cái Bhaddavatikā. Sau đó, khi đã được đức vua Pajjota uống
vào và trong khi tiêu hóa, bơ lỏng ấy đã làm ợ chua. Khi ấy, đức
vua Pajjota đã nói với mọi người điều này:
- Này các khanh, Jīvaka xảo trá đã làm cho ta phải
uống bơ lỏng. Như thế thì các khanh hãy truy nã thầy thuốc Jīvaka.
- Tâu bệ hạ, (thầy thuốc Jīvaka) đã vội vã rời
thành phố bằng con voi cái Bhaddavatikā rồi.
Vào lúc bấy giờ, đức vua Pajjota có nam nô lệ tên
là Kāka được sanh ra có nguồn gốc phi nhân có thể đi sáu mươi do tuần
(trong một ngày). Khi ấy, đức vua Pajjota đã ra lệnh cho nô lệ Kāka
rằng:
- Này khanh Kāka, hãy đi và hãy đem thầy thuốc
Jīvaka quay trở về (nói rằng): “Thưa thầy, đức vua bảo đem thầy quay
trở về.” Này khanh Kāka, bọn thầy thuốc ấy vốn vô cùng quỷ quyệt nên
khanh chớ có nhận lãnh bất cứ vật gì từ ông ta.
Sau đó, vào khoảng giữa đường đi tại thành Kosambī,
người nô lệ Kāka đã bắt gặp Jīvaka Komārabhacca đang dùng điểm tâm. Khi
ấy, người nô lệ Kāka đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:
- Thưa thầy, đức vua bảo đem thầy quay trở về.
- Này chú em Kāka, hãy chờ cho ta ăn. Này chú em
Kāka, ngươi cũng nên ăn đi.
- Thưa thầy, thôi đi. Tôi đã được đức vua ra lệnh
rằng: “Này khanh Kāka, bọn thầy thuốc ấy vốn vô cùng quỷ quyệt nên
khanh chớ có nhận lãnh bất cứ vật gì từ ông ta.”
Vào lúc bấy giờ, Jīvaka Komārabhacca đã dùng móng
tay khảy lấy (chút) dược phẩm rồi ăn trái cây āmalaka và uống
nước. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã nói với nô lệ Kāka điều này:
- Này chú em Kāka, ngươi hãy ăn trái cây āmalaka
và nên uống nước.
Khi ấy, nô lệ Kāka (nghĩ rằng): “Thầy thuốc này
ăn trái cây āmalaka và uống nước. Điều ấy xem ra không có điều gì là sai
trái cả” rồi đã ăn nửa trái āmalaka và uống nước. Khi người
nô lệ ấy vừa ăn vào nửa phần của trái āmalaka ấy liền bị ói ra
ngay tại chỗ ấy. Khi ấy, nô lệ Kāka đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều
này:
- Thưa thầy, tôi có được còn mạng sống không?
- Này chú em Kāka, chớ có sợ. Rồi chính ngươi sẽ
được khỏi bệnh. Còn đức vua thì tàn bạo, đức vua ấy cũng có thể ra lệnh
giết ta; vì thế ta không quay trở lại.
Sau khi đã trao con voi cái Bhaddavatikā cho nô lệ
Kāka dắt trở về, Jīvaka Komārabhacca đã ra đi về phía thành Rājagaha,
tuần tự đã đi đến thành Rājagaha gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ
Magadha, sau khi đến đã trình sự việc ấy cho đức vua Seniya Bimbisāra xứ
Magadha.
- Này khanh Jīvaka, khanh đã làm tuyệt lắm. Bởi vì
nếu khanh không vội vã ra đi, đức vua Pajjota tàn bạo ấy cũng có thể ra
lệnh giết khanh.
Sau đó, đức vua Pajjota khi được khỏi bệnh đã phái
sứ giả đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca (nói rằng):
- Jīvaka hãy đi đến. Trẫm sẽ ban đặc ân.
(Jīvaka Komārabhacca đã nhắn lại rằng:)
- Tâu bệ hạ, thôi đi. Chỉ xin bệ hạ nhớ cho chức vụ
của thần.
Vào lúc bấy giờ, đức vua Pajjota được phát sanh xấp
vải đôi sản xuất tại xứ Sivi là loại hạng nhất, phẩm chất tốt, nổi
tiếng, cao quý, và sang trọng trong vô số các loại vải, trong vô số các
xấp vải đôi, trong hàng trăm xấp vải đôi, trong hàng ngàn xấp vải đôi,
trong hàng trăm ngàn xấp vải đôi. Sau đó, đức vua Pajjota đã phái người
đem xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi ban cho Jīvaka Komārabhacca. Khi
ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Xấp vải đôi sản xuất tại
xứ Sivi đã được đức vua Pajjota gởi đến cho ta là loại hạng nhất, phẩm
chất tốt, nổi tiếng, cao quý, và sang trọng trong vô số các loại vải,
trong vô số các xấp vải đôi, trong hàng trăm xấp vải đôi, trong hàng
ngàn xấp vải đôi, trong hàng trăm ngàn xấp vải đôi; không ai xứng đáng
để sử dụng xấp vải đôi này ngoại trừ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh
Đẳng Giác ấy hoặc là đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.”
[135] Vào lúc bấy giờ, cơ thể của đức Thế Tôn phát
ra mùi khó chịu. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo với đại đức Ānanda rằng:
- Này Ānanda, cơ thể của Như Lai phát ra mùi khó
chịu. Như Lai muốn uống liều thuốc xổ.
Sau đó, đại đức Ānanda đã đi đến gặp Jīvaka
Komārabhacca, sau khi đến đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:
- Này đạo hữu Jīvaka, cơ thể của Như Lai phát ra
mùi khó chịu. Như Lai muốn uống liều thuốc xổ.
- Thưa ngài Ānanda, như thế thì ngài hãy thoa dầu
nơi cơ thể của đức Thế Tôn một vài ngày.
Sau đó, khi đã thoa dầu nơi cơ thể của đức Thế Tôn
một vài ngày, đại đức Ānanda đã đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca, sau khi
đến đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:
- Này đạo hữu Jīvaka, cơ thể của Như Lai đã được
thoa dầu, đạo hữu hãy suy nghĩ xem bây giờ là thời điểm của việc gì.
Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Thật
là không đúng đắn cho ta việc ta dâng đức Thế Tôn liều thuốc xổ thô
tháo, hay là ta nên dùng ba nắm sen và nhiều loại dược phẩm trộn lẫn
nhau rồi dâng đến đức Như Lai?” Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã dùng
ba nắm sen và nhiều loại dược phẩm trộn lẫn nhau rồi đi đến gặp đức Thế
Tôn, sau khi đến đã dâng lên đức Thế Tôn một nắm sen (nói rằng):
- Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hít vào nắm sen thứ
nhất này, liều này sẽ làm đức Thế Tôn xổ mười lần.
Rồi đã dâng đức Thế Tôn nắm sen thứ hai (nói rằng):
- Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hít vào nắm sen thứ
hai này, liều này sẽ làm đức Thế Tôn xổ mười lần.
Rồi đã dâng đức Thế Tôn nắm sen thứ ba (nói rằng):
- Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hít vào nắm sen thứ ba
này, liều này sẽ làm đức Thế Tôn xổ mười lần. Như thế đức Thế Tôn sẽ có
liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần.
Sau đó, khi đã dâng đức Thế Tôn liều thuốc xổ tổng
cộng ba mươi lần, Jīvaka Komārabhacca đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai
phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Khi ấy, trong khi đang đi ra khỏi cổng ra
vào, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Ta đã dâng lên đức Thế
Tôn liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần nhưng do cơ thể của đức Như Lai
đã bị phát ra mùi khó chịu nên sẽ không làm đức Thế Tôn xổ đầy đủ ba
mươi lần mà chỉ làm đức Thế Tôn xổ hai mươi chín lần. Tuy nhiên, khi đức
Thế Tôn đã được xổ, ngài sẽ tắm; và khi tắm, liều thuốc sẽ làm đức Thế
Tôn xổ một lần nữa. Như thế, đức Thế Tôn sẽ có được liều thuốc xổ tổng
cộng ba mươi lần.”
Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi dùng tâm biết được ý
nghĩ suy tầm của Jīvaka Komārabhacca nên đã bảo đại đức Ānanda rằng:
- Này Ānanda, ở đây trong khi đang đi ra khỏi cổng
ra vào, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Ta đã dâng lên đức
Thế Tôn liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần nhưng do cơ thể của đức Như
Lai đã bị phát ra mùi khó chịu nên sẽ không làm đức Thế Tôn xổ đầy đủ ba
mươi lần mà chỉ làm đức Thế Tôn xổ hai mươi chín lần. Tuy nhiên, khi đức
Thế Tôn đã được xổ, ngài sẽ tắm; và khi tắm, liều thuốc sẽ làm đức Thế
Tôn xổ một lần nữa. Như thế, đức Thế Tôn sẽ có được liều thuốc xổ tổng
cộng ba mươi lần.” Này Ānanda, như thế thì ngươi hãy chuẩn bị sẵn
sàng nước nóng.
- Bạch ngài, xin vâng.
Rồi đại đức Ānanda nghe theo đức Thế Tôn đã chuẩn
bị sẵn sàng nước nóng.
Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp đức Thế
Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã
ngồi xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, đức Thế Tôn đã được xổ chưa?
- Này Jīvaka, ta đã được xổ.
- Bạch ngài, ở đây trong khi đang đi ra khỏi cổng
ra vào, con đã khởi ý điều này: “Ta đã dâng lên đức Thế Tôn liều
thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần nhưng do cơ thể của đức Như Lai đã bị
phát ra mùi khó chịu nên sẽ không làm đức Thế Tôn xổ đầy đủ ba mươi lần
mà chỉ làm đức Thế Tôn xổ hai mươi chín lần. Tuy nhiên, khi đức Thế Tôn
đã được xổ, ngài sẽ tắm; và khi tắm, liều thuốc sẽ làm đức Thế Tôn xổ
một lần nữa. Như thế, đức Thế Tôn sẽ có được liều thuốc xổ tổng cộng ba
mươi lần.” Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy tắm, xin đấng Thiện Thệ
hãy tắm.
Khi ấy, đức Thế Tôn đã tắm nước nóng. Khi tắm,
(liều thuốc) đã làm đức Thế Tôn xổ một lần nữa. Như thế, đức Thế Tôn đã
có được liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca
đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, cho đến khi cơ thể của đức Thế Tôn trở
lại bình thường, cần kiêng đồ khất thực là nước trái cây.
Sau đó chẳng bao lâu, cơ thể của đức Thế Tôn đã
được bình thường. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã cầm lấy xấp vải đôi sản
xuất tại xứ Sivi ấy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức
Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Jīvaka
Komārabhacca đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, con cầu xin đức Thế Tôn một điều ước
muốn.
- Này Jīvaka, các đấng Như Lai đã vượt khỏi các
điều ước muốn.
- Bạch ngài, điều ấy là hợp lý, điều ấy không bị
chê trách.
- Này Jīvaka, hãy nói đi.
- Bạch ngài, đức Thế Tôn là vị sử dụng y may từ vải
bị quăng bỏ, và hội chúng tỳ khưu cũng vậy. Bạch ngài, xấp vải đôi sản
xuất tại xứ Sivi này của con đã được gởi đến từ vua Pajjota là loại hạng
nhất, phẩm chất tốt, nổi tiếng, cao quý, và sang trọng trong vô số các
loại vải, trong vô số các xấp vải đôi, trong hàng trăm xấp vải đôi,
trong hàng ngàn xấp vải đôi, trong hàng trăm ngàn xấp vải đôi. Bạch
ngài, xin ngài thọ lãnh xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi này của con và
cho phép y của gia chủ (gahapaticīvaraṃ)
[1]
đến hội chúng tỳ khưu.
Đức Thế Tôn đã thọ lãnh xấp vải đôi sản xuất tại xứ
Sivi. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo
niềm phấn khởi cho Jīvaka Komārabhacca bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi
đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn
khởi bằng bài Pháp thoại, Jīvaka Komārabhacca đã từ chỗ ngồi đứng dậy,
đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy
đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho phép y của gia chủ. Vị
nào thích thì hãy là vị sử dụng y may từ vải bị quăng bỏ, vị nào thích
thì hãy chấp nhận y của gia chủ. Và này các tỳ khưu, ta ngợi khen sự
biết đủ (dầu) với loại này hay loại kia (itarītarena).
[136] Rồi dân chúng trong thành Rājagaha đã nghe
được rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn đã cho phép y của gia chủ đến các vị
tỳ khưu.” Và những người dân ấy đã trở nên mừng rỡ phấn chấn (nghĩ
rằng): “Giờ đây, chúng ta sẽ dâng các vật bố thí, chúng ta sẽ làm các
việc phước thiện, bởi vì đức Thế đã cho phép y của gia chủ đến các vị tỳ
khưu.” Và chỉ trong một ngày, ở trong thành Rājagaha nhiều ngàn y đã
được phát sanh.
Rồi dân chúng trong nước đã nghe được rằng: “Nghe
nói đức Thế Tôn đã cho phép y của gia chủ đến các vị tỳ khưu.” Và
những người dân ấy đã trở nên mừng rỡ phấn chấn (nghĩ rằng): “Giờ
đây, chúng ta sẽ dâng các vật bố thí, chúng ta sẽ làm các việc phước
thiện, bởi vì đức Thế đã cho phép y của gia chủ đến các vị tỳ khưu.”
Và chỉ trong một ngày, ở trong nước nhiều ngàn y đã được phát sanh.
[137] Vào lúc bấy giờ, có tấm vải choàng (pāvāro)
được phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép tấm vải choàng.
Có tấm vải choàng bằng tơ lụa (koseyyapāvāro) được
phát sanh đến hội chúng.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép tấm vải choàng bằng
tơ lụa.
Có tấm choàng lông (kojava) được phát sanh đến hội
chúng.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép tấm choàng lông.
Dứt
tụng phẩm thứ nhất.
[138] Vào lúc bấy giờ, đức vua xứ Kāsī đã gởi đến
Jīvaka Komārabhacca tấm mền len (kambalaṃ) trị giá nửa kāsī[2]
hoặc tương đương với nửa kāsī. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã cầm
lấy tấm mền len trị giá nửa kāsī ấy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau
khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Sau khi đã ngồi
xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, tấm mền len này của con trị giá nửa
kāsī hoặc tương đương với nửa kāsī đã được đức vua xứ Kāsī gởi đến. Bạch
ngài, xin đức Thế Tôn nhận lãnh tấm mền, điều ấy sẽ đem lại sự lợi ích
và sự an lạc lâu dài cho con.
Đức Thế Tôn đã thọ lãnh tấm mền len. Khi ấy, đức
Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho
Jīvaka Komārabhacca bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn
chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp
thoại, Jīvaka Komārabhacca đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn,
hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy
đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) tấm mền
len.
[139] Vào lúc bấy giờ, có các y loại đặc biệt phát
sanh đến hội chúng. Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Loại y
nào đã được đức Thế Tôn cho phép, loại nào không được cho phép?” Các
vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép sáu loại y: loại
bằng sợi lanh (khomaṃ), loại bằng bông vải (kappāsikaṃ), loại bằng tơ
lụa (koseyyaṃ), loại bằng sợi len (kambalaṃ), loại bằng gai thô
(sāṇam), loại bằng chỉ bố (bhaṅgaṃ).
Vào lúc bấy giờ, những vị tỳ khưu nào chấp nhận y
của gia chủ, những vị ấy ngần ngại không chấp nhận loại vải dơ bị quăng
bỏ (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn cho phép chỉ một loại y chứ không phải
hai.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép vị chấp nhận y của
gia chủ chấp nhận luôn cả loại vải dơ bị quăng bỏ và này các tỳ khưu ta
ngợi khen sự biết đủ với cả hai loại ấy,
[140] Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đang đi
đường xa ở trong xứ Kosala. Một số tỳ khưu đã đi vào bãi tha ma để kiếm
vải dơ bị quăng bỏ. Một số tỳ khưu đã không chờ đợi. Những vị tỳ khưu đi
vào bãi tha ma đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Những vị tỳ khưu
không chờ đợi đã nói như vầy:
- Này các đại đức, hãy chia phần cho cả chúng tôi
nữa.
Những vị kia đã nói như vầy:
- Này các đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho
các vị. Tại sao các vị đã không chờ đợi?
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép không chia phần cho
các vị không chờ đợi nếu không có ý muốn.
Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đang đi đường
xa ở trong xứ Kosala. Một số tỳ khưu đã đi vào bãi tha ma để kiếm vải dơ
bị quăng bỏ. Một số tỳ khưu đã chờ đợi. Những vị tỳ khưu đi vào bãi tha
ma đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Những tỳ khưu chờ đợi đã nói như
vầy:
- Này các đại đức, hãy chia phần cho cả chúng tôi
nữa.
Những vị kia đã nói như vầy:
- Này các đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho
các vị. Tại sao các vị đã không đi vào?
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép chia phần cho các vị
đã chờ đợi mặc dầu không muốn.
Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đang đi đường
xa ở trong xứ Kosala. Một số tỳ khưu đã đi vào bãi tha ma trước để kiếm
vải dơ bị quăng bỏ. Một số tỳ khưu đã đi vào sau. Những vị tỳ khưu đi
vào bãi tha ma trước đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Những vị tỳ
khưu đi vào sau đã không nhặt được. Những vị ấy đã nói như vầy:
- Này các đại đức, hãy chia phần cho cả chúng tôi
nữa.
Những vị kia đã nói như vầy:
- Này các đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho
các vị. Tại sao các vị đã đi vào sau?
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép không chia phần cho
các vị đi vào sau nếu không có ý muốn.
Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đang đi đường
xa ở trong xứ Kosala. Các vị đã đi vào bãi tha ma cùng một lúc để kiếm
vải dơ bị quăng bỏ. Một số vị tỳ khưu đã nhặt được nhiều vải quấn tử
thi. Một số vị tỳ khưu đã không nhặt được. Những vị tỳ khưu không nhặt
được đã nói như vầy:
- Này các đại đức, hãy chia phần cho cả chúng tôi
nữa.
Những vị kia đã nói như vầy:
- Này các đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho
các vị. Tại sao các vị đã không nhặt được?
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép chia phần cho các vị
đi vào cùng một lúc mặc dầu không muốn.
Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đang đi đường
xa ở trong xứ Kosala. Các vị đã cam kết với nhau rồi đi vào bãi tha ma
để kiếm vải dơ bị quăng bỏ. Một số vị tỳ khưu đã nhặt được nhiều vải
quấn tử thi. Một số vị tỳ khưu đã không nhặt được. Những vị tỳ khưu
không nhặt được đã nói như vầy:
- Này các đại đức, hãy chia phần cho cả chúng tôi
nữa.
Những vị kia đã nói như vầy:
- Này các đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho
các vị. Tại sao các vị đã không nhặt được?
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép chia phần cho các vị
đã đi vào sau khi cam kết mặc dầu không muốn.
[141] Vào lúc bấy giờ, dân chúng cầm y đi đến tu
viện. Họ không gặp được vị có trách nhiệm tiếp nhận nên đã mang về. Y
phát sanh lên bị ít đi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị tiếp
nhận y (cīvarapaṭiggāhaka) là vị tỳ khưu hội đủ năm điều: vị không thể
bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không
thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị
biết (vật) được nhận hay không được nhận. Và này các tỳ khưu, nên chỉ
định như vầy:
Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu
cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng
lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ
khưu tên (như vầy) là vị tiếp nhận y. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị tiếp nhận y. Đại đức
nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị tiếp nhận y xin
im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ
định là vị tiếp nhận y. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng,
tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[142] Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu là các vị tiếp
nhận y sau khi thọ lãnh y bỏ ngay tại chỗ ấy rồi ra đi. Y bị mất. Các vị
đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị cất giữ
y (cīvaranidāhaka) là vị tỳ khưu hội đủ năm điều: vị không thể bị chi
phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị
chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết
(vật) đã được cất giữ hay đã không được cất giữ. Và này các tỳ khưu, nên
chỉ định như vầy:
Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu
cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng
lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ
khưu tên (như vầy) là vị cất giữ y. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị cất giữ y. Đại đức nào
đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị cất giữ y xin im
lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ
định là vị cất giữ y. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi
ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[143] Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu là các vị cất
giữ y cất giữ y ở mái che, ở gốc cây, ở hốc cây nimba, và ở ngoài
trời. Các y đã bị gặm nhấm bởi các con chuột và loài mối. Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định nhà kho
chứa đồ (bhaṇḍāgāraṃ) thuộc loại nào mà hội chúng thích là trú xá
(vihāraṃ), nhà một mái (aḍḍhayogaṃ), tòa nhà dài (pāsādaṃ), khu nhà lớn
(hammiyaṃ), hang động (guhaṃ). Và này các tỳ khưu, nên được chỉ định như
vầy:
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh
nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định trú xá
tên (như vầy) là nhà kho chứa đồ. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Hội chúng chỉ định trú xá tên (như vầy) là nhà kho chứa đồ. Đại đức nào
đồng ý việc chỉ định trú xá tên (như vầy) là nhà kho chứa đồ xin im
lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Trú xá tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định
là nhà kho chứa đồ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi
ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[144] Vào lúc bấy giờ, y ở trong nhà kho chứa đồ
không được bảo quản. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị quản lý
nhà kho (bhaṇḍāgārika) là vị tỳ khưu hội đủ năm điều: vị không thể bị
chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không
thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị
biết (vật) đã được bảo quản hay đã không được bảo quản. Và này các tỳ
khưu, nên chỉ định như vầy:
Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu
cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng
lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ
khưu tên (như vầy) là vị quản lý nhà kho. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quản lý nhà kho. Đại
đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quản lý nhà
kho xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ
định là vị quản lý nhà kho. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im
lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[145] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư
làm cho vị quản lý nhà kho xao lãng (phận sự). Các vị đã trình sự việc
ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, không nên làm vị giữ nhà kho xao
lãng (phận sự); vị nào làm xao lãng thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
[146] Vào lúc bấy giờ, trong nhà kho chứa đồ của
hội chúng y được dồi dào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép hội chúng chia phần
theo sự hiện diện.
Vào lúc bấy giờ, tất cả hội chúng trong lúc chia
phần y đã gây ra cảnh náo động. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị chia y
(cīvarabhājaka) là vị tỳ khưu hội đủ năm điều: vị không thể bị chi phối
bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể chi
phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết (y) đã
được phân chia hay chưa được phân chia. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định
như vầy:
Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu
cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng
lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ
khưu tên (như vầy) là vị chia y. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị chia y. Đại đức nào
đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị chia y xin im lặng;
vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ
định là vị chia y. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi
ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Sau đó, các tỳ khưu là vị chia y đã khởi ý điều
này: “Y nên được chia như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép trước tiên phân
loại, phỏng định giá trị, làm cho đồng đều (giá trị), đếm số tỳ khưu,
gom lại thành nhóm, rồi xác định phần chia về y.
Khi ấy, các vị tỳ khưu chia y đã khởi ý điều này: “Phần
chia về y có nên được cho đến sa di hay không?” Các vị đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép cho các sa di một
nửa của phần chia về y.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý muốn vượt
qua (uttaritukāmo) (sông hoặc đoạn đường hoang vắng) với phần chia của
bản thân. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép trao cho phần chia
của bản thân đến vị đang (chuẩn bị) vượt qua (sông hoặc đoạn đường hoang
vắng).
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý muốn vượt
qua (sông hoặc đoạn đường hoang vắng) với phần chia nhiều hơn. Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép trao cho phần chia
nhiều hơn khi vật đền bù được trao lại.
Sau đó, các vị tỳ khưu chia y đã khởi ý điều này: “Phần
chia về y nên được trao cho như thế nào, theo thứ tự đi đến hay là theo
thâm niên?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép bốc thăm để làm hoan
hỷ các vị không được phần (vikalake tosetvā kusapātaṃ kātunti).
[147] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhuộm y với
phân bò và đất sét đỏ. Y có màu sắc xấu. Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép sáu loại thuốc
nhuộm: thuốc nhuộm từ rễ cây, thuốc nhuộm từ thân cây, thuốc nhuộm từ vỏ
cây, thuốc nhuộm từ lá cây, thuốc nhuộm từ bông hoa, thuốc nhuộm từ trái
cây.
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhuộm y với nước
lạnh. Y có mùi hôi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép nồi nhuộm loại nhỏ
để nấu thuốc nhuộm.
Thuốc nhuộm bị tràn ra. Các vị đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc vòng đế tròn
(uttarāḷuvaṃ bandhituṃ) (ở phần trên mặt nước của nồi thuốc nhuộm).
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu không biết thuốc
nhuộm đã được nấu hay chưa được nấu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép nhỏ giọt vào trong
nước hoặc ở bề lưng của móng tay.
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu khi đổ thuốc nhuộm
ra, cái nồi bị xoay tròn. Cái nồi bị bể. Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép cái môi múc thuốc
nhuộm, cái gàu có cán.
Vào lúc bấy giờ, cái thùng để nhuộm của các vị tỳ
khưu chưa được sử dụng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép chậu nhuộm, lu
nhuộm.
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu vò nhồi y trong cái
đĩa, trong bình bát. Y đã bị thủng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép máng nhuộm.
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu trải y ra ở trên
nền đất. Y bị lấm bụi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép thảm cỏ.
Thảm cỏ bị mối nhấm. Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép sào máng y, dây treo
y.
Các vị treo cao lên ở giữa. Thuốc nhuộm chảy ra hai
bên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc ở các góc (y).
Góc (y) bị sờn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép sợi chỉ ở các góc
(y).
Thuốc nhuộm chảy ở một bên. Các vị đã trình sự việc
ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép nhuộm bằng cách trở
y đầu này, rồi đảo trở lại, và không được bỏ đi khi nước chưa ngừng nhỏ
giọt.
Vào lúc bấy giờ, y bị cứng. Các vị đã trình sự việc
ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép ngâm trong nước
Vào lúc bấy giờ, y bị thô nhám. Các vị đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép đập bằng bàn tay.
[148] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư
mặc các y chưa được cắt, mặc các y màu ngà voi. Dân chúng phàn nàn, phê
phán, chê bai. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, không nên mặc các y chưa được
cắt; vị nào mặc thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[149] Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo
như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến Dakkhiṇāgiri. Đức Thế Tôn
đã nhìn thấy mảnh ruộng ở Magadha được kết nối bằng những khoảnh vuông
vức, được kết nối bằng những đường biên dài rộng xung quanh, được kết
nối bằng những đường biên ở giữa, được kết nối bằng những mảnh vuông
giao nhau, sau khi nhìn thấy đã bảo đại đức Ānanda rằng:
- Này Ānanda, ngươi có nhìn thấy mảnh ruộng ở
Magadha của chúng ta được kết nối bằng những khoảnh vuông vức, được kết
nối bằng những đường biên dài rộng xung quanh, được kết nối bằng những
đường biên ở giữa, được kết nối bằng những mảnh vuông giao nhau không?
- Bạch ngài, thưa có.
- Này Ānanda, ngươi có khả năng thực hiện các y có
kiểu mẫu như thế cho các vị tỳ khưu không?
- Bạch Thế Tôn, con có khả năng.
Sau đó, khi đã ngự tại Dakkhiṇāgiri theo như ý
thích, đức Thế Tôn đã quay trở về lại thành Rājagaha. Khi ấy, đại đức
Ānanda sau khi thực hiện các y cho nhiều vị tỳ khưu đã đi đ ến gặp đức
Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, xin Thế Tôn hãy nhìn xem các y con đã
thực hiện.
Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy
đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, Ānanda thật thông thái. Này các
tỳ khưu, Ānanda có đại trí tuệ bởi vì vị ấy hiểu ý nghĩa một cách đầy đủ
của điều đã được ta nói ra một cách vắn tắt. Vị ấy làm được dải nối theo
chiều dọc (của y), vị ấy làm được dải nối theo chiều ngang (của y), vị
ấy làm được mảnh lớn thuộc dải điều (của y), vị ấy làm được mảnh nhỏ
thuộc dải điều (của y), vị ấy làm được mảnh lớn thuộc dải điều giữa (của
y), vị ấy làm được mảnh lớn thuộc các dải điều bên (của y), vị ấy làm
được mảnh nhỏ thuộc dải điều giữa (của y), vị ấy làm được mảnh nhỏ thuộc
các dải điều kế (của y), vị ấy làm được mảnh nhỏ thuộc hai dải điều biên
(của y), (như thế y) sẽ được cắt ra, sần sùi khi được ráp lại, phù hợp
với sa-môn, không còn được mong mỏi bởi những kẻ đối nghịch.
Này các tỳ khưu, ta cho phép y hai lớp (saṅghāṭi)
đã được cắt ra, thượng y (uttarāsaṅgaṃ) đã được cắt ra, y nội
(antaravāsakaṃ) đã được cắt ra (rồi ráp lại).
[150] Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo
như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến thành Vesālī. Khi đang đi
trên đoạn đường xa giữa Rājagaha và Vesālī, đức Thế Tôn đã nhìn thấy
nhiều vị tỳ khưu đang đi ngược chiều với các y được túm lại thành đống,
các vị đã làm cuộn y ở trên đầu, các vị đã làm cuộn y ở vai, các vị đã
làm cuộn y ở hông; sau khi nhìn thấy đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Những
kẻ rồ dại này đã xoay xở được nhiều y thật mau mắn, hay là ta nên xác
định sự hạn chế về y và quy định sự giới hạn về y?”
Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã
ngự đến thành Vesālī. Tại nơi đó ở Vesālī, đức Thế Tôn ngụ tại điện thờ
Gotamaka.
Vào lúc bấy giờ, trong khoảng thời gian tám đêm của
mùa đông lạnh lẽo vào những lúc tuyết rơi, đức Thế Tôn đã ngồi ở ngoài
trời vào ban đêm chỉ với một y và đức Thế Tôn đã không có cảm giác lạnh.
Khi canh đầu đã qua, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở đức Thế Tôn, đức Thế
Tôn đã trùm lên y thứ hai và đức Thế Tôn đã không còn cảm giác lạnh. Khi
canh giữa đã qua, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở đức Thế Tôn, đức Thế Tôn
đã trùm lên y thứ ba và đức Thế Tôn đã không còn cảm giác lạnh. Khi canh
cuối đã qua, hừng đông đã rạng, trời đêm lộ vẻ rạng rỡ, cảm giác lạnh đã
xuất hiện ở đức Thế Tôn, đức Thế Tôn đã trùm lên y thứ tư và đức Thế Tôn
đã không còn cảm giác lạnh. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Các
vị nào ở trong Pháp và Luật này là con trai của những nhà danh giá
thường bị ảnh hưởng bởi sự lạnh và khiếp sợ sự lạnh, các vị ấy có thể
đối phó (với sự lạnh) bằng ba y, hay là ta nên xác định sự hạn chế về y
và quy định sự giới hạn về y cho các tỳ khưu, (hay là) ta nên cho phép
ba y?” Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết
Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ở đây trong khi đi trên đoạn
đường xa giữa Rājagaha và Vesālī, ta đã nhìn thấy nhiều vị tỳ khưu đang
đi ngược chiều với các y được túm lại thành đống, các vị đã làm cuộn y ở
trên đầu, các vị đã làm cuộn y ở vai, các vị đã làm cuộn y ở hông, sau
khi nhìn thấy ta đã khởi ý điều này: “Những kẻ rồ dại này đã xoay xở
được nhiều y thật mau mắn, hay là ta nên xác định sự hạn chế về y và quy
định sự giới hạn về y?” Này các tỳ khưu, ở đây trong khoảng thời
gian tám đêm của mùa đông lạnh lẽo vào những lúc tuyết rơi, ta đã ngồi ở
ngoài trời vào ban đêm chỉ với một y và ta đã không có cảm giác lạnh.
Khi canh đầu đã qua, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở ta, ta đã trùm lên y
thứ hai và ta đã không còn cảm giác lạnh. Khi canh giữa đã qua, cảm giác
lạnh đã xuất hiện ở ta, ta đã trùm lên y thứ ba và ta đã không còn cảm
giác lạnh. Khi canh cuối đã qua, khi hừng đông đã rạng, trời đêm lộ vẻ
rạng rỡ, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở ta, ta đã trùm lên y thứ tư và ta
đã không còn cảm giác lạnh. Khi ấy, ta đã khởi ý điều này: “Các vị
nào ở trong Pháp và Luật này là con trai của những nhà danh giá thường
bị ảnh hưởng bởi sự lạnh và khiếp sợ sự lạnh, các vị ấy có thể đối phó
(với sự lạnh) bằng ba y, hay là ta nên xác định sự hạn chế về y và quy
định sự giới hạn về y cho các tỳ khưu, (hay là) ta nên cho phép ba y?”
Này các tỳ khưu, ta cho phép ba y gồm có y saṅghāṭi (tăng-già-lê)
hai lớp, thượng y (uttarāsaṅgaṃ) một lớp, và y nội (antaravāsakaṃ) một
lớp.
[151] Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư
(nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cho phép ba y” rồi đi vào làng với
ba y nọ, mặc ở trong tu viện với ba y khác, và đi xuống tắm với ba y
khác nữa. Các tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại sử dụng y phụ
trội (atirekacīvaraṃ)?
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết
Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, không nên sử dụng y phụ trội, vị
nào sử dụng thì nên được hành xử theo Pháp.[3]
Vào lúc bấy giờ, y phụ trội đã phát sanh đến đại
đức Ānanda. Và đại đức Ānanda có ý muốn dâng y ấy đến đại đức Sāriputta.
Đại đức Sāriputta đang ngụ ở Sāketa. Khi ấy, đại đức Ānanda đã khởi ý
điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sử dụng y phụ
trội.’ Và y phụ trội này đã phát sanh đến ta. Và ta có ý muốn dâng y này
đến đại đức Sāriputta mà đại đức Sāriputta lại đang ngụ ở Sāketa. Vậy ta
nên thực hành như thế nào?” Sau đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc
ấy lên đức Thế Tôn.
- Này Ānanda, bao lâu nữa Sāriputta sẽ đi lại đây?
- Bạch Thế Tôn, ngày thứ chín hoặc ngày thứ mười.
Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy
đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho phép cất giữ y phụ trội
tối đa mười ngày.
Vào lúc bấy giờ, có y phụ trội phát sanh đến các tỳ
khưu. Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Chúng ta nên thực
hành như thế nào đối với các y phụ trội?” Các vị đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép chú nguyện để dùng
chung (vikappetuṃ) y phụ trội.
[152] Sau đó, khi đã ngự tại thành Vesālī theo như
ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Bāraṇasī. Trong khi
tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Bārāṇasī. Tại nơi đó ở Bārāṇasī,
đức Thế Tôn ngự tại Isipatana, nơi vườn nai.
Vào lúc bấy giờ, y nội của vị tỳ khưu nọ bị rách.
Khi ấy, vị tỳ khưu ấy khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã cho phép ba y
gồm có y saṅghāṭi hai lớp, thượng y một lớp, và y nội một lớp. Và y nội
này của ta bị rách, hay là ta nên đắp thêm miếng vá, như thế xung quanh
sẽ là hai lớp và ở giữa là một lớp?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đắp
thêm miếng vá. Đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các chỗ trú ngụ đã
nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đang đắp thêm miếng vá, sau khi nhìn thấy đã đi
đến gặp vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:
- Này tỳ khưu, ngươi làm gì vậy?
- Bạch Thế Tôn, con đắp thêm miếng vá.
- Này tỳ khưu, thật tốt thay, thật tốt thay! Này tỳ
khưu, thật tốt thay việc ngươi đắp thêm miếng vá!
Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy
đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho phép khi vải còn mới hoặc
được xem như mới thì y saṅghāṭi là hai lớp, thượng y là một lớp,
và y nội là một lớp. Khi vải đã bị sờn bởi thời gian thì y saṅghāṭi
là bốn lớp, thượng y là hai lớp, và y nội là hai lớp. Nên thực hiện
việc nỗ lực (tìm kiếm) vải dơ bị quăng bỏ hay (được bỏ rơi) ở các cửa
tiệm theo như nhu cầu. Này các tỳ khưu, ta cho phép (đắp thêm) miếng vá,
(dùng) chỉ mạng, (đắp chồng) lớp nữa, miếng vá nhỏ, và việc may lại cho
chắc chắn.
[153] Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo
như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Sāvatthi. Trong
khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi đó ở
Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra đã đi đến gặp đức
Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên.
Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi
cho bà Visākhā mẹ của Migāra đang ngồi một bên bằng bài Pháp thoại. Sau
đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo
niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, bà Visākhā mẹ của Migāra đã nói với
đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời con về bữa
trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.
Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi
ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên
đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu
quanh, rồi ra đi.
Vào lúc bấy giờ, khi trải qua đêm ấy có đám mây lớn
khắp cả bốn châu đã đổ mưa xuống. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu
rằng:
- Này các tỳ khưu, trời mưa ở Jetavana như thế nào
thì trời mưa ở bốn châu cũng như thế ấy. Này các tỳ khưu, hãy để cho
thân thể ướt đẫm nước mưa, đây là trận mưa lớn khắp cả bốn châu lần cuối
cùng.
- Bạch ngài, xin vâng. Rồi các vị tỳ khưu ấy nghe
theo đức Thế Tôn cởi các y ra và để cho thân thể ướt đẫm nước mưa.
Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra đã cho chuẩn bị
sẵn sàng vật thực thượng hạng loại cứng loại mềm rồi bảo người tớ gái
rằng:
- Này em, hãy đi. Sau khi đến tu viện, hãy thông
báo thời giờ rằng: “Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.”
- Thưa bà, xin vâng.
Rồi người tớ gái nghe theo bà Visākhā mẹ của Migāra
đã đi đến tu viện và nhìn thấy các vị tỳ khưu có các y đã được cởi ra và
đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa, sau khi nhìn thấy (nghĩ rằng): “Các
tỳ khưu không có ở trong tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để
cho thân thể ướt đẫm nước mưa” rồi đã đi đến gặp bà Visākhā mẹ của
Migāra, sau khi đến đã nói với bà Visākhā mẹ của Migāra điều này:
- Thưa bà, các tỳ khưu không có ở trong tu viện,
(chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa.
Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra là người trí tuệ,
kinh nghiệm, thông minh đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là các ngài
đại đức có các y đã được cởi ra và để cho thân thể ướt đẫm nước mưa!
Cô gái đần độn này đây đã nghĩ rằng: ‘Các tỳ khưu không có ở
trong tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm
nước mưa,’” nên đã bảo người tớ gái rằng:
- Này em, hãy đi. Sau khi đến tu viện, hãy thông
báo thời giờ rằng: “Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.”
Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy sau khi đã làm cho mát mẻ
thân hình, có cơ thể được khoẻ khoắn, nên đã mặc y rồi đi vào trú xá của
mình. Sau đó, người tớ gái ấy đã đi đến tu viện, trong khi không nhìn
thấy các vị tỳ khưu (nên nghĩ rằng): “Các tỳ khưu không có ở trong tu
viện, tu viện thì trống không” rồi đã đi đến gặp bà Visākhā mẹ của
Migāra, sau khi đến đã nói với bà Visākhā mẹ của Migāra điều này:
- Thưa bà, các tỳ khưu không có ở trong tu viện, tu
viện thì trống không.
Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra là người trí tuệ,
kinh nghiệm, thông minh đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là các ngài
đại đức sau khi đã làm cho mát mẻ thân hình, có cơ thể được khoẻ khoắn,
nên đã mặc y rồi đi vào trú xá của mình. Cô gái đần độn này đây đã nghĩ
rằng: ‘Các tỳ khưu không có ở trong tu viện, tu viện thì trống không,’”
nên lại bảo người tớ gái rằng:
- Này em, hãy đi. Sau khi đến tu viện, hãy thông
báo thời giờ rằng: “Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.”
Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, hãy sẵn sàng y bát, đã đến thời
điểm của bữa ăn.
- Bạch ngài, xin vâng. Các vị tỳ khưu ấy đã đáp lời
đức Thế Tôn
Sau đó, giống như người đàn ông có sức mạnh có thể
duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi
ra, tương tợ như thế đức Thế Tôn đã biến mất tại Jetavana rồi hiện ra ở
cổng nhà của bà Visākhā mẹ của Migāra. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống trên
chỗ ngồi đã được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu.
Khi ấy , bà Visākhā mẹ của Migāra (nghĩ rằng): “Thật
kỳ diệu thay! Thật phi thường thay! Đức Như Lai có đại thần lực, có đại
oai lực! Bởi vì trong khi cơn lụt đang dâng tới mức đầu gối, trong khi
cơn lụt đang dâng lên tới hông thế mà không một vị tỳ khưu nào có các
bàn chân hoặc các y bị ướt!” nên mừng rỡ phấn chấn rồi đã tự tay làm
hài lòng và thỏa mãn hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn
thượng hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn
tay đã rời khỏi bình bát, bà Visākhā mẹ của Migāra đã ngồi xuống ở một
bên. Khi đã ngồi xuống một bên, bà Visākhā mẹ của Migāra đã nói với đức
Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, con cầu xin đức Thế Tôn tám điều ước
muốn.
- Này Visākhā, các đấng Như Lai đã vượt khỏi các
điều ước muốn.
- Bạch ngài, các điều ấy là hợp lý, các điều ấy
không bị chê trách.
- Này Visākhā, hãy nói đi.
- Bạch ngài, con muốn dâng vải choàng (tắm) mưa đến
hội chúng, dâng bữa ăn dành cho vị vãng lai (āgantukabhattaṃ), dâng bữa
ăn dành cho vị ra đi (gamikabhattaṃ), dâng bữa ăn dành cho vị bị bệnh
(gilānabhattaṃ), dâng bữa ăn dành cho vị chăm sóc bệnh
(gilānupaṭṭhākabhattaṃ), dâng dược phẩm dành cho vị bị bệnh
(gilānabhesajjaṃ), dâng cháo hàng ngày (dhuvayāguṃ), dâng vải choàng tắm
(udakasāṭikaṃ) đến hội chúng tỳ khưu ni đến trọn đời.
- Này Visākhā, trong khi thấy rõ sự hữu dụng gì mà
bà lại cầu xin Như Lai tám điều ước muốn?
- Bạch ngài, ở đây con đã bảo người tớ gái rằng: “Này
em, hãy đi. Sau khi đến tu viện, hãy thông báo thời giờ rằng: ‘Bạch
ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong’.” Khi ấy, người tớ gái
ấy đã đi đến tu viện và nhìn thấy các vị tỳ khưu có các y đã được cởi ra
và đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa, sau khi nhìn thấy (nghĩ rằng):
“Các tỳ khưu không có ở trong tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể
đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa” rồi đã đi đến gặp con, sau
khi đến đã nói với con điều này: “Thưa bà, các tỳ khưu không có ở
trong tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm
nước mưa.” Bạch ngài, sự trần truồng là không tinh khiết, ghê tởm,
bị lên án. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng
đến hội chúng vải choàng (tắm) mưa đến trọn đời.
Bạch ngài còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu vãng lai
không rành rẽ đường xá, không rành rẽ khu vực, đi khất thực trong khi
đang mệt nhọc. Vị ấy sau khi thọ thực bữa ăn dành cho vị vãng lai của
con được rành rẽ đường xá, được rành rẽ khu vực, sẽ đi khất thực trong
khi không còn mệt nhọc. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà
con muốn dâng đến hội chúng bữa ăn dành cho vị vãng lai đến trọn đời.
Bạch ngài còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu ra đi
trong khi tự mình tìm kiếm vật thực sẽ bị trễ đoàn lữ hành, hoặc sẽ đến
nơi (mà vị ấy) có ý muốn đi đến vào lúc trời tối, sẽ phải đi đường xa
trong khi đang mệt nhọc. Vị ấy sau khi thọ thực bữa ăn dành cho vị ra đi
của con sẽ không bị trễ đoàn lữ hành, sẽ không đến nơi (mà vị ấy) có ý
muốn đi đến vào lúc trời tối, sẽ đi đường xa trong khi không mệt nhọc.
Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội
chúng bữa ăn dành cho vị ra đi đến trọn đời.
Bạch ngài còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu bị bệnh
trong khi không nhận được các thức ăn thích hợp, bệnh tình sẽ trầm
trọng, hoặc sẽ chết đi. Trong khi vị ấy thọ dụng bữa ăn dành cho vị bệnh
của con, bệnh tình sẽ không trầm trọng, sẽ không chết đi. Bạch ngài,
trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng bữa ăn
dành cho vị bị bệnh đến trọn đời.
Bạch ngài còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu là vị
chăm sóc bệnh trong khi tự mình tìm kiếm thức ăn sẽ đem lại bữa ăn của
vị bệnh lúc mặt trời đã lên (cao) và sẽ bị lỡ bữa ăn. Vị ấy sau khi thọ
dụng bữa ăn dành cho vị chăm sóc bệnh của con sẽ đem lại thức ăn của vị
bệnh lúc đúng thời và sẽ không bị lỡ bữa ăn. Bạch ngài, trong khi thấy
rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng bữa ăn dành cho vị
chăm sóc bệnh đến trọn đời.
Bạch ngài còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu bị bệnh
trong khi không nhận được các loại dược phẩm thích hợp, bệnh tình sẽ
trầm trọng, hoặc sẽ chết đi. Trong khi vị ấy thọ dụng dược phẩm dành cho
vị bệnh của con, bệnh tình sẽ không trầm trọng, sẽ không chết đi. Bạch
ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng
dược phẩm dành cho vị bị bệnh đến trọn đời.
Bạch ngài còn có điều khác nữa, ở Andhakavinda do
thấy rõ mười điều lợi ích mà đức Thế Tôn đã cho phép (thọ dụng) cháo.
Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội
chúng cháo hàng ngày đến trọn đời.
Bạch ngài còn có điều khác nữa, các tỳ khưu ni
trong khi tắm trần truồng với các cô điếm ở một bãi tắm của sông
Aciravatī, bạch ngài các cô điếm ấy đã chế giễu các tỳ khưu ni rằng: “Các
bà đại đức ơi, vì điều gì mà các bà thực hành Phạm hạnh trong lúc đang
còn trẻ vậy? Chớ không phải là các dục lạc nên được thỏa thích hay sao?
Khi nào trở nên già cả, các bà sẽ thực hành Phạm hạnh, như thế các bà sẽ
vớ được cả hai đầu mối.” Bạch ngài, khi bị các cô điếm chế giễu các
tỳ khưu ni ấy đã mắc cở. Bạch ngài, sự trần truồng của phụ nữ là không
tinh khiết, ghê tởm, bị lên án. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng
này mà con muốn dâng đến hội chúng tỳ khưu ni vải choàng tắm đến trọn
đời.
- Này Visākhā, trong khi thấy rõ lợi ích gì mà bà
lại cầu xin Như Lai tám điều ước muốn?
- Bạch ngài, ở đây các tỳ khưu đã sống qua mùa (an
cư) mưa ở các phương sẽ đi đến Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn, các vị
ấy sau khi đi đến gặp đức Thế Tôn sẽ hỏi rằng: “Bạch ngài, vị tỳ khưu
tên (như vầy) đã từ trần. Cõi tái sanh của vị ấy là gì? Cảnh giới tương
lai của vị ấy là gì?” Đức Thế Tôn sẽ nói về vị ấy rằng: “Trong
quả vị Nhập Lưu, hoặc là trong quả vị Nhất Lai, hoặc là trong quả vị Bất
Lai, hoặc là trong quả vị A-la-hán.” Con sẽ đi đến gặp (các vị) và
hỏi rằng: “Thưa các ngài, có phải vị đại đức ấy trước đây đã đi đến
Sāvatthi?” Nếu các vị trả lời con rằng: “Vị tỳ khưu ấy trước đây
đã đi đến Sāvatthi.” Trường hợp ấy, con sẽ đi đến kết luận là: “Chắc
chắn rằng vị đại đức ấy đã thọ dụng hoặc là vải choàng (tắm) mưa, hoặc
là bữa ăn dành cho vị vãng lai, hoặc là bữa ăn dành cho vị ra đi, hoặc
là bữa ăn dành cho vị bị bệnh, hoặc là bữa ăn dành cho vị chăm sóc bệnh,
hoặc là dược phẩm dành cho vị bị bệnh, hoặc là cháo hàng ngày.”
Trong khi nhớ lại điều ấy, sự hân hoan sẽ được sanh khởi ở con đây, do
sự hân hoan mà hỷ sẽ được sanh khởi, do tâm có hỷ mà thân sẽ khinh an,
do thân được khinh an con sẽ cảm giác sự an lạc, có sự an lạc tâm sẽ
được định, con sẽ có được sự tu tập về Căn Quyền, có sự tu tập về Lực,
có sự tu tập về Giác Chi. Bạch ngài, trong khi thấy rõ lợi ích này mà
con cầu xin Như Lai tám điều ước muốn.
- Này Visākhā, thật tốt lắm, thật tốt lắm! Này
Visākhā, thật tốt thay trong khi thấy rõ lợi ích này mà bà cầu xin Như
Lai tám điều ước muốn. Này Visākhā, ta cho phép bà tám điều ước muốn.
Sau đó, đức Thế Tôn đã tùy hỷ công đức cho bà
Visākhā mẹ của Migāra bằng những lời kệ này:
[154]
Trong khi dâng cơm nước
nữ nhân được hân hoan,
thành tựu về giới luật
là đệ tử Thiện Thệ.
Vượt qua được bỏn xẻn,
người cúng dường vật thí
được hứa hẹn cõi trời,
hết sầu được an lạc.
Cô ấy đạt sức mạnh
và tuổi thọ của trời
đã đi vào đạo lộ
không nhiễm ô, thanh tịnh.
Cô ấy mong tạo phước
được an lạc, vô bệnh,
và vui hưởng dài lâu,
trong cuộc sống thiên đình.
[155] Sau đó, khi đã tùy hỷ công đức cho bà Visākhā
mẹ của Migāra bằng những lời kệ này, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy
và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết
Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho phép vải choàng (tắm)
mưa, bữa ăn dành cho vị vãng lai, bữa ăn dành cho vị ra đi, bữa ăn dành
cho vị bị bệnh, bữa ăn dành cho vị chăm sóc bệnh, dược phẩm dành cho vị
bị bệnh, cháo hàng ngày, vải choàng tắm đến hội chúng tỳ khưu ni.
Dứt
tụng phẩm Visākhā.
[156] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu sau khi thọ
thực thức ăn thượng hạng, có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và
rơi vào giấc ngủ. Trong khi các vị có niệm bị xao lãng, không được giác
tĩnh, và rơi vào giấc ngủ rồi tinh dịch bị xuất ra do chiêm bao khiến
chỗ nằm ngồi bị lấm lem vì chất dơ. Khi ấy, đức Thế Tôn trong lúc đang
đi dạo quanh các trú xá cùng với đại đức Ānanda là sa-môn hầu cận đã
nhìn thấy chỗ nằm ngồi bị lấm lem vì chất dơ, sau khi nhìn thấy đã bảo
đại đức Ānanda rằng:
- Này Ānanda, tại sao chỗ nằm ngồi này bị lấm lem?
- Bạch ngài, hiện nay các vị tỳ khưu sau khi thọ
thực thức ăn thượng hạng, có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và
rơi vào giấc ngủ. Trong khi các vị có niệm bị xao lãng, không được giác
tĩnh, và rơi vào giấc ngủ rồi tinh dịch bị xuất ra do chiêm bao. Bạch
đức Thế Tôn, do đó chỗ nằm ngồi này bị lấm lem vì chất dơ.
- Này Ānanda, điều ấy là như thế! Này Ānanda, điều
ấy là như thế! Này Ānanda, tinh dịch bị xuất ra do chiêm bao vì các vị
ấy có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Này
Ānanda, các vị tỳ khưu nào có niệm được thiết lập, được giác tĩnh, và
rơi vào giấc ngủ, tinh dịch của các vị ấy không bị xuất ra. Này Ānanda,
các vị nào dầu là phàm nhân đã xa lìa sự tham đắm trong các dục, tinh
dịch của các vị ấy không bị xuất ra. Này Ānanda, tinh dịch của vị
A-la-hán có thể bị xuất ra là điều không có thực tế, không có cơ sở.
Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy
đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ở đây trong lúc đang đi dạo
quanh các trú xá cùng với Ānanda là sa-môn hầu cận ta đã nhìn thấy chỗ
nằm ngồi bị lấm lem vì chất dơ, sau khi nhìn thấy đã hỏi Ānanda rằng: “Này
Ānanda, tại sao chỗ nằm ngồi này bị lấm lem?” “Bạch ngài, hiện
nay các vị tỳ khưu sau khi thọ thực thức ăn thượng hạng, có niệm bị xao
lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Trong khi các vị có
niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ, rồi tinh
dịch bị xuất ra do chiêm bao. Bạch đức Thế Tôn, do đó chỗ nằm ngồi này
đã bị lấm lem vì chất dơ.” “Này Ānanda, điều ấy là như thế! Này
Ānanda, điều ấy là như thế! Này Ānanda, tinh dịch bị xuất ra do chiêm
bao vì các vị ấy có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào
giấc ngủ. Này Ānanda, các vị tỳ khưu nào có niệm được thiết lập, được
giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ, tinh dịch của các vị ấy không bị xuất
ra. Này Ānanda, các vị nào dầu là phàm nhân đã xa lìa sự tham đắm trong
các dục, tinh dịch của các vị ấy không bị xuất ra. Này Ānanda, tinh dịch
của vị A-la-hán có thể bị xuất ra là điều không có thực tế, không có cơ
sở.” Này các tỳ khưu, đây là năm điều bất lợi của vị có niệm bị xao
lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ: (Vị ấy) ngủ khổ sở,
thức dậy khổ sở, thấy mộng điều ác xấu, chư thiên không hộ trì, tinh
dịch bị xuất ra. Này các tỳ khưu, đây là năm điều bất lợi của vị có niệm
bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Này các tỳ khưu,
đây là năm điều thuận lợi của vị có niệm được thiết lập, được giác tĩnh,
và rơi vào giấc ngủ: (Vị ấy) ngủ an lạc, thức dậy an lạc, không thấy
mộng điều ác xấu, chư thiên hộ trì, tinh dịch không bị xuất ra. Này các
tỳ khưu, đây là năm điều thuận lợi của vị có niệm được thiết lập, được
giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) y
lót ngồi (nisīdanaṃ) để bảo vệ cơ thể, để bảo vệ y, để bảo vệ chỗ ngồi.
Vào lúc bấy giờ, y lót ngồi quá nhỏ nên không bảo
vệ được toàn bộ chỗ ngồi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép làm tấm trải nằm
(paccattharanaṃ)[4]
lớn theo như (kích thước) mong muốn.
[157] Vào lúc bấy giờ, thầy tế độ của đại đức
Ānanda là đại đức Velaṭṭhasīsa có bệnh ghẻ sần sùi (thullakacchābādho).
Các y của vị ấy bị dính vào thân vì chất máu mủ, các vị tỳ khưu phải
liên tục tẩm ướt các y với nước và kéo ra. Đức Thế Tôn trong khi đi dạo
quanh các chỗ trú ngụ đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy liên tục tẩm ướt
các y với nước và kéo ra, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần các vị tỳ khưu
ấy, sau khi đến đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này:
- Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này bị bệnh gì vậy?
- Bạch ngài, đại đức này bị bệnh ghẻ sần sùi, các y
bị dính vào thân vì chất máu mủ, chúng con phải liên tục tẩm ướt các y
với nước và kéo ra.
Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy
đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) y đắp ghẻ
(kaṇḍupaṭicchādī) đến vị nào bị ghẻ ngứa, hoặc bị nhọt, hoặc có vết
thương chảy mủ, hoặc bị ghẻ sần sùi.
[158] Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra cầm cái khăn
lau mặt đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi
ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, bà Visākhā mẹ của
Migāra đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, xin hãy thọ lãnh cái khăn lau mặt của
con vì điều ấy đem lại sự lợi ích và sự an vui lâu dài cho con.
Đức Thế Tôn đã thọ nhận cái khăn lau mặt. Khi ấy,
đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi
cho bà Visākhā mẹ của Migāra bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được
đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng
bài Pháp thoại, bà Visākhā mẹ của Migāra đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh
lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, đức Thế
Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ
khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) khăn lau
mặt (mukhapuñchanacolaṃ).
[159] Vào lúc bấy giờ, Roja người Malla là bạn của
đại đức Ānanda. Tấm vải dệt bằng sợi lanh của Roja người Malla đã bị
đánh rơi nơi khuôn viên của đại đức Ānanda. Và đại đức Ānanda có nhu cầu
về vải dệt bằng sợi lanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép lấy do sự thân thiết
(đồ vật) của người hội đủ năm điều: là vị quen biết, thân thiết, (vị ấy)
đã nói trước, (vị ấy) còn sống, và vị lấy biết được rằng: “Khi được
ta lấy thì vị ấy sẽ hoan hỷ.” Này các tỳ khưu, ta cho phép lấy do sự
thân thiết (đồ vật) của người hội đủ năm điều này.
[160] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu có được đầy
đủ ba y nhưng có nhu cầu về các đồ lọc nước và túi mang. Các vị đã trình
sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép miếng vải phụ tùng
(parikkhāracolaṃ).
Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Các
vật nào đã được đức Thế Tôn cho phép như là ‘Ba y,’ hoặc là ‘Vải choàng
(tắm) mưa,’ hoặc là ‘Y lót ngồi,’ hoặc là ‘Tấm trải nằm,’ hoặc là ‘Y đắp
ghẻ,’ hoặc là ‘Khăn lau mặt,’ hoặc là ‘Miếng vải phụ tùng,’ tất cả các
thứ ấy cần được chú nguyện để dùng riêng (adhiṭṭhātuṃ) hay là chú nguyện
để dùng chung (vikappetuṃ)?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép chú nguyện để dùng
riêng ba y không được chú nguyện để dùng chung, chú nguyện để dùng riêng
vải choàng (tắm) mưa trong bốn tháng của mùa mưa sau đó chú nguyện để
dùng chung vào các tháng khác, chú nguyện để dùng riêng y lót ngồi không
được chú nguyện để dùng chung, chú nguyện để dùng riêng tấm trải nằm
không được chú nguyện để dùng chung, chú nguyện để dùng riêng y đắp ghẻ
lúc còn bị bệnh sau đó chú nguyện để dùng chung vào lúc khác, chú nguyện
để dùng riêng khăn lau mặt không được chú nguyện để dùng chung, chú
nguyện để dùng riêng miếng vải phụ tùng không được chú nguyện để dùng
chung.
Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Y
nên được chú nguyện để dùng chung (có kích thước) tối thiểu là bao nhiêu?”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép chú nguyện để dùng
chung y (có kích thước) tối thiểu với chiều dài là tám ngón tay với
chiều rộng là bốn ngón tay theo ngón tay tiêu chuẩn (sugataṅgulena).
Vào lúc bấy giờ, y làm bằng vải dơ bị quăng bỏ của
đại đức Mahākassapa là nặng nề. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) việc
mạng bằng chỉ.
(Y) có góc bị thừa. Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép cắt góc bị thừa.
Các mối chỉ bị xổ ra (ở chỗ bị cắt). Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép gắn vào miếng vải
viền hoặc miếng vải bọc lại.
Vào lúc bấy giờ, các mảnh vải của y hai lớp
(saṅghāṭi) bị tưa ra (lujjanti). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép làm (đường chỉ may)
ở tám chỗ (aṭṭhapadakam kātuṃ).
[161] Vào lúc bấy giờ, trong lúc y của vị tỳ khưu
nọ đang được làm, toàn bộ các mảnh cắt không đủ. Các vị đã trình sự việc
ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép hai (y) đã được cắt,
một (y) không cắt.
Hai (y) đã được cắt một (y) không cắt không đủ. Các
vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép hai (y) không cắt,
một (y) đã được cắt.
Hai (y) không cắt một (y) đã được cắt không đủ. Các
vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép đặt vào miếng vải
khác loại (anvādhikaṃ). Và này các tỳ khưu, không nên sử dụng toàn bộ
(ba y) không cắt; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[162] Vào lúc bấy giờ, có nhiều y được phát sanh
đến vị tỳ khưu nọ. Và vị ấy có ý muốn cho đến cha mẹ y ấy. Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, điều gì ta có thể nói trong khi
vị ấy cho đến cha mẹ? Này các tỳ khưu, ta cho phép cho đến cha mẹ. Và
này các tỳ khưu, không nên lãng phí vật bố thí vì đức tin; vị nào lãng
phí thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[163] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã để y hai
lớp (saṅghāṭi) trong khu rừng Andhavana rồi đi vào làng để khất thực với
y nội và thượng y. Những kẻ trộm đã lấy trộm y ấy. Vị tỳ khưu ấy trở
thành ăn mặc bê bối y phục luộm thuộm. Các tỳ khưu đã nói như vầy:
- Này đại đức, vì sao ngài lại trở thành ăn mặc bê
bối y phục luộm thuộm?
- Này các đại đức, ở đây tôi đã để y ở trong khu
rừng Andhavana rồi đi vào làng để khất thực với y nội và thượng y. Những
kẻ trộm đã lấy trộm y ấy, vì thế tôi trở thành ăn mặc bê bối y phục luộm
thuộm.
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, không nên đi vào làng với y nội
và thượng y; vị nào đi vào thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vào lúc bấy giờ, đại đức Ānanda vì thiếu sự ghi nhớ
nên đã đi vào làng để khất thực với y nội và thượng y. Các tỳ khưu đã
nói với đại đức Ānanda điều này:
- Này đại đức Ānanda, không phải đức Thế Tôn đã quy
định rằng: “Không nên đi vào làng với y nội và thượng y” hay sao?
Này đại đức, vì sao ngài đã đi vào làng với y nội và thượng y?
- Này các đại đức, điều đã được đức Thế Tôn quy
định rằng: “Không nên đi vào làng với y nội và thượng y” là sự
thật. Này các đại đức, tuy nhiên vì thiếu sự ghi nhớ nên tôi đã đi vào
(làng như thế).
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy,
đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo
các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, có năm điều kiện cho việc để lại
y hai lớp (saṅghāṭi): vị bị bệnh, hoặc là sự quy định về mùa mưa
(vassikasaṅketaṃ),[5]
hoặc là phải đi qua bên kia sông, hoặc là trú xá có sự an toàn với then
cài, hoặc là vị có Kaṭhina đã được thành tựu. Này các tỳ khưu,
đây là năm điều kiện cho việc để lại y hai lớp.
Này các tỳ khưu, có năm điều kiện cho việc để lại
thượng y (uttarāsaṅga): vị bị bệnh, hoặc là sự quy định về mùa mưa, hoặc
là phải đi qua bên kia sông, hoặc là trú xá có sự an toàn với then cài,
hoặc là vị có Kaṭhina đã được thành tựu. Này các tỳ khưu, đây là
năm điều kiện cho việc để lại thượng y.
Này các tỳ khưu, có năm điều kiện cho việc để lại y
nội (antaravāsaka): vị bị bệnh, hoặc là sự quy định về mùa mưa, hoặc là
phải đi qua bên kia sông, hoặc là trú xá có sự an toàn với then cài,
hoặc là vị có Kaṭhina đã được thành tựu. Này các tỳ khưu, đây là
năm điều kiện cho việc để lại y nội.
Này các tỳ khưu, có năm điều kiện cho việc để lại
vải choàng (tắm) mưa (vassikasāṭikā): vị bị bệnh, hoặc là sự quy định về
mùa mưa, hoặc là phải đi ra khỏi ranh giới, hoặc là phải đi qua bên kia
sông, hoặc là trú xá có sự an toàn với then cài, hoặc là vải choàng
(tắm) mưa không được làm hoặc được làm chưa hoàn tất. Này các tỳ khưu,
đây là năm điều kiện cho việc để lại vải choàng (tắm) mưa.
[164] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sống mùa
(an cư) mưa có một mình. Ở đó, dân chúng đã dâng các y (nói rằng): “Chúng
tôi dâng đến hội chúng.” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy khởi đã ý điều này: “Đức
Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Hội chúng tối thiểu là nhóm bốn vị’ và ta chỉ
có mỗi một mình. Và các người này đã dâng các y (nói rằng): ‘Chúng tôi
dâng đến hội chúng,’ hay là ta nên đem các y thuộc về hội chúng này đến
Sāvatthi?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã cầm lấy các y ấy đi đến Sāvatthi
và trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, các y ấy là của chính ngươi cho đến
khi hết hiệu lực của Kaṭhina. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ
khưu sống mùa (an cư) mưa có một mình. Ở đó, dân chúng dâng các y (nói
rằng): “Chúng tôi dâng đến hội chúng.” Này các tỳ khưu, ta cho
phép các y ấy là của chính vị ấy cho đến khi hết hiệu lực của Kaṭhina.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sống ngoài mùa
(an cư) mưa có một mình. Ở đó, dân chúng đã dâng các y (nói rằng): “Chúng
tôi dâng đến hội chúng.” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức
Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Hội chúng ít nhất là nhóm bốn vị’ và ta chỉ
có mỗi một mình. Và các người này đã dâng các y (nói rằng): ‘Chúng tôi
dâng đến hội chúng,’ hay là ta nên đem các y thuộc về hội chúng này đến
Sāvatthi?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã cầm lấy các y ấy đi đến Sāvatthi
và trình sự việc ấy đến các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đã trình sự việc
ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép chia ra cho hội
chúng đang hiện diện. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu sống ngoài
mùa (an cư) mưa có một mình. Ở đó, dân chúng dâng các y (nói rằng): “Chúng
tôi dâng đến hội chúng.” Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu ấy
chú nguyện các y ấy rằng: “Những y này là của tôi.” Này các tỳ
khưu, nếu trong khi y ấy chưa được chú nguyện thành của vị tỳ khưu ấy
thì có vị tỳ khưu khác đi đến, nên chia thành phần đồng đều nhau. Này
các tỳ khưu, nếu trong khi y ấy đang được chia bởi các vị tỳ khưu ấy
nhưng chưa được bốc thăm thì có vị tỳ khưu khác đi đến, nên chia thành
phần đồng đều nhau. Này các tỳ khưu, nếu trong khi y ấy đang được chia
bởi các vị tỳ khưu ấy và đã được bốc thăm thì có tỳ khưu khác đi đến,
không cần phải chia phần nếu không thích.
Vào lúc bấy giờ, có hai vị trưởng lão là anh em:
đại đức Isidāsa và đại đức Isibhatta đã sống qua mùa (an cư) mưa ở
Sāvatthi rồi đã đi đến chỗ trú ngụ là ngôi làng nọ. Dân chúng (nghĩ
rằng): “Đã lâu lắm các trưởng lão mới ghé đến” rồi đã dâng các
thức ăn cùng với các y. Các tỳ khưu thường trú đã hỏi hai vị trưởng lão
rằng:
- Thưa các ngài, những y thuộc hội chúng này đã
được phát sanh nhờ vào (niềm tin nơi) các trưởng lão, các trưởng lão sẽ
hoan hỷ phần chia hay không?
Hai vị trưởng lão đã nói như vầy:
- Này các đại đức, theo như chúng tôi biết về Pháp
đã được thuyết giảng bởi đức Thế Tôn thì các y ấy là thuộc về của chính
các vị cho đến khi Kaṭhina hết hiệu lực.
Vào lúc bấy giờ, có ba vị tỳ khưu sống mùa (an cư)
mưa ở trong thành Rājagaha. Ở đó, dân chúng dâng các y (nói rằng): “Chúng
tôi dâng đến hội chúng.” Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều
này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Hội chúng ít nhất là nhóm bốn
vị” và chúng ta chỉ có ba người. Và các người này dâng các y (nói rằng):
‘Chúng tôi dâng đến hội chúng,’ vậy chúng ta nên thực hành thế nào?”
Vào lúc bấy giờ, có nhiều trưởng lão là đại đức Nīlavāsī, đại đức
Sāṇavāsī, đại đức Gopaka, đại đức Bhagu, và đại đức Phalikasandāna cư
ngụ tại Pāṭaliputta ở tu viện Kukkuṭa. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã đi
đến Pāṭaliputta và hỏi các vị trưởng lão. Các vị trưởng lão đã nói như
vầy:
- Này các đại đức, theo như chúng tôi biết về Pháp
đã được thuyết giảng bởi đức Thế Tôn thì các y ấy là thuộc về của chính
các vị cho đến khi Kaṭhina hết hiệu lực.
[165] Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai
giòng Sākya đã sống qua mùa (an cư) mưa ở Sāvatthi rồi đã đi đến
chỗ trú ngụ là ngôi làng nọ. Ở đó, các vị tỳ khưu đã tụ hội lại với ý
định chia y. Các vị ấy đã nói như vầy:
- Này đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được
chia ra, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?
- Này các đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận.
Sau khi nhận phần y ở nơi đó, vị ấy đã đi sang trú
xứ khác. Ở nơi đó, các vị tỳ khưu đã tụ hội lại với ý định chia y. Các
vị ấy cũng đã nói như vầy:
- Này đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được
chia ra, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?
- Này các đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận.
Sau khi nhận phần y ở nơi đó nữa, vị ấy đã đi sang
trú xứ khác. Ở nơi đó, các vị tỳ khưu đã tụ hội lại với ý định chia y.
Các vị ấy cũng đã nói như vầy:
- Này đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được
chia ra, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?
- Này các đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận.
Sau khi nhận phần y ở nơi đó nữa, vị ấy đã cầm lấy
gói y lớn rồi quay trở về lại Sāvatthi. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy:
- Này đại đức Upananda, ngài có được nhiều phước
báu. Nhiều y đã được phát sanh đến ngài.
- Này các đại đức, tôi có phước báu là do đâu? Ở
đây, tôi đã sống qua mùa (an cư) mưa ở Sāvatthi rồi đã đi đến chỗ trú
ngụ là ngôi làng nọ. Ở đó, các vị tỳ khưu đã tụ hội lại với ý định chia
y. Các vị ấy đã nói với tôi như vầy: “Này đại đức, các y này thuộc về
hội chúng sẽ được chia ra, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?” “Này
các đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận.” Sau khi nhận phần y ở nơi
đó, tôi đã đi sang trú xứ khác. Ở nơi đó, các vị tỳ khưu đã tụ hội lại
với ý định chia y. Các vị ấy cũng đã nói với tôi như vầy: “Này đại
đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được chia ra, ngài sẽ chấp nhận
phần chia hay không?” “Này các đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp
nhận.” Sau khi nhận phần y ở nơi đó nữa, tôi đã đi sang trú xứ khác.
Ở nơi đó, các vị tỳ khưu đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy cũng
đã nói với tôi như vầy: “Này đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ
được chia ra, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?” “Này các
đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận.” Tôi đã nhận phần chia y ở nơi
đó nữa, như thế mà nhiều y đã được phát sanh đến tôi.
- Này đại đức Upananda, có phải ngài đã sống mùa
(an cư) mưa ở nơi khác và chấp nhận phần chia y ở nơi khác?
- Này các đại đức, đúng vậy.
Các tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao đại đức Upananda đã sống mùa (an cư) mưa ở
nơi khác lại chấp nhận phần chia y ở nơi khác?
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này Upananda, nghe nói ngươi đã sống mùa (an cư)
mưa ở nơi khác và chấp nhận phần chia y ở nơi khác, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi sống mùa (an cư) mưa
ở nơi khác lại chấp nhận phần chia y ở nơi khác? Này kẻ rồ dại, việc sự
việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như
trên)…
Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi
bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, vị sống mùa (an cư) mưa ở nơi
khác không nên chấp nhận phần chia y ở nơi khác; vị nào chấp nhận thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda một mình đã sống
mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ (nghĩ rằng): “Như vầy nhiều y sẽ được
phát sanh đến ta.” Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Phần
san sẻ về y nên được cho đến đại đức Upananda như thế nào?” Các vị
đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, hãy cho đến kẻ rồ dại phần của
một người. Này các tỳ khưu, trường hợp một vị tỳ khưu sống mùa (an cư)
mưa ở hai trú xứ[6]
(nghĩ rằng): “Như vầy nhiều y sẽ được phát sanh đến ta.” Nếu vị
ấy sống chỗ này một nửa (thời gian) chỗ kia một nửa (thời gian) thì nên
cho phần san sẻ về y (cīvarapaṭiviso) gồm một nửa của nơi này một nửa
của nơi kia, hoặc ở chỗ nào vị ấy sống nhiều hơn thì phần san sẻ về y
nên được cho từ chỗ đó.
[166] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh
kiết lỵ. Vị ấy đã bị té vào đống phân và nước tiểu của chính mình. Khi
ấy, trong lúc đang đi dạo quanh các trú xá cùng với đại đức Ānanda là
sa-môn hầu cận, đức Thế Tôn đã đi đến trú xá của vị tỳ khưu ấy. Đức Thế
Tôn đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy té và đang nằm trên đống phân và nước
tiểu của chính mình, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần vị tỳ khưu ấy, sau
khi đến đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:
- Này tỳ khưu, ngươi bị bệnh gì?
- Bạch Thế Tôn, con bị bệnh kiết lỵ.
- Này tỳ khưu, ngươi không có người phục vụ?
- Bạch Thế Tôn, không có.
- Vì sao các vị tỳ khưu lại không phục vụ ngươi?
- Bạch ngài, con là người không có làm gì cho các
vị tỳ khưu, do đó các vị tỳ khưu không phục vụ con.
Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng:
- Này Ānanda, hãy đi và mang nước lại. Chúng ta sẽ
tắm cho vị tỳ khưu này.
- Bạch ngài, xin vâng.
Rồi đại đức Ānanda nghe theo đức Thế Tôn đã mang
nước lại. Đức Thế Tôn đã xối nước và đại đức Ānanda đã rửa ráy toàn bộ.
Rồi đức Thế Tôn đã đỡ phần đầu còn đại đức Ānanda nâng lên ở phần chân
và đặt ở trên giường. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy
đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại rồi hỏi các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, có phải có vị tỷ kheo trong trú
xá ở đàng kia bị bệnh?
- Bạch Thế Tôn, thưa có.
- Này các tỳ khưu, vị ấy bị bệnh gì?
- Bạch ngài, đại đức ấy bị bệnh kiết lỵ.
- Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có người phục vụ
không?
- Bạch Thế Tôn, không có.
- Vì sao các tỳ khưu lại không phục vụ vị ấy?
- Bạch ngài, vị tỳ khưu ấy là người không có làm gì
cho các tỳ khưu, do đó các tỳ khưu không phục vụ vị ấy.
- Này các tỳ khưu, các ngươi không có mẹ, không có
cha là những người có thể phục vụ các ngươi. Này các tỳ khưu, nếu các
ngươi không phục vụ lẫn nhau thì khi ấy lấy ai sẽ phục vụ đây? Này các
tỳ khưu, vị nào có thể phục vụ ta, vị ấy nên phục vụ những người bệnh.
Nếu có thầy tế độ, thầy tế độ nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi
vị ấy được hồi phục. Nếu có thầy dạy học, thầy dạy học nên phục vụ đến
hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có đệ tử, người đệ tử
nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có học
trò, người học trò nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được
hồi phục. Nếu có vị đồng thầy tế độ, vị đồng thầy tế độ nên phục vụ đến
hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có vị đồng thầy dạy
học, vị đồng thầy dạy học nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy
được hồi phục. Nếu không có thầy tế độ, hoặc thầy dạy học, hoặc người đệ
tử, hoặc người học trò, hoặc vị đồng thầy tế độ, hoặc vị đồng thầy dạy
học, hội chúng nên phục vụ; nếu không phục vụ thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Này các tỳ khưu, vị bị bệnh là khó phục vụ khi hội
đủ năm điều: Là vị không làm việc cần làm; là vị không biết sự vừa phải
trong việc cần làm; là vị không quen dùng dược phẩm; là vị không giải
thích cho người phục vụ bệnh nhân luôn muốn điều tốt đẹp một cách rõ
ràng, đúng theo thực trạng như (bệnh) đã tăng thêm là “(Bệnh) đã tăng
thêm,” (bệnh) đã giảm là: “(Bệnh) đã giảm,” (bệnh) ổn định
là: “(Bệnh) ổn định;” là loại người không chịu đựng được các cảm
thọ khổ, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu,
chết người thuộc cơ thể đã sanh khởi. Này các tỳ khưu, người bệnh hội đủ
năm điều này là khó phục vụ.
Này các tỳ khưu, vị bị bệnh là dễ phục vụ khi hội
đủ năm điều: Là vị làm việc cần làm; là vị biết sự vừa phải trong việc
cần làm; là vị quen dùng dược phẩm; là vị giải thích cho người phục vụ
bệnh nhân luôn muốn điều tốt đẹp một cách rõ ràng, đúng theo thực trạng
như (bệnh) đã tăng thêm là “(Bệnh) đã tăng thêm,” (bệnh) đã giảm
là: “(Bệnh) đã giảm,” (bệnh) ổn định là: “(Bệnh) ổn định;”
là loại người chịu đựng được các cảm thọ khổ, khốc liệt, sắc bén, gay
gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc cơ thể đã sanh
khởi. Này các tỳ khưu, người bệnh hội đủ năm điều này là dễ phục vụ.
Này các tỳ khưu, người phục vụ bệnh nhân không
thích hợp để phục vụ người bệnh là vị hội đủ năm điều: Là vị không có
khả năng để phân phát thuốc men; không biết điều gì cần làm và điều gì
không cần làm, làm điều không cần thiết và không làm điều cần thiết;
phục vụ người bệnh vì mục đích tài vật và không có tâm từ; ghê tởm việc
dọn dẹp nước tiểu, phân, nước giải, vật nôn mửa; không có khả năng để
chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người bệnh
bằng bài Pháp thoại lúc này lúc khác. Này các tỳ khưu, người phục vụ
bệnh nhân hội đủ năm điều này là không thích hợp để phục vụ người bệnh.
Này các tỳ khưu, người phục vụ bệnh nhân thích hợp
để phục vụ người bệnh là vị hội đủ năm điều: Là vị có khả năng để phân
phát thuốc men; biết điều gì cần làm và điều gì không cần làm, không làm
điều không cần thiết và làm điều cần thiết; có tâm từ và phục vụ người
bệnh không vì mục đích tài vật; không ghê tởm việc dọn dẹp nước tiểu,
phân, nước giải, vật nôn mửa; có khả năng để chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến
khích, và tạo niềm phấn khởi cho người bệnh bằng bài Pháp thoại lúc này
lúc khác. Này các tỳ khưu, người phục vụ bệnh nhân hội đủ năm điều này
là thích hợp để phục vụ người bệnh.
[167] Vào lúc bấy giờ, có hai vị tỳ khưu đang đi
đường xa trong xứ Kosala. Hai vị ấy đã đi đến trú xứ nọ. Ở đó, có vị tỳ
khưu nọ bị bệnh. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã bàn bạc điều này: “Này
đại đức, việc phục vụ người bệnh đã được đức Thế Tôn khen ngợi. Này đại
đức, vậy chúng ta hãy phục vụ vị tỳ khưu này.” Các vị ấy đã phục vụ
vị kia. Trong khi được các vị ấy phục vụ, vị kia đã từ trần. Sau đó, các
vị tỳ khưu đã cầm lấy y bát của vị tỳ khưu kia đi đến Sāvatthi và đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu khi từ trần,
hội chúng là chủ của các y và bình bát, tuy nhiên các vị phục vụ người
bệnh lại có nhiều công đức. Này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho các vị
phục vụ người bệnh ba y và bình bát thông qua hội chúng. Và này các tỳ
khưu, nên được ban cho như vầy:
Vị tỳ khưu phục vụ người bệnh ấy nên đi đến gặp hội
chúng và nên nói như vầy: “Bạch các ngài, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã
từ trần, đây là ba y và bình bát của vị ấy.” Hội chúng cần được
thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã từ trần, đây là ba y và bình bát của vị ấy.
Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho ba y và bình
bát này đến các vị phục vụ người bệnh. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã từ trần, đây là ba y và bình bát của vị ấy.
Hội chúng cho ba y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh. Đại
đức nào đồng ý việc cho ba y và bình bát này đến các vị phục vụ người
bệnh xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Ba y và bình bát này đã được hội chúng cho đến
các vị phục vụ người bệnh. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im
lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Vào lúc bấy giờ, có vị sa di nọ từ trần. Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, đối với vị sa di khi từ trần,
hội chúng là chủ của các y và bình bát, tuy nhiên các vị phục vụ người
bệnh lại có nhiều công đức. Này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho các vị
phục vụ người bệnh y và bình bát thông qua hội chúng. Và này các tỳ
khưu, nên được ban cho như vầy:
Vị tỳ khưu phục vụ người bệnh ấy nên đi đến gặp hội
chúng và nên nói như vầy: “Bạch các ngài, vị sa di tên (như vầy) đã
từ trần, đây là y và bình bát của vị ấy.” Hội chúng cần được thông
báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Vị sa di tên (như vầy) đã từ trần, đây là y và bình bát của vị ấy. Nếu
là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho y và bình bát
này đến các vị phục vụ người bệnh. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Vị sa di tên (như vầy) đã từ trần, đây là y và bình bát của vị ấy. Hội
chúng cho y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh. Đại đức nào
đồng ý việc cho y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh xin im
lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Y và bình bát này đã được hội chúng cho đến các
vị phục vụ người bệnh. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng,
tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ và vị sa di đã
phục vụ vị bị bệnh. Trong khi được các vị ấy phục vụ, vị kia đã từ trần.
Khi ấy, vị tỳ khưu phục vụ người bệnh đã khởi ý điều này: “Phần san
sẻ về y của vị sa di là vị phục vụ người bệnh nên được cho như thế nào
đây?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho phép cho đến vị sa di là
vị phục vụ người bệnh phần san sẻ đồng đều.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có nhiều đồ đạc
và có nhiều vật dụng đã từ trần. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn.
- Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu khi từ trần,
hội chúng là chủ của các y và bình bát, tuy nhiên các vị phục vụ người
bệnh lại có nhiều công đức. Này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho các vị
phục vụ người bệnh ba y và bình bát thông qua hội chúng, (cho phép) hội
chúng đang hiện diện phân chia đồ đạc loại nhẹ và vật dụng loại nhẹ ở
nơi ấy, (cho phép) đồ đạc loại nặng và vật dụng cần thiết loại nặng ở
nơi ấy là của hội chúng bốn phương đã đi đến hoặc sẽ đi đến, không được
phân tán, không được phân chia.
[168] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi làm
cho trở thành trần truồng rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã
nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, đức Thế Tôn là người thường ngợi khen
về sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự
không gom góp, sự ra sức tinh tấn bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, sự
trần truồng này đưa đến sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự tận diệt, sự đoạn
trừ, sự hài lòng, sự không gom góp, sự ra sức tinh tấn theo nhiều phương
thức. Bạch ngài, tốt đẹp thay xin đức Thế Tôn hãy cho phép sự trần
truồng đến các tỳ khưu.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, ...(như
trên)... Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi lại thực hành nghi thức của ngoại
đạo là sự lõa thể? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho
những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)...
Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi
bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, không nên thực hành nghi thức
của ngoại đạo là sự lõa thể; vị nào thực hành thì phạm tội
thullaccaya (trọng tội).
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ che thân bằng cỏ
kusa ...(như trên)... che thân bằng vỏ cây ...(như trên)... che
thân bằng tấm ván gỗ ...(như trên)... che thân bằng mền dệt bằng tóc
...(như trên)... che thân bằng mền dệt bằng lông ngựa ...(như trên)...
che thân bằng cánh chim cú ...(như trên)... che thân bằng da linh dương
rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều
này:
- Bạch ngài, đức Thế Tôn là người thường ngợi khen
về sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự
không gom góp, sự ra sức tinh tấn bằng nhiều phương thức. Bạch ngài,
(việc che thân bằng) da linh dương này đưa đến sự ít ham muốn, sự biết
đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự không gom góp, sự ra sức
tinh tấn theo nhiều phương thức. Bạch ngài, tốt đẹp thay xin đức Thế Tôn
hãy cho phép (việc che thân bằng) da linh dương đến các tỳ khưu.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, ...(như
trên)... Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi lại mặc biểu tượng của ngoại đạo
là (che thân bằng) da linh dương? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem
lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)...
Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi
bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, không nên mặc biểu tượng của
ngoại đạo là (che thân bằng) da linh dương; vị nào mặc thì phạm tội
thullaccaya (trọng tội).
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ mặc (y làm bằng)
sợi của cây akka, ...(như trên)... mặc (y làm bằng) sợi của cây
makaci rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức
Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, đức Thế Tôn là người thường ngợi khen
về sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự
không gom góp, sự ra sức tinh tấn bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, (y
làm bằng) sợi của cây makaci này đưa đến sự ít ham muốn, sự biết
đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự không gom góp, sự ra sức
tinh tấn theo nhiều phương thức. Bạch ngài, tốt đẹp thay xin đức Thế Tôn
hãy cho phép (y làm bằng) sợi của cây makaci đến các tỳ khưu.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, ...(như
trên)... Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi lại mặc (y làm bằng) sợi của cây
makaci? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho
những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)...
Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi
bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, không nên mặc (y làm bằng) sợi
của cây makaci; vị nào mặc thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[169] Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư mặc
các y toàn màu xanh đậm, mặc các y toàn màu vàng, mặc các y toàn màu đỏ,
mặc các y toàn màu đỏ sậm, mặc các y toàn màu đen, mặc các y toàn màu
nổi bật, mặc các y toàn màu sáng chói, mặc các y không cắt đường viền,
mặc các y có đường viền rộng, mặc các y có đường viền vẽ bông hoa, mặc
các y có đường viền vẽ hình rắn hổ mang, mặc áo choàng ngắn, mặc loại
vải dệt bằng sợi vỏ cây tirīṭaka, mang khăn xếp đội đầu. Dân
chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy?
Các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn.
- Này các tỳ khưu, không nên mặc các y toàn màu
xanh đậm, không nên mặc các y toàn màu vàng, không nên mặc các y toàn
màu đỏ, không nên mặc các y toàn màu đỏ sậm, không nên mặc các y toàn
màu đen, không nên mặc các y toàn màu nổi bật, không nên mặc các y toàn
màu sáng chói, không nên mặc các y không cắt đường viền, không nên mặc
các y có đường viền rộng, không nên mặc các y có đường viền vẽ bông hoa,
không nên mặc các y có đường viền vẽ hình rắn hổ mang, không nên mặc áo
choàng ngắn, không nên mặc loại vải dệt bằng sợi vỏ cây tirīṭaka,
không nên mang khăn xếp đội đầu; vị nào mang thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
[170] Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đã sống qua mùa
(an cư) mưa khi y chưa phát sanh lại ra đi, hoàn tục, từ trần, được biết
là sa di, được biết là người xả bỏ điều học, được biết là vị phạm tội
cực nặng, được biết là vị bị điên, được biết là vị có tâm rối loạn, được
biết là vị bị thọ khổ, được biết là vị bị án treo trong việc không nhìn
nhận tội, được biết là vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi, được
biết là vị bị án treo trong việc không từ bỏ tà kiến ác, được biết là kẻ
vô căn, được biết là kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu), được biết là kẻ đi
theo ngoại đạo, được biết là thú vật, được biết là kẻ giết mẹ, được biết
là kẻ giết cha, được biết là kẻ giết A-la-hán, được biết là kẻ làm ô uế
tỳ khưu ni, được biết là kẻ chia rẽ hội chúng, được biết là kẻ làm đức
Phật chảy máu, được biết là kẻ lưỡng căn. Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống
qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh lại ra đi, nên trao cho vị nhận
thế thích hợp đang hiện diện. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã
sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh lại hoàn tục, từ trần,
được biết là (xuống) sa di, được biết là người xả bỏ điều học, được biết
là vị phạm tội cực nặng, hội chúng là chủ quản. Này các tỳ khưu, trường
hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh thì được
biết là vị bị điên, được biết là vị có tâm rối loạn, được biết là vị bị
thọ khổ, được biết là vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội, được
biết là vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị
án treo trong việc không từ bỏ tà kiến ác, nên trao cho vị nhận thế
thích hợp đang hiện diện. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống
qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh được biết là kẻ vô căn, ...(như
trên)..., được biết là kẻ lưỡng căn, hội chúng là chủ quản.
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua
mùa (an cư) mưa khi y đã được phát sanh nhưng chưa phân chia lại ra đi,
nên trao cho vị nhận thế thích hợp đang hiện diện. Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y đã được phát
sanh nhưng chưa phân chia lại hoàn tục, từ trần, được biết là (xuống) sa
di, được biết là người xả bỏ điều học, được biết là vị phạm tội cực
nặng, hội chúng là chủ quản. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã
sống qua mùa (an cư) mưa khi y đã được phát sanh nhưng chưa phân chia
thì được biết là vị bị điên, được biết là vị có tâm rối loạn, được biết
là vị bị thọ khổ, được biết là vị bị án treo trong việc không nhìn nhận
tội, được biết là vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi, được biết
là vị bị án treo trong việc không từ bỏ tà kiến ác, nên trao cho vị nhận
thế thích hợp đang hiện diện. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã
sống qua mùa (an cư) mưa khi y đã được phát sanh nhưng chưa phân chia
được biết là kẻ vô căn, ...(như trên)..., được biết là kẻ lưỡng căn, hội
chúng là chủ quản.
Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu đã sống qua
mùa (an cư) mưa và y chưa được phát sanh thì hội chúng bị chia rẽ. Ở đó,
dân chúng dâng nước cho một nhóm và dâng y cho một nhóm (nói rằng): “Chúng
tôi dâng y đến hội chúng.” (Y) ấy là của hội chúng. Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa và y chưa được phát
sanh thì hội chúng bị chia rẽ. Ở đó, dân chúng dâng nước cho một nhóm và
dâng y cho chính nhóm ấy (nói rằng): “Chúng tôi dâng y đến hội chúng.”
(Y) ấy là của hội chúng.
Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu đã sống qua
mùa (an cư) mưa và y chưa được phát sanh thì hội chúng bị chia rẽ. Ở đó,
dân chúng dâng nước cho một nhóm và dâng y cho một nhóm (nói rằng): “Chúng
tôi dâng y đến nhóm.” (Y) ấy là (riêng) của nhóm. Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa và y chưa được phát
sanh thì hội chúng bị chia rẽ. Ở đó, dân chúng dâng nước cho một nhóm và
dâng y cho chính nhóm ấy (nói rằng): “Chúng tôi dâng y đến nhóm.”
(Y) ấy là (riêng) của nhóm.
Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu đã sống qua
mùa (an cư) mưa và y đã được phát sanh nhưng chưa chia phần thì hội
chúng bị chia rẽ. Nên chia đồng đều cho tất cả.
[171] Vào lúc bấy giờ, đại đức Revata gởi y cho đại
đức Sāriputta qua tay của vị tỳ khưu nọ (nói rằng): “Hãy trao y này
đến vị trưởng lão.” Sau đó ở khoảng giữa đường đi, vị tỳ khưu ấy đã
lấy y ấy do sự thân thiết với đại đức Revata. Sau đó, đại đức Revata đã
đích thân đi đến đại đức Sāriputta và hỏi rằng:
- Thưa ngài, tôi đã gởi y cho ngài trưởng lão. Y ấy
đã đến chưa?
- Này sư đệ, ta không nhìn thấy y ấy.
Sau đó, đại đức Revata đã nói với vị tỳ khưu ấy
điều này:
- Này đại đức, tôi đã gởi y của ngài trưởng lão qua
tay của đại đức. Y ấy đâu rồi?
- Thưa đại đức, tôi đã lấy y ấy do sự thân thiết
với đại đức.
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua
tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Hãy trao y này đến vị tên (như vầy).”
Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi đi;
(y) đã được lấy đúng đắn. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ
nhận; (y) đã được lấy sai trái.
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua
tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Hãy trao y này đến vị tên (như vầy).”
Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ
nhận; (y) đã được lấy sai trái. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị
gởi đi; (y) đã được lấy đúng đắn.
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua
tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Hãy trao y này đến vị tên (như vầy).”
Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: “Vị gởi (y) đã từ trần”
rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị ấy; (y) đã được xác định
đúng đắn. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được
lấy sai trái.
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua
tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Hãy trao y này đến vị tên (như vầy).”
Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: “Vị sẽ nhận (y) đã từ trần”
rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị ấy; (y) đã được xác định
sai trái. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi; (y) đã được lấy
đúng đắn.
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua
tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Hãy trao y này đến vị tên (như vầy).”
Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: “Cả hai đã từ trần” rồi
xác định y của người đã chết là thuộc về vị gởi đi; (y) đã được xác định
đúng đắn. Vị ấy xác định y của người đã chết là thuộc về vị sẽ nhận; (y)
đã được xác định sai trái.
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua
tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Tôi cho y này đến vị tên (như vầy).”
Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi;
(y) đã được lấy sai trái. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ
nhận; (y) đã được lấy đúng đắn.
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua
tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Tôi cho y này đến vị tên (như vầy).”
Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ
nhận; (y) đã được lấy đúng đắn. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị
gởi; (y) đã được lấy sai trái.
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua
tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Tôi cho y này đến vị tên (như vầy).”
Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: “Vị gởi (y) đã từ trần”
rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị ấy; (y) đã được xác định
sai trái. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được
lấy đúng đắn.
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua
tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Tôi cho y này đến vị tên (như vầy).”
Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: “Vị sẽ nhận (y) đã từ trần”
rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị ấy; (y) đã được xác định
đúng đắn. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi; (y) đã được lấy
sai trái.
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua
tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Tôi cho y này đến vị tên (như vầy).”
Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: “Cả hai đã từ trần” rồi
xác định y của người đã chết là thuộc về vị gởi đi; (y) đã được xác định
sai trái. Vị ấy xác định y của người đã chết là thuộc về vị sẽ nhận; (y)
đã được xác định đúng đắn.
[172] Này các tỳ khưu, có tám tiêu đề về việc phát
sanh y: (thí chủ) dâng trong ranh giới (sīmā), (thí chủ) dâng theo sự
thỏa thuận, (thí chủ) dâng theo sự thông báo về vật thực, (thí chủ) dâng
đến hội chúng, (thí chủ) dâng đến cả hai hội chúng (tỳ khưu và tỳ khưu
ni), (thí chủ) dâng đến hội chúng đã sống qua mùa (an cư) mưa, (thí chủ)
dâng sau khi đã thông báo, (thí chủ) dâng đến cá nhân.
(Thí chủ) dâng trong ranh giới (sīmāya deti) thì
nên chia phần cho hết thảy các vị tỳ khưu đang ở trong ranh giới. (Thí
chủ) dâng theo sự thỏa thuận (katikāya deti) thì toàn bộ các trú xứ đều
có phần nhận lãnh đồng đều, (nghĩa là) khi được dâng ở một trú xứ thì
được dâng cho tất cả. (Thí chủ) dâng theo sự thông báo về vật thực
(bhikkhāpaññattiyā deti) là nơi nào các sự hộ độ thường xuyên được thực
hiện đến hội chúng thì dâng nơi ấy. (Thí chủ) dâng đến hội chúng thì nên
chia phần đến hội chúng đang hiện diện. (Thí chủ) dâng đến cả hai hội
chúng thì dù cho có nhiều tỳ khưu mà có một tỳ khưu ni cũng nên được
chia một nửa. Dù cho có nhiều tỳ khưu ni mà có một tỳ khưu cũng nên được
chia một nửa. (Thí chủ) dâng đến hội chúng đã sống qua mùa (an cư) mưa
(vassaṃ vutthassa saṅghassa deti) thì nên chia phần cho hết thảy các vị
tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa ở trú xứ ấy. (Thí chủ) dâng sau khi
đã thông báo (ādissa deti) về cháo, hoặc về bữa ăn, hoặc về vật thực
cứng, hoặc về y, hoặc về chỗ trú ngụ, hoặc về dược phẩm. (Thí chủ) dâng
đến cá nhân (puggalassa deti) là (nói rằng): “Tôi đã dâng y này đến
vị tên (như vầy).”
Dứt
Chương Y Phục là chương thứ tám.
Trong
chương này có chín mươi sáu sự việc.
******
Tóm lược chương này:
[173]
Thị
trưởng Vương Xá nhìn
kỹ nữ Vesālī
đến khi quay về lại
thành Rājagaha
báo điều ấy đến vua.
Người con trai kỹ nữ
Sālavatikā
con (nuôi) Abhaya
bởi vì vương tử hỏi:
“Jīvati?” “Còn sống?”
gọi tên “Jīvaka.”
Rồi chàng trai đi đến
thành Takkasilā
học xong được thành tài
trị lành bệnh bảy năm
bằng việc làm ở mũi.
Bệnh rò rỉ của vua
trị dứt bằng thuốc thoa,
“Hãy phục vụ cho ta,
các cung phi hoàng tộc,
đức Phật và Tăng-già.
Và chuyện đại phú gia
thành Rājagaha,
điều trị chứng xoắn ruột,
trị dứt bệnh rất nặng
của vua Pajjota
bằng bơ lỏng uống vào.
Chức vụ, vải Sivi,
bôi dầu bệnh bốc mùi,
với ba nắm sen xanh,
là ba mươi lần xổ,
lành bệnh xin điều ước,
Ngài nhận vải Sivi,
đức Như Lai cho phép
y dâng của gia chủ,
choàng vải, choàng tơ lụa,
choàng lông, nửa Kāsī,
và nhiều loại, hoan hỷ.
Các vị chờ, không chờ,
vào trước như vào sau,
cam kết, họ mang lại,
kho chứa, không bảo quản,
cũng thế làm xao lãng.
Có nhiều, cảnh náo động,
nên chia như thế nào?
Nên cho như thế nào?
Với phần chia nhiều hơn,
san sẻ cho làm sao?
Với phân và nước lạnh,
bị trào ra, không biết,
đổ ra, và chậu nhuộm,
trong đĩa, và nền đất,
mối, ở giữa, bị sờn,
một bên, và bị cứng,
thô, không cắt, kết lại.
Ngài thấy mang đống y,
sau khi đã suy xét,
đấng Thích Ca Mâu Ni
đã cho phép ba y,
với y phụ trội khác,
phát sanh, và y rách.
(Mây đen) bốn châu lục,
bà cầu xin điều ước
được dâng choàng tắm mưa,
vị vãng lai, xuất hành,
vị bệnh, người nuôi bệnh,
dược phẩm, cháo thường xuyên,
và choàng tắm (các ni).
Thượng hạng, y quá nhỏ,
ghẻ sần sùi, khăn mặt,
sợi lanh, được đầy đủ,
chú nguyện, việc cuối cùng,
điều quan trọng đã làm.
Không vuông, chỉ bị rời,
bị tưa, làm không đủ,
thêm vải khác, có nhiều,
rừng Andha, thiếu niệm,
sống an cư một mình,
và trong những mùa khác.
Hai vị là anh em,
chuyện Rājagaha,
vị Upananda
cũng ở hai (chỗ ngụ).
Vị bị bệnh kiết lỵ,
cả hai và vị bệnh,
lõa thể, cỏ kusa,
vỏ cây, tấm ván gỗ,
và mền dệt bằng tóc,
lông ngựa, cánh cú mèo,
sợi của cây akka,
của cây makaci,
màu xanh, và màu vàng,
màu đỏ, và đỏ sậm,
đen, nổi bật, sáng chói,
và đường viền không cắt,
rộng, vẽ hoa, rắn hổ,
áo choàng, sợi vỏ cây,
và khăn xếp đội đầu.
Chưa phát sanh, ra đi,
đến hội chúng chia rẽ,
dâng đến nhóm, hội chúng.
Ngài Revata gởi,
vị lấy do thân thiết,
và vị ấy chú nguyện.
Tiêu đề nói về y
thì có được tám điều.
[1]
Ngài Buddhaghosa giải thích rằng y được dâng bởi gia chủ.
[2]
Ngài Buddhaghosa giải thích rằng 1 kāsī là một ngàn (?), có thể
là loại tiền vàng kahāpaṇa.
[3]
Liên quan đến tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị) thứ
nhất.
[4]
Tấm trải nằm (paccattharanaṃ) tức là ngọa cụ, y lót ngồi (nisīdanaṃ)
tức là tọa cụ.
[5]
Ngài Buddhaghosa giải thích là trong bốn tháng mùa mưa.
[6]
Chúng tôi lấy làm ngạc nhiên về trường hợp một vị tỳ khưu sống mùa (an
cư) mưa ở hai nơi. Ngài Buddhaghosa giải thích vị ấy sống thay đổi chỗ
ở trong thời hạn từ một ngày đến bảy ngày theo quy định về mùa (an cư)
mưa. Quý vị nếu có thắc mắc nên kiểm tra lại ở bản chú giải
Samantapāsādikā.
-ooOoo-
Đầu trang | Mục lục | 01a
| 01b | 01c |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 | 08 |
09 |
10
|