|
Tạng Luật -
Bộ Phân Tích Giới Bổn
Vinaya Pitaka -
Suttavibhanga
Phân Tích Giới Tỳ-khưu - I
(Bhikkhuvibhanga I)
Tỳ-khưu Indacanda
Nguyệt Thiên dịch
Mục lục | 01
| 02 |
03 |
04 | 05a |
05b | 05c |
05d | 06
Phân tích Giới Tỳ-khưu II | Phân tích Giới Tỳ-khưu Ni | Giới thiệu
II. CHƯƠNG
PĀRĀJIKA THỨ NHÌ
[79] Lúc bấy
giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha (Vương Xá), ở núi Gijjhakūṭa
(Linh Thứu sơn). Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ-khưu thân thiết đồng quan
điểm đã dựng lên ở sườn núi Isigili những túp lều bằng cỏ rồi vào mùa (an
cư) mưa. Đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm cũng đã dựng lên túp lều
bằng cỏ và vào mùa (an cư) mưa. Rồi khi đã sống qua ba tháng mùa mưa, các
vị tỳ-khưu ấy đã tháo gỡ các túp lều cỏ, thu xếp cỏ và gỗ lại, rồi ra đi
du hành trong xứ sở. Còn đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã cư trú
mùa mưa ở chính nơi ấy, mùa lạnh ở nơi ấy, và mùa nóng ở nơi ấy. Rồi trong
lúc đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đi vào làng để khất thực, những
cô cắt cỏ, những cô mót củi đã tháo gỡ túp lều cỏ, đoạt lấy cỏ và gỗ, rồi
(mang) đi.
Đến lần thứ
nhì, đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã gom góp cỏ và gỗ rồi dựng
lên túp lều cỏ. Và lần thứ nhì, trong lúc đại đức Dhaniya con trai người
thợ gốm đi vào làng để khất thực, những cô cắt cỏ, những cô mót củi đã
tháo gỡ túp lều cỏ, đoạt lấy cỏ và gỗ, rồi (mang) đi.
Đến lần thứ
ba, đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã gom góp cỏ và gỗ rồi dựng
lên túp lều cỏ. Và lần thứ ba, trong lúc đại đức Dhaniya con trai người
thợ gốm đi vào làng để khất thực, những cô cắt cỏ, những cô mót củi đã
tháo gỡ túp lều cỏ, đoạt lấy cỏ và gỗ, rồi (mang) đi.
Khi ấy, đại
đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã khởi ý điều này: “Quả thật đã đến
lần thứ ba, trong lúc ta đi vào làng để khất thực, những cô cắt cỏ, những
cô mót củi đã tháo gỡ túp lều cỏ, đoạt lấy cỏ và gỗ, rồi (mang) đi. Vả
lại, ta đã khéo học tập nghề làm đồ gốm với thầy ta, không sai sót, và có
tay nghề thiện xảo; hay là ta nên đích thân nhồi trộn đất bùn và tạo nên
một túp lều hoàn toàn bằng đất sét?” Sau đó, đại đức Dhaniya con trai
người thợ gốm đã đích thân nhồi trộn đất bùn và tạo nên một túp lều hoàn
toàn bằng đất sét, rồi đã thu nhặt cỏ, củi, phân bò khô, và nung chín túp
lều ấy. Túp lều ấy đẹp đẽ, đáng nhìn, xinh xắn, có màu đỏ như cánh kiến.
Giống như tiếng vang của cái chuông nhỏ, âm thanh của túp lều ấy cũng
tương tợ như thế.
Rồi sau đó,
đức Thế Tôn trong lúc đi xuống từ núi Gijjhakūṭa cùng với nhiều vị tỳ-khưu
đã nhìn thấy túp lều đẹp đẽ, đáng nhìn, xinh xắn, có màu đỏ như cánh kiến
ấy. Sau khi nhìn thấy, đức Thế Tôn đã hỏi các tỳ-khưu rằng:
- Này các
tỳ-khưu, cái vật đẹp đẽ, đáng nhìn, xinh xắn, có màu đỏ như cánh kiến kia
là vật gì vậy?
Khi ấy, các
vị tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Đức Phật Thế Tôn đã
khiển trách rằng:
- Này các
tỳ-khưu, kẻ rồ dại ấy thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp,
không xứng pháp sa-môn, không được phép, không nên làm! Này các tỳ-khưu,
vì sao kẻ rồ dại ấy lại đích thân nhồi trộn đất bùn và tạo nên một túp lều
hoàn toàn bằng đất sét? Này các tỳ-khưu, kẻ rồ dại ấy quả không có sự quan
tâm, không có lòng thương xót, không có tâm vô hại đối với các sanh mạng!
Này các tỳ-khưu, hãy đi và phá vỡ túp lều ấy. Chớ để loài người sau này
(theo gương đó) gây nên việc giết hại các sanh mạng. Này các tỳ-khưu,
không nên thực hiện cốc liêu hoàn toàn bằng đất sét; vị nào thực hiện thì
phạm tội tác ác (dukkaṭa).
- Bạch ngài,
xin vâng.
Các vị
tỳ-khưu ấy sau khi đáp lời đức Thế Tôn đã đi đến túp lều ấy, sau khi đến
đã phá vỡ túp lều ấy. Khi ấy, đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã
nói với các tỳ-khưu ấy điều này:
- Này các
đại đức, vì sao các vị phá vỡ túp lều của tôi vậy?
- Này đại
đức, đức Thế Tôn bảo phá vỡ.
- Này các
đại đức, nếu bậc Pháp chủ bảo phá vỡ thì hãy phá vỡ đi.
[80] Sau đó,
đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã khởi ý rằng: “Quả thật đã đến
lần thứ ba, trong lúc ta đi vào làng để khất thực, những cô cắt cỏ, những
cô mót củi đã tháo gỡ túp lều cỏ, đoạt lấy cỏ và gỗ, rồi (mang) đi. Ngay
cả túp lều hoàn toàn bằng đất sét được ta tạo nên cũng đã bị đức Thế Tôn
cho phá vỡ. Có viên quản lý kho gỗ là người đồng đạo với ta; hay là ta nên
yêu cầu viên quản lý kho gỗ các cây gỗ rồi tạo nên một túp lều bằng gỗ?”Sau
đó, đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã đi đến gặp viên quản lý kho
gỗ, sau khi đến đã nói với viên quản lý kho gỗ điều này:
- Này đạo
hữu, quả thật đã đến lần thứ ba, trong lúc ta đi vào làng để khất thực,
những cô cắt cỏ, những cô mót củi đã tháo gỡ túp lều cỏ, đoạt lấy cỏ và
gỗ, rồi (mang) đi. Ngay cả túp lều hoàn toàn bằng đất sét được ta tạo nên
cũng đã bị đức Thế Tôn cho phá vỡ. Này đạo hữu, hãy cho ta các cây gỗ; ta
muốn thực hiện túp lều bằng gỗ.
- Thưa ngài,
các cây gỗ mà tôi có thể dâng ngài thì các loại như thế không có. Thưa
ngài, có những cây gỗ thuộc quốc khố là vật liệu tu bổ thành phố được để
riêng phòng lúc hữu sự. Nếu đức vua bảo cho các thứ ấy thì ngài hãy cho
người mang đi.
- Này đạo
hữu, (các thứ ấy) đã được đức vua cho rồi.
Khi ấy, viên
quản lý kho gỗ (nghĩ rằng): “Các sa-môn Thích tử này quả thật là những
vị thực hành Pháp, là những vị thực hành sự an tịnh, là những vị có Phạm
hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp, ngay cả đức vua cũng
tịnh tín những vị này; không thể nào (họ) lại nói: ‘Đã được cho!’ về vật
chưa được cho,” nên đã nói với đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm
điều này:
- Thưa ngài,
hãy cho người mang đi.
Sau đó, đại
đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã cho người cắt xẻ các cây gỗ ấy thành
từng miếng, cho chuyển đi bằng các xe tải, rồi đã thực hiện túp lều bằng
gỗ.
[81] Sau đó,
Bà-la-môn Vassakāra là quan đại thần xứ Magadha trong lúc đi thanh tra các
công việc trong thành Rājagaha đã đi đến gặp viên quản lý kho gỗ, sau khi
đến đã nói với viên quản lý kho gỗ điều này:
- Này khanh,
có những cây gỗ thuộc quốc khố là vật liệu tu bổ thành phố được để riêng
phòng lúc hữu sự, những cây gỗ ấy đâu rồi?
- Thưa quan
lớn, những cây gỗ ấy đã được đức vua cho đến ngài Dhaniya con trai người
thợ gốm rồi.
Khi ấy,
Bà-la-môn Vassakāra quan đại thần xứ Magadha trở nên không hoan hỷ (nghĩ
rằng): “Vì sao đức vua lại cho Dhaniya con trai người thợ gốm những cây
gỗ thuộc quốc khố là vật liệu tu bổ thành phố được để riêng phòng lúc hữu
sự?” Sau đó, Bà-la-môn Vassakāra quan đại thần xứ Magadha đã đi đến
gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã nói với đức vua
Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:
- Nghe nói
những cây gỗ thuộc quốc khố là vật liệu tu bổ thành phố được để riêng
phòng lúc hữu sự đã được bệ hạ cho đến Dhaniya con trai người thợ gốm, có
đúng không vậy?
- Ai đã nói
như thế?
- Tâu bệ hạ,
viên quản lý kho gỗ.
- Này
Bà-la-môn, nếu thế thì hãy truyền lệnh gọi viên quản lý kho gỗ.
Sau đó,
Bà-la-môn Vassakāra quan đại thần xứ Magadha đã truyền lệnh trói viên quản
lý kho gỗ.
[82] Đại đức
Dhaniya con trai người thợ gốm đã nhìn thấy viên quản lý kho gỗ bị trói
lại và đang bị dẫn đi, sau khi nhìn thấy, đã nói với viên quản lý kho gỗ
điều này:
- Này đạo
hữu, vì sao ngươi bị trói lại và bị dẫn đi vậy?
- Thưa ngài,
vì sự việc của những cây gỗ ấy.
- Này đạo
hữu, ngươi cứ đi. Ta cũng đi nữa.
- Thưa ngài,
ngài nên đến trước khi tôi bị giết chết.
Sau đó, đại
đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã đi đến hậu cung của đức vua Seniya
Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt
sẵn. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đại đức
Dhaniya con trai người thợ gốm, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Dhaniya con
trai người thợ gốm rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên,
đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đại đức Dhaniya con trai
người thợ gốm điều này:
- Thưa ngài,
nghe nói những cây gỗ thuộc quốc khố là vật liệu tu bổ thành phố được để
riêng phòng lúc hữu sự đã được trẫm cho đến ngài, có đúng không vậy?
- Tâu đại
vương, đúng vậy.
- Thưa ngài,
chúng tôi là những vị vua có nhiều phận sự, có nhiều việc phải làm, sau
khi đã cho không thể nhớ được. Thưa ngài, giờ xin hãy nhắc lại.
- Tâu đại
vương, ngài có nhớ khi được phong vương lần thứ nhất ngài tuyên bố lời như
vầy: “Cỏ, gỗ, và nước đã được dâng đến các sa-môn và Bà-la-môn, hãy để
cho các vị sử dụng.”
- Thưa ngài,
trẫm đã nhớ rồi. Thưa ngài, có những sa-môn và Bà-la-môn khiêm tốn, có hối
hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy có sự hối hận cho dù chỉ là các sự
việc nhỏ nhặt, và vật đã được trẫm nói có liên quan đến các vị ấy là vật
vô chủ ở trong rừng. Thưa ngài, chính ngài đã suy nghĩ dùng mưu mẹo ấy để
lấy vật chưa được cho là các cây gỗ. Làm sao trẫm đây có thể hành hạ, hoặc
giam giữ, hoặc trục xuất vị sa-môn hay vị Bà-la-môn được? Thưa ngài, hãy
đi đi. Ngài được tự do nhờ hình tướng và chớ có tái phạm việc như vầy nữa!
[83] Dân
chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Các vị
sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, giới hạnh xấu xa, nói láo. Chính
các vị này giả vờ là những vị thực hành Pháp, là những vị thực hành sự an
tịnh, là những vị có Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện
pháp! Các vị này không có sa-môn hạnh, các vị này không có Phạm hạnh!
Sa-môn hạnh của các vị này đã bị hư hỏng, Phạm hạnh của các vị này đã bị
hư hỏng! Sa-môn hạnh của các vị này đâu rồi? Phạm hạnh của các vị này đâu
rồi? Sa-môn hạnh của các vị này đã không còn, Phạm hạnh của các vị này đã
không còn! Các vị này còn đánh lừa ngay cả các đức vua, thì đâu còn gì nữa
đối với những người khác?
Các tỳ-khưu
đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Các vị tỳ-khưu ít ham
muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao đại
đức Dhaniya con trai người thợ gốm lại lấy vật chưa được cho là các cây gỗ
của đức vua vậy?
Sau đó, các
vị tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn
nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ-khưu lại và hỏi
đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm rằng:
- Này
Dhaniya, nghe nói ngươi lấy vật chưa được cho là các cây gỗ của đức vua,
có đúng không vậy?
- Bạch Thế
Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế
Tôn đã khiển trách rằng:
- Này kẻ rồ
dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp
sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại
lấy vật chưa được cho là các cây gỗ của đức vua vậy? Này kẻ rồ dại, sự
việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng
thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Hơn nữa, này kẻ rồ dại, chính
sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm
thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.
Vào lúc bấy
giờ, có vị quan đại thần nọ trước kia là vị xử án đã xuất gia nơi các vị
tỳ-khưu đang ngồi cách đức Thế Tôn không xa. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói
với vị tỳ-khưu ấy điều này:
- Này
tỳ-khưu, với mức bao nhiêu thì đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha (sẽ)
hành hạ, hoặc giam giữ, hoặc trục xuất kẻ trộm cắp sau khi bắt được?
- Bạch Thế
Tôn, với một pāda, hoặc tương đương một pāda, hoặc hơn một pāda.
Vào lúc bấy
giờ, ở thành Rājagaha, năm māsaka thì bằng một pāda.[1]
Khi ấy, đức Thế Tôn đã khiển trách đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm
bằng nhiều phương thức về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, ...(như
trên)... Sau khi ngợi khen về sự ra sức nỗ lực, ngài đã thuyết Pháp thoại
thích đáng và phù hợp cho các tỳ-khưu rồi đã bảo các tỳ-khưu rằng:
- ...(như
trên)... Và này các tỳ-khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ-khưu nào lấy vật không được cho theo lối trộm cắp; tương tợ như
trong vụ đánh cắp, các vị vua sau khi bắt được kẻ trộm thì có thể hành hạ,
hoặc có thể giam giữ, hoặc có thể trục xuất (phán rằng): ‘Ngươi là kẻ
trộm, ngươi là kẻ ngu, ngươi là kẻ khờ, ngươi là kẻ cướp;’ cũng tương tợ
như thế, vị tỳ-khưu khi lấy vật không được cho, vị này cũng là vị phạm tội
pārājika, không được cộng trú.”Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy
định cho các tỳ-khưu như thế.
[84] Vào lúc
bấy giờ, các tỳ-khưu nhóm Lục Sư đã đi đến chỗ nhuộm y và lấy trộm gói đồ
nhuộm mang về tu viện chia nhau. Các tỳ-khưu đã nói như vầy:
- Này các
đại đức, các vị thật là đại phước! Các vị đã phát sanh được nhiều y.
- Này các
đại đức, do đâu mà chúng tôi có phước? Hôm nay, chúng tôi đã đi đến chỗ
nhuộm y và lấy trộm gói đồ nhuộm.
- Này các
đại đức, không phải điều học đã được đức Thế Tôn quy định hay sao? Này các
đại đức, tại sao các người lại lấy trộm gói đồ nhuộm?
- Này các
đại đức, đúng vậy. Điều học đã được đức Thế Tôn quy định và điều ấy là ở
trong làng, không phải ở trong rừng.
- Này các
đại đức, điều ấy không phải là như thế hay sao? Này các đại đức, thật
không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không
được phép, không nên làm! Này các đại đức, vì sao các đại đức lại lấy trộm
gói đồ nhuộm? Này các đại đức, sự việc này không đem lại niềm tin cho
những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có
đức tin. Hơn nữa, này các đại đức, chính sự việc này đem lại sự không có
niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số
người đã có đức tin.
Rồi sau khi
khiển trách các tỳ-khưu nhóm Lục Sư bằng nhiều phương thức, các tỳ-khưu ấy
đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy,
nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ-khưu lại và hỏi các tỳ-khưu nhóm
Lục Sư rằng:
- Này các
tỳ-khưu, nghe nói các ngươi đã đi đến chỗ nhuộm y và lấy trộm gói đồ
nhuộm, có đúng không vậy?
- Bạch Thế
Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế
Tôn đã khiển trách rằng:
- Này những
kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng
pháp sa-môn, không được phép, không nên làm! Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi lại đi đến chỗ nhuộm y và lấy trộm gói đồ nhuộm? Này những kẻ rồ
dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
...(như trên)... và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức
tin.
Khi ấy, đức
Thế Tôn đã khiển trách các tỳ-khưu nhóm Lục Sư bằng nhiều phương thức về
sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, ...(như trên)... Sau khi ngợi khen về sự
ra sức nỗ lực, ngài đã thuyết Pháp thoại thích đáng và phù hợp cho các
tỳ-khưu rồi đã bảo các tỳ-khưu rằng:
- ...(như
trên)... Và này các tỳ-khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ-khưu nào lấy vật không được cho từ làng hoặc từ rừng theo lối
trộm cắp; tương tợ như trong vụ đánh cắp, các vị vua sau khi bắt được kẻ
trộm thì có thể hành hạ, hoặc có thể giam giữ, hoặc có thể trục xuất (phán
rằng): ‘Ngươi là kẻ trộm, ngươi là kẻ ngu, ngươi là kẻ khờ, ngươi là kẻ
cướp;’ cũng tương tợ như thế, vị tỳ-khưu khi lấy vật không được cho, vị
này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”
[85] Vị
nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)... Vị ấy được gọi là “vị nào.”
tỳ-khưu:
...(như trên)... Vị này là “vị tỳ-khưu” được đề cập trong ý nghĩa
này.
Làng
nghĩa là một túp lều cũng là làng. Hai túp lều cũng là làng. Ba túp lều
cũng là làng. Bốn túp lều cũng là làng. Làng có người. Làng không có
người. Làng được rào lại. Làng không được rào lại. Làng được thiết lập
theo từng cụm nhà. Thậm chí chiếc xe tải của thương buôn dừng lại trên bốn
tháng cũng được gọi là làng.
Vùng ven
làng nghĩa là tính đến chỗ rơi xuống của cục
đất được ném đi bởi người nam (có sức mạnh) hạng trung đứng ở bục cổng của
ngôi làng được rào lại, (hoặc) tính đến chỗ rơi xuống của cục đất được ném
đi bởi người nam (có sức mạnh) hạng trung đứng ở vùng biên của các ngôi
nhà thuộc làng không được rào lại.
Rừng
nghĩa là trừ đi làng và vùng ven làng, phần còn lại gọi là rừng.
Vật không
được cho nghĩa là vật nào chưa được cho,
chưa được trao, chưa được dứt bỏ, được bảo vệ, được canh giữ, có sở hữu
chủ, được quản lý bởi người khác; vật ấy là vật không được cho.
Theo lối
trộm cắp: có tâm trộm cắp, có tâm lấy trộm.
[86] Lấy
đi: vị lấy đi, vị mang đi, vị lấy trộm, vị làm thay đổi tư thế, vị làm
di chuyển khỏi vị trị, vị chờ đến giờ hẹn.
[87] Có
hình thức như thế nghĩa là một pāda, hoặc tương đương một pāda, hoặc
hơn một pāda.
Các vị
vua nghĩa là các vị vua (cai trị) toàn trái
đất, các vị vua của một xứ, các vị vua của một vùng, các vị trưởng bộ tộc,
các quan xử án, các quan đại thần, hoặc các vị nào điều khiển việc gia
hình thì gọi là các vị vua.
Kẻ trộm
nghĩa là kẻ nào lấy đi theo lối trộm cắp vật không được cho trị giá năm
māsaka hoặc hơn năm māsaka; kẻ ấy gọi là kẻ trộm.
(Hoặc) có
thể hành hạ: Họ có thể hành hạ bằng tay,
bằng chân, bằng roi, bằng gậy, bằng đùi cui, hoặc bằng cách làm cho tàn
phế.
Hoặc có
thể giam giữ: Họ có thể giam giữ theo cách
trói bằng dây thừng, theo cách trói bằng xiềng xích, theo cách trói bằng
cùm, bằng cách giam trong nhà ngục, bằng cách giữ trong thành phố, bằng
cách giữ trong làng, bằng cách giữ trong thị trấn, hoặc họ có thể thực
hiện việc cho người canh gác.
Hoặc có
thể trục xuất: Họ có thể trục xuất ra khỏi
làng, ra khỏi thị trấn, ra khỏi thành phố, ra khỏi khu vực, ra khỏi xứ sở.
Ngươi là
kẻ trộm, ngươi là kẻ ngu, ngươi là kẻ khờ, ngươi là kẻ cướp:
Điều này là sự quở trách.
[88] Có
hình thức như thế nghĩa là một pāda, hoặc tương đương một pāda, hoặc
hơn một pāda.
Khi lấy:
trong khi lấy đi, trong khi mang đi, trong khi lấy trộm, trong khi làm
thay đổi tư thế, trong khi làm cho rời khỏi vị trí, trong khi đang chờ đến
giờ hẹn.
[89] Vị
này cũng: là liên quan đến vị trước đây đã được đề cập.
Là vị
phạm tội pārājika: cũng giống như chiếc lá
vàng đã lìa khỏi cành không thể xanh trở lại; tương tợ như thế, vị tỳ-khưu
lấy đi theo lối trộm cắp vật không được cho có giá trị một pāda hoặc hơn
một pāda thì không phải là sa-môn, không phải là Thích tử; vì thế, được
gọi là “vị phạm tội pārājika.”
Không
được cộng trú: Sự cộng trú nghĩa là có chung
hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống
nhau, điều ấy gọi là sự cộng trú. Vị ấy không có được điều ấy, vì thế được
gọi là “không được cộng trú.”
[90] Vật ở
trong đất, vật ở trên mặt đất, vật ở trên không trung, vật ở cách mặt đất,
vật ở trong nước, vật ở trên chiếc thuyền, vật ở trong xe, vật là gói
hàng, vật ở trong vườn, vật ở trong trú xá, vật ở trong ruộng, vật ở trong
khu đất, vật ở trong làng, vật ở trong rừng, nước, tăm xỉa răng, cây rừng,
vật được mang đi, vật được ký gởi, trạm thuế, sinh mạng, loài không chân,
loài hai chân, loài bốn nhân, loài nhiều chân, người theo dõi, người bảo
vệ vật ký gởi, lấy trộm theo kế hoạch, hành động theo giờ hẹn, hành động
theo dấu hiệu.
[91] Vật
ở trong đất nghĩa là vật được chôn ở trong lòng đất, đã được phủ kín.
Vị có ý định trộm cắp: “Ta sẽ lấy trộm vật ở trong đất,” (nếu) kiếm
thêm người thứ hai, hoặc tìm kiếm cái thuổng hay cái giỏ, hoặc đi (một
mình) thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) chặt cây hoặc dây leo mọc ở nơi
ấy thì phạm tội tác ác (dukkaṭa);[2]
(nếu) đào đất, hoặc xắn ra, hoặc lấy lên thì phạm tội tác ác (dukkaṭa);[3]
(nếu) sờ vào cái hũ thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì
phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội
pārājika.
Vị có ý định
trộm cắp, sau khi đưa vật đựng của mình vào trong (hũ),[4]
(nếu) sờ vào vật có giá trị năm māsaka hoặc hơn năm māsaka thì phạm tội
tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya);
(nếu) bỏ vào trong vật đựng của mình hoặc bốc lên một nắm tay thì phạm tội
pārājika.
Vị có ý định
trộm cắp, (nếu) sờ vào vật làm theo dạng sợi: hoặc là dây thắt lưng, hoặc
là dây chuyền cổ, hoặc là dây chuyền ở hông, hoặc là tấm vải choàng, hoặc
là khăn xếp đội đầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì
phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) nắm vào chóp (của một vật nào) rồi
nâng lên thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) chà xát rồi bỏ xuống thì
phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) đưa ra khỏi miệng hũ cho dù chỉ một
khoảng cách mảnh như sợi tóc thì phạm tội pārājika.
Vị có ý định
trộm cắp, trong một lần (nếu) uống bơ lỏng (sappi), hay dầu ăn, hay mật
ong, hay nước mía trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka thì phạm tội
pārājika. Ngay tại chỗ đó, (nếu) đập bể, hoặc đổ bỏ, hoặc đốt đi, hoặc làm
cho không còn sử dụng được nữa thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).
[92] Vật
ở trên đất nghĩa là vật được đặt ở trên mặt đất. Vị có ý định trộm
cắp: “Ta sẽ lấy trộm vật ở trên mặt đất,” (nếu) kiếm thêm người thứ
hai thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) sờ vào thì phạm tội tác ác
(dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm
cho dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
[93] Vật
ở trên không nghĩa là vật di chuyển ở trên không, hoặc là chim công,
hoặc là chim đa đa, hoặc là gà gô, hoặc là chim cun cút, hoặc là tấm vải
choàng, hoặc là khăn xếp đội đầu, hoặc là nữ trang, hoặc là vàng bị bể ra
và rơi xuống. Vị có ý định trộm cắp: “Ta sẽ lấy trộm vật ở trên không,”
(nếu) kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội tác ác
(dukkaṭa); (nếu) làm gián đoạn sự di chuyển thì phạm tội tác ác (dukkaṭa);
(nếu) sờ vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm
trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội
pārājika.
[94] Vật
ở cách mặt đất[5]
nghĩa là vật được đặt ở trên không (cách khoảng với mặt đất) hoặc là ở
trên giường, hoặc là ở trên ghế, hoặc là ở sào máng y, hoặc là ở dây treo
y, hoặc là ở chốt đinh đóng ở tường, hoặc là ở cái móc ngà voi, hoặc là
được treo trên cây, thậm chí chỉ ở trên vật kê bình bát. Vị có ý định trộm
cắp: “Ta sẽ lấy trộm vật ở cách mặt đất,” (nếu) kiếm thêm người thứ
hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) sờ vào thì
phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội
(thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
[95] Vật
ở trong nước nghĩa là vật được đặt ở trong nước. Vị có ý định trộm
cắp: “Ta sẽ lấy trộm vật ở trong nước,” (nếu) kiếm thêm người thứ
hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) lặn xuống hoặc
nổi lên thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) sờ vào thì phạm tội tác ác
(dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm
cho dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
Vị có ý định
trộm cắp, (nếu) sờ vào hoặc là đóa sen xanh, hoặc là đóa sen hồng, hoặc là
đóa sen trắng, hoặc là ngó sen mọc ở nơi ấy, hoặc là cá, hoặc là rùa trị
giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu)
làm lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị
trí thì phạm tội pārājika.
[96]
Thuyền nghĩa là (người ta) vượt qua (hồ, sông, biển, v.v...) bằng vật
ấy. Vật ở trên chiếc thuyền nghĩa là vật được đặt ở trên thuyền. Vị có ý
định trộm cắp: “Ta sẽ lấy trộm vật ở trên chiếc thuyền,” (nếu) kiếm
thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu)
sờ vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng
tội (thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
Vị có ý định
trộm cắp: “Ta sẽ lấy trộm chiếc thuyền,” (nếu) kiếm thêm người thứ
hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) sờ vào thì
phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội
(thullaccaya); (nếu) tháo dây buộc thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); sau khi
tháo dây buộc, (nếu) vị ấy sờ vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm
lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm di chuyển tới, hoặc
lui, hoặc ngang, cho dù chỉ một khoảng cách mảnh như sợi tóc thì phạm tội
pārājika.
[97] Xe
nghĩa là xe có mui, xe kéo hai bánh, xe tải hàng, xe ngựa kéo. Vật ở trong
xe nghĩa là vật được đặt ở trong xe. Vị có ý định trộm cắp: “Ta sẽ lấy
trộm vật ở trong xe,” (nếu) kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình)
thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) sờ vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa);
(nếu) làm lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm cho dời
khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
Vị có ý định
trộm cắp: “Ta sẽ lấy trộm chiếc xe,” (nếu) kiếm thêm người thứ hai
hoặc đi (một mình) thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) sờ vào thì phạm
tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya);
(nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
[98] Gói
hàng nghĩa là gói hàng ở trên đầu, gói hàng ở vai, gói hàng ở hông,
vật được đeo. Vị có ý định trộm cắp, (nếu) sờ vào gói hàng ở trên đầu thì
phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội
(thullaccaya); (nếu) đưa xuống vai thì phạm tội pārājika. Vị có ý định
trộm cắp, (nếu) sờ vào gói hàng ở trên vai thì phạm tội tác ác (dukkaṭa);
(nếu) làm lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) đưa xuống hông
thì phạm tội pārājika. Vị có ý định trộm cắp, (nếu) sờ vào gói hàng ở hông
thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội
(thullaccaya); (nếu) cầm bằng tay thì phạm tội pārājika. Vị có ý định trộm
cắp, (nếu) đặt gói hàng ở tay xuống mặt đất thì phạm tội pārājika. Vị có ý
định trộm cắp, (nếu) nhấc lên khỏi mặt đất thì phạm tội pārājika.
[99] Vườn
nghĩa là vườn hoa, vườn trái cây. Vật ở trong vườn nghĩa là vật được để ở
bốn nơi trong vườn: vật ở trong đất, vật ở trên mặt đất, vật ở trên không
trung, vật ở cách mặt đất. Vị có ý định trộm cắp: “Ta sẽ lấy trộm vật ở
trong vườn,” (nếu) kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm
tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) sờ vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu)
làm lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị
trí thì phạm tội pārājika.
Vị có ý định
trộm cắp, (nếu) sờ vào hoặc là rễ cây mọc ở nơi ấy, hoặc là vỏ cây, hoặc
là lá cây, hoặc là bông hoa, hoặc là trái cây trị giá năm māsaka hoặc hơn
năm māsaka thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm
trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội
pārājika.
Vị kiện cáo
về quyền sở hữu (abhiyuñjati) khu vườn thì phạm tội tác ác (dukkaṭa);
(nếu) làm cho người chủ khởi lên sự nghi hoặc (về quyền sở hữu) thì phạm
trọng tội (thullaccaya); (nếu) người chủ buông bỏ trách nhiệm: “(Khu
vườn) sẽ không còn là của tôi nữa!” thì phạm tội pārājika.
[100] Vật
ở trong trú xá nghĩa là vật được để ở bốn nơi trong trú xá: vật ở
trong đất, vật ở trên mặt đất, vật ở trên không trung, vật ở cách mặt đất.
Vị có ý định trộm cắp: “Ta sẽ lấy trộm vật ở trong trú xá,” (nếu)
kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội tác ác (dukkaṭa);
(nếu) sờ vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm
trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội
pārājika.
Vị kiện cáo
về quyền sở hữu trú xá thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm cho người
chủ khởi lên sự nghi hoặc (về quyền sở hữu) thì phạm trọng tội
(thullaccaya); (nếu) người chủ buông bỏ trách nhiệm: “(Trú xá) sẽ không
còn là của tôi nữa!” thì phạm tội pārājika. Trong khi thực thi công lý
(dhammaṃ caranto), nếu vị ấy thắng người chủ thì phạm tội pārājika. Trong
khi thực thi công lý, (nếu) thua thì phạm trọng tội (thullaccaya).
[101]
Ruộng nghĩa là nơi sản xuất thóc lúa và rau xanh. Vật ở trong ruộng
nghĩa là vật được để ở bốn nơi trong ruộng: vật ở trong đất, vật ở trên
mặt đất, vật ở trên không trung, vật ở cách mặt đất. Vị có ý định trộm
cắp: “Ta sẽ lấy trộm vật ở trong ruộng,” (nếu) kiếm thêm người thứ
hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) sờ vào thì
phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội
(thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
Vị có ý định
trộm cắp, (nếu) sờ vào thóc lúa hoặc là rau xanh trồng ở nơi ấy trị giá
năm māsaka hoặc hơn năm māsaka thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm
lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí
thì phạm tội pārājika.
Vị kiện cáo
về quyền sở hữu mảnh ruộng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm cho
người chủ khởi lên sự nghi hoặc (về quyền sở hữu) thì phạm trọng tội
(thullaccaya); (nếu) người chủ buông bỏ trách nhiệm: “(Mảnh ruộng) sẽ
không còn là của tôi nữa!” thì phạm tội pārājika. Trong khi thực thi
công lý, nếu vị ấy thắng người chủ thì phạm tội pārājika. Trong khi thực
thi công lý, (nếu) thua thì phạm trọng tội (thullaccaya).
Vị di chuyển
cọc ranh, hoặc dây ngăn, hoặc hàng rào, hoặc ranh giới thì phạm tội tác ác
(dukkaṭa); khi phần việc cuối cùng chưa hoàn tất thì phạm trọng tội
(thullaccaya); khi phần việc cuối cùng ấy đã hoàn tất thì phạm tội
pārājika.
[102] Khu
đất nghĩa là khu đất vườn, khu đất trú xá. Vật ở trong khu đất nghĩa
là vật được để ở bốn nơi trong khu đất: vật ở trong đất, vật ở trên mặt
đất, vật ở trên không trung, vật ở cách mặt đất. Vị có ý định trộm cắp: “Ta
sẽ lấy trộm vật ở trong khu đất,” (nếu) kiếm thêm người thứ hai hoặc
đi (một mình) thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) sờ vào thì phạm tội tác
ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu)
làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
Vị kiện cáo
về quyền sở hữu mảnh ruộng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm cho
người chủ khởi lên sự nghi hoặc (về quyền sở hữu) thì phạm trọng tội
(thullaccaya); (nếu) người chủ buông bỏ trách nhiệm: “(Khu đất) sẽ
không còn là của tôi nữa!” thì phạm tội pārājika. Trong khi thực thi
công lý, nếu vị ấy thắng người chủ thì phạm tội pārājika. Trong khi thực
thi công lý, (nếu) thua thì phạm trọng tội (thullaccaya).
Vị di chuyển
cọc ranh, hoặc dây ngăn, hoặc hàng rào, hoặc tường thành thì phạm tội tác
ác (dukkaṭa); khi phần việc cuối cùng chưa hoàn tất thì phạm trọng tội
(thullaccaya); khi phần việc cuối cùng ấy đã hoàn tất thì phạm tội
pārājika.
[103] Vật
ở trong làng nghĩa là vật được để ở bốn nơi trong làng: vật ở trong
đất, vật ở trên mặt đất, vật ở trên không trung, vật ở cách mặt đất. Vị có
ý định trộm cắp: “Ta sẽ lấy trộm vật ở trong làng,” (nếu) kiếm thêm
người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) sờ
vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội
(thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
[104]
Rừng nghĩa là nơi nào có được sự quản lý của con người, nơi ấy tức là
rừng. Vật ở trong rừng nghĩa là vật được để ở bốn nơi trong rừng: vật ở
trong đất, vật ở trên mặt đất, vật ở trên không trung, vật ở cách mặt đất.
Vị có ý định trộm cắp: “Ta sẽ lấy trộm vật ở trong rừng,” (nếu)
kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội tác ác (dukkaṭa);
(nếu) sờ vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm
trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội
pārājika.
Vị có ý định
trộm cắp, (nếu) sờ vào hoặc là cây gỗ, hoặc là dây leo, hoặc là cỏ mọc ở
nơi ấy trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka thì phạm tội tác ác
(dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm
cho dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
[105]
Nước nghĩa là nước đã được đưa vào trong chậu, hoặc ở trong là hồ
chứa, hoặc ở trong đập ngăn. Vị có ý định trộm cắp, (nếu) sờ vào thì phạm
tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya);
(nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
Sau khi đưa
chậu của mình vào, vị có ý định trộm cắp (nếu) sờ vào số nước trị giá năm
māsaka hoặc hơn năm māsaka thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay
động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm cho (nước) vào hẳn trong
chậu của mình thì phạm tội pārājika.
Vị phá vỡ
tường thành thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); sau khi phá vỡ tường thành,
(nếu) cho thoát ra lượng nước trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka thì
phạm tội pārājika; (nếu) cho thoát ra lượng nước trị giá hơn một māsaka
hoặc kém năm māsaka thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) cho thoát ra
lượng nước trị giá một māsaka hoặc kém một māsaka thì phạm tội tác ác
(dukkaṭa).
[106] Tăm
xỉa răng nghĩa là đã được cắt hoặc chưa được cắt. Vị có ý định trộm
cắp, (nếu) sờ vào vật trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka thì phạm tội
tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya);
(nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
[107] Cây
rừng nghĩa là cây gỗ có sự hữu dụng được con người quản lý. Vị có ý
định trộm cắp, (nếu) (dùng dao) chặt, thì phạm tội tác ác (dukkaṭa) theo
mỗi nhát dao; khi nhát dao cuối cùng chưa hoàn tất thì phạm trọng tội
(thullaccaya); khi nhát dao cuối cùng đã hoàn tất thì phạm tội pārājika.
[108] Vật
được mang đi nghĩa là vật thuộc về người khác đang được mang đi. Vị có
ý định trộm cắp, (nếu) sờ vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay
động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì
phạm tội pārājika.
(Nghĩ rằng):
“Ta sẽ dẫn đi người khuân vác cùng với vật,” (nếu) làm di chuyển
bước chân thứ nhất thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm di chuyển
bước chân thứ nhì thì phạm tội pārājika.
(Nghĩ rằng):
“Ta sẽ nhặt lấy vật bị rơi,” (nếu) làm cho (vật) rơi xuống thì phạm
tội tác ác (dukkaṭa).Vị có ý định trộm cắp, (nếu) sờ vào vật bị rơi xuống
trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka thì phạm tội tác ác (dukkaṭa);
(nếu) làm lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm cho dời
khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
[109] Vật
ký gởi nghĩa là vật được ủy thác. Khi được nói rằng: “Cho tôi vật
(đã ký gởi),” (nếu) trả lời: “Tôi không có giữ” thì phạm tội
tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm cho người chủ khởi lên sự nghi hoặc (về việc
ký gởi) thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) người chủ buông bỏ vấn đề:
“Người này sẽ không trao cho ta!” thì phạm tội pārājika. Trong khi
thực thi công lý, nếu vị ấy thắng người chủ thì phạm tội pārājika. Trong
khi thực thi công lý, (nếu) thua thì phạm trọng tội (thullaccaya).
[110]
Trạm thuế nghĩa là ở khe núi, hoặc ở bến đò, hoặc ở cổng làng đức vua
đã quy định rằng: “Nơi đây người đi vào phải đóng thuế.” Sau khi đi
vào nơi đó, vị có ý định trộm cắp (nếu) sờ vào vật có thuế phải đóng trị
giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu)
làm lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) vượt qua khỏi trạm
thuế bước thứ nhất thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) vượt qua bước
thứ nhì thì phạm tội pārājika. Vị đứng ở giữa trạm thuế và ném ra khỏi
trạm thuế thì phạm tội pārājika. Vị mang theo vật chịu thuế thì phạm tội
tác ác (dukkaṭa).
[111]
Sinh mạng nghĩa là sinh mạng con người được đề cập đến. Vị có ý định
trộm cắp, (nếu) sờ vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động
thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm
tội pārājika.
(Nghĩ rằng):
“Ta sẽ dẫn đi từng bước,” (nếu) làm di chuyển bước chân thứ nhất
thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm di chuyển bước chân thứ nhì
thì phạm tội pārājika.
[112]
Loài không chân nghĩa là loài rắn, loài cá. Vị có ý định trộm cắp,
(nếu) sờ vào (loài không chân) trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka thì
phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội
(thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
[113]
Loài hai chân nghĩa là loài người, loài có cánh.[6]
Vị có ý định trộm cắp, (nếu) sờ vào (loài hai chân) thì phạm tội tác ác
(dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm
cho dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
(Nghĩ rằng):
“Ta sẽ dẫn đi từng bước,” (nếu) làm di chuyển bước chân thứ nhất
thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm di chuyển bước chân thứ nhì
thì phạm tội pārājika.
[114]
Loài bốn chân nghĩa là loài voi, loài ngựa, loài lạc đà, loài bò, loài
lừa, loài gia súc. Vị có ý định trộm cắp, (nếu) sờ vào (loài bốn chân) thì
phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội
(thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
(Nghĩ rằng):
“Ta sẽ dẫn đi từng bước,” (nếu) làm di chuyển bước chân thứ nhất
thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm di chuyển bước chân thứ nhì
thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm di chuyển bước chân thứ ba thì
phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm di chuyển bước chân thứ tư thì
phạm tội pārājika.
[115]
Loài nhiều chân nghĩa là loài bò cạp, loài rết (trăm chân), loài sâu
róm. Vị có ý định trộm cắp, (nếu) sờ vào (loài nhiều chân) trị giá năm
māsaka hoặc hơn năm māsaka thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay
động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì
phạm tội pārājika.
(Nghĩ rằng):
“Ta sẽ dẫn đi từng bước,” (nếu) làm di chuyển bước chân thứ nhất
thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm di chuyển cứ mỗi bước chân thì
phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm di chuyển bước chân cuối cùng thì
phạm tội pārājika.
[116]
Người theo dõi nghĩa là sau khi theo dõi vật dụng vị ấy nói rằng: “Hãy
lấy trộm vật dụng tên như vầy” thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). (Nếu) vị
kia lấy trộm vật dụng ấy thì cả hai phạm tội pārājika.
[117]
Người bảo vệ vật ký gởi nghĩa là gìn giữ vật đã được mang đến. Vị có ý
định trộm cắp, (nếu) sờ vào (vật ký gởi) trị giá năm māsaka hoặc hơn năm
māsaka thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng
tội (thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
[118] Lấy
trộm theo kế hoạch nghĩa là sau khi nhiều vị bàn thảo rồi một vị lấy
trộm đồ vật thì tất cả đều phạm tội pārājika.
[119]
Hành động theo giờ hẹn nghĩa là quy định giờ hẹn hoặc là trước bữa ăn,
hoặc là sau bữa ăn, hoặc là ban đêm, hoặc là ban ngày. (nếu) (bảo rằng): “Hãy
lấy trộm vật ấy vào giờ hẹn ấy” thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu)
vị kia lấy trộm đồ vật ấy vào giờ hẹn ấy thì cả hai phạm tội pārājika;
(nếu) vị kia lấy trộm đồ vật ấy trước hay sau giờ hẹn ấy thì vị khởi xướng
vô tội còn vị lấy trộm phạm tội pārājika.
[120]
Hành động theo dấu hiệu nghĩa là vị ấy làm dấu hiệu (bảo rằng): “Tôi
sẽ nháy mắt, hoặc là tôi sẽ nhướng mày, hoặc là tôi sẽ ngẩng đầu lên,
ngươi hãy lấy trộm vật ấy theo dấu hiệu ấy” thì phạm tội tác ác
(dukkaṭa); (nếu) vị kia lấy trộm đồ vật ấy theo dấu hiệu ấy thì cả hai
phạm tội pārājika; (nếu) vị kia lấy trộm vật dụng ấy trước hay sau dấu
hiệu ấy thì vị khởi xướng vô tội còn vị lấy trộm thì phạm tội pārājika.
[121] Vị
tỳ-khưu chỉ thị vị tỳ-khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì
phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vị kia nhận biết vật ấy rồi lấy trộm vật ấy thì
cả hai phạm tội pārājika. Vị tỳ-khưu chỉ thị vị tỳ-khưu rằng: “Hãy lấy
trộm vật tên như vầy” thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vị kia nhận biết
vật ấy rồi lấy trộm vật khác thì vị khởi xướng vô tội còn vị lấy trộm phạm
tội pārājika. Vị tỳ-khưu chỉ thị vị tỳ-khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên
như vầy” thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vị kia nhận biết vật khác rồi
lấy trộm vật ấy thì cả hai phạm tội pārājika. Vị tỳ-khưu chỉ thị vị
tỳ-khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội tác ác
(dukkaṭa). Vị kia nhận biết vật khác rồi lấy trộm vật khác thì vị khởi
xướng vô tội còn vị lấy trộm phạm tội pārājika.
Vị tỳ-khưu
(A)[7]
chỉ thị vị tỳ-khưu (B) rằng: “Hãy bảo vị tên (C) rằng: Vị tên (C) hãy
nói với vị tên (D) rằng: ‘Vị tên (D) hãy lấy trộm vật tên như vầy’”
thì vị ấy (A) phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vị (nào) nói cho vị khác thì phạm
tội tác ác (dukkaṭa). Vị lấy trộm (D) đồng ý thì vị khởi xướng (A) phạm
trọng tội (thullaccaya); vị ấy (D) lấy trộm vật ấy thì tất cả đều phạm tội
pārājika. Vị tỳ-khưu (A) chỉ thị vị tỳ-khưu (B) rằng: “Hãy bảo vị tên
(C) rằng: Vị tên (C) hãy nói với vị tên (D) rằng: ‘Vị tên (D) hãy
lấy trộm vật tên như vầy’” thì vị ấy (A) phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vị
ấy (B) chỉ thị vị khác (D) thì vị ấy (B) phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vị lấy
trộm (D) đồng ý thì vị ấy (D) phạm tội tác ác (dukkaṭa); vị ấy (D) lấy
trộm vật ấy thì vị khởi xướng (A) vô tội, vị truyền chỉ thị (B) và vị lấy
trộm (D) phạm tội pārājika.
Vị tỳ-khưu
chỉ thị vị tỳ-khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm
tội tác ác (dukkaṭa). Vị kia đi rồi quay trở lại (nói rằng): “Tôi không
thể lấy trộm vật ấy.” Vị ấy lại chỉ thị thêm: “Khi nào ngươi có thể
thì khi ấy ngươi hãy lấy trộm vật ấy” thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).
Vị kia lấy trộm vật ấy thì cả hai phạm tội pārājika.
Vị tỳ-khưu
chỉ thị vị tỳ-khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm
tội tác ác (dukkaṭa). Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối hận nhưng không nói
rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có lấy trộm.” Vị kia lấy trộm vật ấy
thì cả hai phạm tội pārājika. Vị tỳ-khưu chỉ thị vị tỳ-khưu rằng: “Hãy
lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Sau khi chỉ
thị, vị ấy có sự hối hận rồi nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có lấy
trộm.” Vị kia (đáp lại rằng): “Tôi đã được ngài chỉ thị” rồi
lấy trộm vật ấy thì vị khởi xướng vô tội, còn vị lấy trộm phạm tội
pārājika. Vị tỳ-khưu chỉ thị vị tỳ-khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như
vầy” thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối
hận rồi nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có lấy trộm.” Vị kia (đáp
lại rằng): “Tốt thôi” rồi ngưng lại thì cả hai vô tội.
[122] Vị lấy
vật không được cho phạm tội pārājika với năm yếu tố: là vật thuộc về người
khác, biết vật thuộc về người khác, là vật dụng quan trọng trị giá năm
māsaka hoặc hơn năm māsaka, ý định trộm cắp có hiện diện. (nếu) sờ vào thì
phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm trọng tội
(thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.
Vị lấy vật
không được cho phạm trọng tội (thullaccaya) với năm yếu tố: là vật thuộc
về người khác, biết vật thuộc về người khác, là vật dụng tầm thường trị
giá hơn một māsaka hoặc kém năm māsaka, ý định trộm cắp có hiện diện.
(nếu) sờ vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm
tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm trọng tội
(thullaccaya).
Vị lấy vật
không được cho phạm tội tác ác (dukkaṭa) với năm yếu tố: là vật thuộc về
người khác, biết vật thuộc về người khác, là vật dụng tầm thường trị giá
một māsaka hoặc kém một māsaka, ý định trộm cắp có hiện diện. (nếu) sờ vào
thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm tội tác ác
(dukkaṭa); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).
[123] Vị lấy
vật không được cho phạm tội pārājika với sáu yếu tố: biết vật không thuộc
về mình, lấy không phải do sự thân thiết, không phải (mượn) trong thời
hạn, là vật dụng quan trọng trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka, ý định
trộm cắp có hiện diện. (nếu) sờ vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu)
làm lay động thì phạm trọng tội (thullaccaya); (nếu) làm cho dời khỏi vị
trí thì phạm tội pārājika.
Vị lấy vật
không được cho phạm trọng tội (thullaccaya) với sáu yếu tố: biết vật không
thuộc về mình, lấy không phải do sự thân thiết, không phải (mượn) trong
thời hạn, là vật dụng tầm thường trị giá hơn một māsaka hoặc kém năm
māsaka, ý định trộm cắp có hiện diện. (nếu) sờ vào thì phạm tội tác ác
(dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm cho
dời khỏi vị trí thì phạm trọng tội (thullaccaya).
Vị lấy vật
không được cho phạm trọng tội (thullaccaya) với sáu yếu tố: biết vật không
thuộc về mình, lấy không phải do sự thân thiết, không phải (mượn) trong
thời hạn, là vật dụng tầm thường trị giá một māsaka hoặc kém một māsaka, ý
định trộm cắp có hiện diện. (nếu) sờ vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa);
(nếu) làm lay động thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm cho dời khỏi
vị trí thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).
[124] Vị lấy
vật không được cho phạm tội tác ác (dukkaṭa) với năm yếu tố: là vật không
thuộc về người khác, nghĩ là vật thuộc về người khác, là vật dụng quan
trọng trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka, ý định trộm cắp có hiện
diện. (nếu) sờ vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì
phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội tác
ác (dukkaṭa).
Vị lấy vật
không được cho phạm tội tác ác (dukkaṭa) với năm yếu tố: là vật không
thuộc về người khác, nghĩ là vật thuộc về người khác, là vật dụng tầm
thường trị giá hơn một māsaka hoặc kém năm māsaka, ý định trộm cắp có hiện
diện. (nếu) sờ vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì
phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội tác
ác (dukkaṭa).
Vị lấy vật
không được cho phạm tội tác ác (dukkaṭa) với năm yếu tố: là vật không
thuộc về người khác, nghĩ là vật thuộc về người khác, là vật dụng tầm
thường trị giá một māsaka hoặc kém một māsaka, ý định trộm cắp có hiện
diện. (nếu) sờ vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm lay động thì
phạm tội tác ác (dukkaṭa); (nếu) làm cho dời khỏi vị trí thì phạm tội tác
ác (dukkaṭa).
[125] Tưởng
là của mình, trong khi lấy do sự thân thiết, (mượn ) trong thời hạn, thuộc
về người chết (peta), thuộc về loài thú, nghĩ là vật bị quăng bỏ
(paṃsukūla), vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt Tụng
phẩm thứ nhất thuộc phần “Trộm cắp.”
[126]
Về những người thợ nhuộm
năm chuyện được đề cập,
bốn chuyện tấm vải
choàng,
năm chuyện về ban đêm,
năm chuyện vị mang vác,
đáp thuận theo câu nói
năm chuyện được kể lại,
hai chuyện khác về gió,
ở thi thể chưa hoại,
rút thăm cỏ kusa,
chuyện nhà tắm thứ mười,
vật thú ăn thừa lại
năm chuyện được nói đến,
vị không có hiện diện
cũng đề cập năm chuyện,
lúc khó khăn vật thực
cơm, thịt, và bánh nướng,
bánh ngọt, và thịt ngọt,
vật dụng, cùng túi xách,
tấm nệm, sào máng y,
vị đã không đi ra,
được ăn do thân thiết,
tưởng của mình hai
chuyện,
“Chúng tôi không lấy
trộm”
như thế có bảy chuyện,
và lấy trộm bảy chuyện,
của hội chúng bảy chuyện,
hai chuyện khác về hoa,
nhân danh người khác nói
có ba chuyện cả thảy,
đem qua ba viên ngọc,
heo rừng, nai, và cá,
di chuyển cả chiếc xe,
chim tha đi hai chuyện,
các khúc gỗ hai chuyện,
vải paṃsukūla,
nước cuốn trôi hai
chuyện,
từng chút, sự phân công,
chuyện khác chưa đủ số,
ở thành Sāvatthi
đầy nắm tay bốn chuyện,
phần còn thừa hai chuyện,
có hai chuyện về cỏ,
trái cây thuộc hội chúng
chia phần có bảy chuyện,
không phép chủ bảy
chuyện,
gỗ, nước, và đất sét,
và hai chuyện về cỏ,
vị lấy trộm chiếc giường,
v.v...
của hội chúng bảy chuyện,
và vật có chủ nhân
cũng không nên di chuyển,
chỉ tạm thời mang đi
vật có chủ thì được,
Campā, và Vương Xá,
và ngài Ajjuka
ở thành Vesālī,
chuyện Bārāṇasī,
và ở Kosambī,
và vị Daḷhika
ở thành Sāgalā.
[127] Vào
lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu nhóm Lục Sư đã đi đến chỗ nhuộm y và lấy trộm
gói đồ nhuộm. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Điều học đã được đức Thế
Tôn quy định; phải chăng chúng ta đã phạm tội pārājika?” Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.
[128] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ đi đến chỗ nhuộm y nhìn thấy tấm vải quý giá
nên đã khởi tâm trộm cắp. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã
phạm tội pārājika?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
tỳ-khưu, vô tội trong (trường hợp) sanh khởi tâm.
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ đi đến chỗ nhuộm y nhìn thấy tấm vải quý giá nên
khởi tâm trộm cắp và sờ vào. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội tác ác (dukkaṭa).
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ đi đến chỗ nhuộm y nhìn thấy tấm vải quý giá nên
khởi tâm trộm cắp và làm lay động. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như
trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm trọng tội (thullaccaya).
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ đi đến chỗ nhuộm y nhìn thấy tấm vải quý giá nên
khởi tâm trộm cắp và làm dời khỏi vị trí. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...
(như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[129] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ đi khất thực nhìn thấy tấm vải choàng quý
giá nên đã khởi tâm trộm cắp. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, vô tội trong (trường hợp) sanh khởi tâm.
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ đi khất thực nhìn thấy tấm vải choàng quý giá nên đã
khởi tâm trộm cắp và sờ vào. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội tác ác (dukkaṭa).
... (như
trên)... nên đã khởi tâm trộm cắp và làm lay động. ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm trọng tội (thullaccaya).
... (như
trên)... nên đã khởi tâm trộm cắp và làm dời khỏi vị trí. Vị ấy đã có nỗi
nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[130] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ sau khi nhìn thấy đồ vật vào ban ngày rồi đã
làm dấu hiệu (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy trộm vào ban đêm.” Vị ấy nhận
ra vật ấy rồi lấy trộm vật ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như
trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
... (như
trên)... Vị ấy nhận ra vật ấy rồi lấy trộm vật khác. ... (như trên)... Vị
ấy nhận ra vật khác rồi lấy trộm vật ấy. ... (như trên)... Vị ấy nhận ra
vật khác rồi lấy trộm vật khác. ... (như trên)... Vị ấy đã có nỗi nghi
hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ sau khi nhìn thấy đồ vật vào ban ngày rồi đã làm dấu
hiệu (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy trộm vào ban đêm.” Vị ấy nhận ra vật
ấy rồi lấy trộm đồ vật của chính mình. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như
trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội tác ác (dukkaṭa).
[131] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ trong lúc đang mang đồ vật của người khác đã
khởi tâm trộm cắp rồi sờ vào gói đồ ở trên đầu. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc:
... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội tác ác (dukkaṭa).
... (như
trên)... đã khởi tâm trộm cắp rồi làm lay động. ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm trọng tội (thullaccaya).
... (như
trên)... nên đã khởi tâm trộm cắp và đã đưa xuống vai. ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
... (như
trên)... đã khởi tâm trộm cắp rồi sờ vào gói đồ ở trên vai. ... (như
trên)... đã khởi tâm trộm cắp rồi làm lay động. ... (như trên)... đã khởi
tâm trộm cắp và đã đưa xuống hông. ... (như trên)... đã khởi tâm trộm cắp
rồi sờ vào gói đồ ở hông. ... (như trên)... đã khởi tâm trộm cắp rồi làm
lay động. ... (như trên)... đã khởi tâm trộm cắp rồi cầm lấy ở tay. ...
(như trên)... đã khởi tâm trộm cắp rồi đặt gói đồ ở tay xuống đất ... (như
trên)... đã khởi tâm trộm cắp rồi nhấc lên khỏi mặt đất. Vị ấy đã có nỗi
nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[132] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ đã căng y ở ngoài trời rồi đi vào trong trú
xá. Có vị tỳ-khưu nọ (nghĩ rằng): “Chớ để y này bị hư hỏng,” nên đã
đem cất đi. Vị kia đi ra rồi đã hỏi vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Này đại
đức, y của tôi đã bị ai lấy trộm?
Vị ấy nói
như vầy:
- Đã bị tôi
lấy trộm.
Vị kia đã
giữ vị ấy lại (nói rằng):
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế
Tôn, con (chỉ đáp lại) thuận theo câu nói (niruttipatho).
- Này
tỳ-khưu, vô tội trong việc (đáp lại) thuận theo câu nói.
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ đã để y ở trên ghế. ...(như trên)... đã để tọa cụ ở
trên ghế ...(như trên)... đã để bình bát ở dưới ghế rồi đi vào trong trú
xá. Có vị tỳ-khưu nọ (nghĩ rằng): “Chớ để bình bát này bị hư hỏng,”
nên đã đem cất đi. Vị kia đi ra rồi đã hỏi vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Này đại
đức, bình bát của tôi đã bị ai lấy trộm?
Vị ấy nói
như vầy:
- Đã bị tôi
lấy trộm.
Vị kia đã
giữ vị ấy lại (nói rằng):
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, vô tội trong việc (đáp lại) thuận theo câu nói.
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu ni nọ đã căng y ở hàng rào rồi đi vào trong trú xá. Có
vị tỳ-khưu ni nọ (nghĩ rằng): “Chớ để y này bị hư hỏng,” nên đã đem
cất đi. Vị ni kia đi ra rồi đã hỏi vị tỳ-khưu ni ấy rằng:
- Này ni sư,
y của tôi đã bị ai lấy trộm?
Vị ni ấy nói
như vầy:
- Đã bị tôi
lấy trộm.
Vị ni kia đã
giữ vị ni ấy lại (nói rằng):
- Cô không
còn là nữ sa-môn nữa.
Vị ni ấy đã
có nỗi nghi hoặc. Sau đó, vị tỳ-khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các
tỳ-khưu ni. Các tỳ-khưu ni đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ-khưu. Các
tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, vô tội trong việc (đáp lại) thuận theo câu nói.
[133] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ nhìn thấy một tấm vải choàng bị cuốn đi bởi
cơn gió xoáy nên đã nhặt lấy (nghĩ rằng): “Ta sẽ cho lại những người
chủ.” Những người chủ đã quở trách vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế
Tôn, con không có ý định trộm cắp.
- Này
tỳ-khưu, vị không có ý định trộm cắp thì vô tội.
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ đã nhặt lấy khăn xếp đội đầu bị cuốn đi bởi cơn gió
xoáy với ý định trộm cắp (nghĩ rằng): “(Phải nhặt lấy) trước khi những
người chủ nhìn thấy.” Những người chủ đã quở trách vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế
Tôn, con có ý định trộm cắp.
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[134] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ đi vào nơi nghĩa địa đã nhặt lấy vải
paṃsukūla ở thi thể chưa hoại. Và có ngạ quỷ (peta) trú trong thi thể ấy.[8]
Khi ấy, ngạ quỷ ấy đã nói với vị tỳ-khưu điều này:
- Thưa ngài,
xin chớ lấy đi tấm vải choàng của tôi.
Vị tỳ-khưu
ấy không chú ý đến nên đã nhặt lấy. Khi ấy, thi thể ấy đã đứng dậy và đi
sát phía sau vị tỳ-khưu ấy. Sau đó, vị tỳ-khưu ấy đã đi vào trú xá và đóng
cửa lại. Khi ấy, thi thể ấy đã té xuống ngay tại chỗ ấy. Vị ấy đã có nỗi
nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi không phạm tội pārājika. Và này các tỳ-khưu, không nên lấy
vải paṃsukūla ở thi thể chưa hoại; vị nào lấy thì phạm tội tác ác
(dukkaṭa).
[135] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ trong lúc phân chia các y cho hội chúng đã
tráo thăm (kusa) với ý định trộm cắp và lấy được y.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[136] Vào
lúc bấy giờ, ở trong nhà tắm hơi đại đức Ānanda nghĩ là của mình nên đã
mặc vào y nội của vị tỳ-khưu nọ. Khi ấy, vị tỳ-khưu ấy đã nói với đại đức
Ānanda điều này:
- Này đại
đức Ānanda, sao đại đức lại mặc y nội của tôi?
- Này đại
đức, tôi tưởng là của tôi.
Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, vị (lầm) tưởng là của mình thì vô tội.
[137] Vào
lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ-khưu trong lúc đi xuống từ núi Gijjhakūṭā đã nhìn
thấy phần thịt ăn còn thừa của sư tử (sīhavighāsaṃ) nên đã cho nấu chín
rồi thọ dụng. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. Các vị đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, (trong trường hợp) phần thịt ăn còn thừa của sư tử thì vô tội.
Vào lúc bấy
giờ, nhiều vị tỳ-khưu trong lúc đi xuống từ núi Gijjhakūṭā đã nhìn thấy
phần thịt ăn còn thừa của loài cọp ... (như trên)... đã nhìn thấy phần
thịt ăn còn thừa của loài beo ... (như trên)... đã nhìn thấy phần thịt ăn
còn thừa của loài linh cẩu ... (như trên)... đã nhìn thấy phần thịt ăn còn
thừa của chó sói nên đã cho nấu chín rồi thọ dụng. Các vị ấy đã có nỗi
nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này các
tỳ-khưu, (trong trường hợp) vật thuộc về loài thú thì vô tội.
[138] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ trong khi cơm của hội chúng được phân chia
(đã nói rằng): “Hãy trao cho tôi phần của vị khác” rồi lấy phần của
vị không có hiện diện (amūlakaṃ). Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như
trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội ưng đối trị (pācittiya)
trong việc cố tình nói dối.
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ trong khi vật thực cứng của hội chúng được phân chia
... (như trên)... trong khi bánh nuớng (pūva) của hội chúng được phân chia
... (như trên)... trong khi mía cây của hội chúng được phân chia ... (như
trên)... trong khi dưa (timbarūsake) của hội chúng được phân chia ... (như
trên)... (nói rằng): “Hãy trao cho tôi phần của vị khác” rồi lấy
phần của vị không có hiện diện. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như
trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội ưng đối trị (pācittiya)
trong việc cố tình nói dối.
[139] Vào
lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực có vị tỳ-khưu nọ có ý định
trộm cắp đã đi vào cửa hàng bán cơm lấy trộm đầy bát cơm. Vị ấy đã có nỗi
nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
Vào lúc bấy
giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực có vị tỳ-khưu nọ có ý định trộm
cắp đã đi vào cửa hàng bán thịt lấy trộm đầy bát thịt. Vị ấy đã có nỗi
nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
Vào lúc bấy
giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực có vị tỳ-khưu nọ có ý định trộm
cắp đã đi vào cửa hàng bán bánh nướng lấy trộm đầy bát bánh nướng. ...
(như trên)... có ý định trộm cắp đã lấy trộm đầy bát bánh ngọt (sakkhali)
... (như trên)... có ý định trộm cắp đã lấy trộm đầy bát thịt ngọt
(modaka). Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[140] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ sau khi nhìn thấy vật dụng vào ban ngày rồi
đã làm dấu hiệu (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy trộm vào ban đêm.” Vị ấy
nhận ra vật ấy rồi lấy trộm vật ấy. ... (như trên)... Vị ấy nhận ra vật ấy
rồi lấy trộm vật khác. ... (như trên)... Vị ấy nhận ra vật khác rồi lấy
trộm vật ấy. ... (như trên)... Vị ấy nhận ra vật khác rồi lấy trộm vật
khác. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ sau khi nhìn thấy vật dụng vào ban ngày rồi đã làm
dấu hiệu (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy trộm vào ban đêm.” Vị ấy nhận ra
vật ấy rồi lấy trộm vật dụng của chính mình. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc:
... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội tác ác (dukkaṭa).
[141] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ sau khi nhìn thấy túi xách ở trên ghế (nghĩ
rằng): “Trong khi lấy từ chỗ này thì ta sẽ phạm tội pārājika” nên
đã di chuyển luôn cả cái ghế rồi mới đoạt lấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc:
... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[142] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ có định trộm cắp đã lấy trộm nệm của hội
chúng. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[143] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ có định trộm cắp đã lấy trộm y ở sào máng y.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[144] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ sau khi đã lấy trộm y ở trong trú xá (nghĩ
rằng): “Khi đi ra khỏi đây thì ta sẽ phạm tội pārājika,” rồi đã
không đi ra khỏi trú xá. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, kẻ rồ dại ấy có đi ra hay không đi ra cũng đã phạm tội pārājika.
[145] Vào
lúc bấy giờ, có hai vị tỳ-khưu là bạn bè, một vị đã đi vào làng để khất
thực. Còn vị thứ nhì, trong khi vật thực cứng của hội chúng được phân
phát, đã nhận phần của người bạn và đã thọ dụng do sự thân thiết với vị
ấy. Vị kia biết được đã quở trách vị ấy rằng:
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế
Tôn, con lấy do sự thân thiết.
- Này
tỳ-khưu, trường hợp lấy do sự thân thiết thì vô tội.[9]
[146] Vào
lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ-khưu thực hiện việc may y. Khi vật thực cứng
của hội chúng được phân chia, các phần chia của tất cả các vị đã được mang
đến và để ở bên cạnh. Có vị tỳ-khưu nọ (lầm) tưởng phần chia của vị
tỳ-khưu khác là của mình nên đã thọ dụng. Vị kia biết được đã quở trách vị
ấy rằng:
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, vị (lầm) tưởng là của mình thì vô tội.
Vào lúc bấy
giờ, có nhiều vị tỳ-khưu thực hiện việc may y. Khi vật thực cứng của hội
chúng được phân chia, phần chia của vị tỳ-khưu nọ được mang lại bằng bình
bát của vị tỳ-khưu khác và được để xuống gần đó. Vị tỳ-khưu chủ nhân của
bình bát tưởng (lầm) là của mình nên đã thọ dụng. Vị kia biết được đã quở
trách vị ấy rằng:
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, vị tưởng (lầm) là của mình thì vô tội.
[147] Vào
lúc bấy giờ, có các kẻ trộm xoài đã hái xoài rồi mang theo gói (xoài) bỏ
đi. Những người chủ đã đuổi theo các kẻ trộm ấy. Khi nhìn thấy những người
chủ, các kẻ trộm đã đánh rơi gói (xoài) rồi tẩu thoát. Các vị tỳ-khưu
tưởng rằng gói (xoài) ấy là vật quăng bỏ (paṃsukūla) nên đã cho người nhặt
lấy rồi thọ dụng. Những người chủ đã quở trách các vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Các người
không phải là sa-môn.
Các vị ấy đã
có nỗi nghi hoặc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, (khi ấy) các ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế
Tôn, chúng con (lầm) tưởng là vật quăng bỏ.
- Này các
tỳ-khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.
Vào lúc bấy
giờ, có các kẻ trộm trái táo hồng (jambū) ...(như trên)... các kẻ trộm
trái bánh mì (labuja) ...(như trên)... các kẻ trộm trái mít (panasa)
...(như trên)... các kẻ trộm trái chà là (tālapakka) ...(như trên)... các
kẻ trộm mía (ucchu) ...(như trên)... các kẻ trộm dưa (timbarūsaka) sau khi
gom các quả dưa lại rồi mang theo gói (dưa) bỏ đi. Những người chủ đã đuổi
theo các kẻ trộm ấy. Khi nhìn thấy những người chủ, các kẻ trộm đã đánh
rơi gói (dưa) rồi tẩu thoát. Các vị tỳ-khưu tưởng rằng gói (dưa) ấy là vật
quăng bỏ (paṃsukūla) nên đã cho người nhặt lấy rồi thọ dụng. Những người
chủ đã quở trách các vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Các người
không phải là sa-môn.
Các vị ấy đã
có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này các
tỳ-khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.
[148] Vào
lúc bấy giờ, có các kẻ trộm xoài đã hái xoài rồi mang theo gói (xoài) bỏ
đi. Những người chủ đã đuổi theo các kẻ trộm ấy. Khi nhìn thấy những người
chủ, các kẻ trộm đã đánh rơi gói (xoài) rồi tẩu thoát. Các vị tỳ-khưu có ý
định trộm cắp (nghĩ rằng): “(Phải ăn) trước khi những người chủ nhìn
thấy,” rồi đã thọ dụng. Những người chủ đã quở trách các vị tỳ-khưu ấy
rằng:
- Các người
không phải là sa-môn.
Các vị ấy đã
có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này các
tỳ-khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.
Vào lúc bấy
giờ, có các kẻ trộm trái táo hồng ...(như trên)... các kẻ trộm trái bánh
mì ...(như trên)... các kẻ trộm trái mít ...(như trên)... các kẻ trộm trái
chà là ...(như trên)... các kẻ trộm mía ...(như trên)... các kẻ trộm dưa
sau khi gom các quả dưa lại rồi mang theo gói (dưa) bỏ đi. Những người chủ
đã đuổi theo các kẻ trộm ấy. Khi nhìn thấy những người chủ, các kẻ trộm đã
đánh rơi gói (dưa) rồi tẩu thoát. Các vị tỳ-khưu có ý định trộm cắp (nghĩ
rằng): “(Phải ăn) trước khi những người chủ nhìn thấy,” rồi đã thọ
dụng. Những người chủ đã quở trách các vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Các người
không phải là sa-môn.
Các vị ấy đã
có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này các
tỳ-khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.
[149] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ với ý định trộm cắp đã lấy trộm xoài của hội
chúng. ...(như trên)... trái táo hồng của hội chúng. ...(như trên)... trái
bánh mì của hội chúng. ...(như trên)... trái mít của hội chúng. ...(như
trên)... trái chà là của hội chúng. ...(như trên)... mía của hội chúng.
...(như trên)... dưa của hội chúng. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như
trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[150] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ đi đến vườn hoa với ý định trộm cắp đã lấy
trộm bông hoa đã được hái trị giá năm māsaka. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc:
...(như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ đi đến vườn hoa. Sau khi hái bông hoa trị giá năm
māsaka, vị ấy có ý định trộm cắp nên đã lấy trộm. Vị ấy đã có nỗi nghi
hoặc: ...(như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[151] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ trong lúc đi đến ngôi làng nhỏ đã nói với vị
tỳ-khưu khác điều này:
- Này đại
đức, được đại đức cho phép nên tôi sẽ nhân danh đại đức nói với gia đình
hộ độ của đại đức.
Vị ấy sau
khi đi đến đã bảo đem lại một tấm vải choàng và đã sử dụng cho bản thân.
Vị kia biết được đã quở trách vị ấy rằng:
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã không phạm tội pārājika. Và này các tỳ-khưu, không nên
nói rằng: “Được đại đức cho phép nên tôi sẽ nói nhân danh đại đức
(vutto vajjemi).” Vị nào nói thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ đi đến ngôi làng nhỏ. Có vị tỳ-khưu nọ đã nói với vị
tỳ-khưu ấy điều này:
- Này đại
đức, được tôi cho phép nên đại đức hãy nhân danh tôi nói với gia đình hộ
độ của tôi.
Vị ấy sau
khi đi đến đã bảo đem lại hai tấm vải choàng và đã sử dụng cho bản thân
một tấm, còn đưa cho vị tỳ-khưu kia một tấm. Vị kia biết được đã quở trách
vị ấy rằng:
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã không phạm tội pārājika. Và này các tỳ-khưu, không nên
nói rằng: “Được tôi cho phép nên đại đức hãy nói nhân danh tôi (vutto
vajjehi).” Vị nào nói thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ trong lúc đi đến ngôi làng nhỏ đã nói với vị tỳ-khưu
khác điều này:
- Này đại
đức, được đại đức cho phép nên tôi sẽ nhân danh đại đức nói với gia đình
hộ độ của đại đức.
Vị kia cũng
đã nói như vầy:
- Được tôi
cho phép nên đại đức hãy nhân danh tôi nói với gia đình hộ độ của tôi.
Vị ấy sau
khi đi đến đã bảo đem lại một āḷhakaṃ bơ lỏng, một tulaṃ mật đường, và một
doṇaṃ[10]
gạo rồi đã thọ dụng cho bản thân. Vị kia biết được đã quở trách vị ấy
rằng:
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã không phạm tội pārājika. Và này các tỳ-khưu, không nên
nói rằng: “Được đại đức cho phép nên tôi sẽ nói nhân danh đại đức
(vutto vajjemi),” và không nên nói rằng: “Được tôi cho phép nên đại
đức hãy nói nhân danh tôi (vutto vajjehi).” Vị nào nói thì phạm tội
tác ác (dukkaṭa).
[152] Vào
lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ mang theo viên ngọc ma-ni quý giá cùng đi
đường xa với vị tỳ-khưu nọ. Rồi khi nhìn thấy trạm thuế, người đàn ông ấy
đã lén bỏ viên ngọc ma-ni vào trong túi xách của vị tỳ-khưu ấy và sau khi
qua khỏi trạm thuế đã lấy lại. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như
trên)...
- Này
tỳ-khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế
Tôn, con không biết.
- Này
tỳ-khưu, vị không biết thì vô tội.
Vào lúc bấy
giờ, có người đàn ông nọ mang theo viên ngọc ma-ni quý giá cùng đi đường
xa với vị tỳ-khưu nọ. Rồi khi nhìn thấy trạm thuế, người đàn ông ấy giả vờ
bị bệnh rồi đã trao gói đồ của mình cho vị tỳ-khưu ấy. Sau khi qua khỏi
trạm thuế, người đàn ông ấy đã nói với vị tỳ-khưu ấy điều này:
- Thưa ngài,
xin hãy trao gói đồ cho tôi. Tôi không có bệnh.
- Này đạo
hữu, tại sao ngươi làm như thế?
Khi ấy,
người đàn ông ấy đã kể lại sự việc ấy cho vị tỳ-khưu ấy. Vị ấy đã có nỗi
nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế
Tôn, con không biết.
- Này
tỳ-khưu, vị không biết thì vô tội.
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ đi đường xa cùng với chiếc xe ngựa. Một người đàn
ông nọ đã dùng tài vật mua chuộc vị tỳ-khưu ấy, đến khi nhìn thấy trạm
thuế đã trao cho vị tỳ-khưu ấy một viên ngọc ma-ni quý giá (nói rằng):
- Thưa ngài,
hãy đem viên ngọc ma-ni này qua khỏi trạm thuế.
Rồi vị
tỳ-khưu ấy đã đem viên ngọc ma-ni ấy qua khỏi trạm thuế. Vị ấy đã có nỗi
nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[153] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ đã thả ra một con heo rừng bị mắc bẫy vì
lòng trắc ẩn. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế
Tôn, con vì lòng trắc ẩn thôi thúc.
- Này
tỳ-khưu, vị vì lòng trắc ẩn thôi thúc thì vô tội.
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ đã thả ra một con heo rừng bị mắc bẫy với ý định
trộm cắp (nghĩ rằng): “(Phải hành động) trước khi các người chủ nhìn
thấy.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ đã thả ra một con nai bị mắc bẫy vì lòng trắc ẩn.
...(như trên)... đã thả ra một con nai bị mắc bẫy với ý định trộm cắp
(nghĩ rằng): “(Phải hành động) trước khi các người chủ nhìn thấy.”
...(như trên)... đã thả ra những con cá bị bị vướng vào rọ vì lòng trắc
ẩn. ...(như trên)... đã thả ra những con cá bị bị vướng vào rọ với ý định
trộm cắp (nghĩ rằng): “(Phải hành động) trước khi các người chủ nhìn
thấy.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[154] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ sau khi nhìn thấy gói đồ ở trong chiếc xe
(nghĩ rằng): “Trong khi lấy từ chỗ này thì ta sẽ phạm tội pārājika”
nên đã bước lên đánh xe đi rồi mới đoạt lấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc:
... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[155] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ đã nhặt lấy miếng thịt bị chim ưng tha đi
(nghĩ rằng): “Ta sẽ cho lại những người chủ.” Những người chủ đã
quở trách vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, vị không có ý định trộm cắp thì vô tội.
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ đã nhặt lấy miếng thịt bị chim ưng tha đi với ý định
trộm cắp (nghĩ rằng): “(Phải hành động) trước khi các người chủ nhìn
thấy.” Những người chủ đã quở trách vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[156] Vào
lúc bấy giờ, dân chúng buộc (các khúc gỗ) lại thành bè rồi thả xuôi dòng
sông Aciravatī. Khi các dây buộc bị đứt, các khúc gỗ đã bị phân tán trôi
đi. Các vị tỳ-khưu tưởng là vật quăng bỏ nên đã vớt lên. Những người chủ
đã quở trách các vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Các người
không phải là sa-môn.
Các vị ấy đã
có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này các
tỳ-khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.
Vào lúc bấy
giờ, dân chúng buộc (các khúc gỗ) lại thành bè rồi thả xuôi dòng sông
Aciravatī. Khi các dây buộc bị đứt, các khúc gỗ đã bị phân tán trôi đi.
Các vị tỳ-khưu đã vớt lên với ý định trộm cắp (nghĩ rằng): “(Phải hành
động) trước khi các người chủ nhìn thấy.” Những người chủ đã quở trách
các vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Các người
không phải là sa-môn.
Các vị ấy đã
có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này các
tỳ-khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.
[157] Vào
lúc bấy giờ, có người chăn bò nọ đã treo tấm vải choàng trên cây rồi đi
đại tiện. Có vị tỳ-khưu tưởng là vật quăng bỏ nên đã nhặt lấy. Khi ấy,
người chăn bò ấy đã quở trách vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này các
tỳ-khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.
[158] Vào
lúc bấy giờ, trong lúc vị tỳ-khưu nọ đang lội qua sông, có một tấm vải
choàng bị truột khỏi tay của những người thợ nhuộm (trôi đến) vướng vào
chân (của vị ấy). Vị tỳ-khưu ấy đã nhặt lên (nghĩ rằng): “Ta sẽ cho lại
những người chủ.” Những người chủ đã quở trách vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, vị không có ý định trộm cắp thì vô tội.
Vào lúc bấy
giờ, trong lúc vị tỳ-khưu nọ đang lội qua sông, có một tấm vải choàng bị
truột khỏi tay của những người thợ nhuộm (trôi đến) vướng vào chân (của vị
ấy). Vị tỳ-khưu ấy nên đã nhặt lấy với ý định trộm cắp (nghĩ rằng): “(Phải
hành động) trước khi các người chủ nhìn thấy.” Những người chủ đã quở
trách vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[159] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ nhìn thấy hũ bơ lỏng nên đã thọ dụng mỗi lần
một chút ít (thokaṃ thokaṃ). Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội tác ác (dukkaṭa).[11]
[160] Vào
lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ-khưu đã cùng nhau phân công rồi ra đi (nghĩ
rằng): “Chúng ta sẽ lấy trộm đồ vật.” Một vị đã lấy trộm đồ vật.
Các vị ấy đã nói như vầy:
- Chúng ta
không phạm tội pārājika. Vị nào lấy trộm thì phạm tội pārājika.
Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.
Vào lúc bấy
giờ, nhiều vị tỳ-khưu sau khi đã cùng nhau phân công rồi đã lấy trộm đồ
vật và chia phần. Phần chia được các vị ấy chia ra cho mỗi một vị không đủ
năm māsaka. Các vị ấy đã nói như vầy:
- Chúng ta
không phạm tội pārājika.
Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.
[161] Vào
lúc bấy giờ, trong lúc ở thành Sāvatthi có khó khăn về vật thực, có vị
tỳ-khưu nọ có ý định trộm cắp đã lấy trộm một nắm (tay) gạo của người chủ
tiệm. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
Vào lúc bấy
giờ, trong lúc ở thành Sāvatthi có khó khăn về vật thực, có vị tỳ-khưu nọ
có ý định trộm cắp đã lấy trộm một nắm (tay) đậu ...(như trên)... một nắm
(tay) đậu tây ...(như trên)... một nắm (tay) hạt mè của người chủ tiệm. Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[162] Vào
lúc bấy giờ, trong khu rừng Andha ở thành Sāvatthi, các kẻ trộm sau khi
giết con bò cái, đã ăn thịt, sau khi thu dọn phần còn thừa (để ở một nơi),
rồi đi. Các vị tỳ-khưu tưởng là vật quăng bỏ nên đã cho người nhặt lấy và
thọ dụng. Các kẻ trộm đã quở trách các vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Các người
không phải là sa-môn.
Các vị ấy đã
có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này các
tỳ-khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.
Vào lúc bấy
giờ, trong khu rừng Andha ở thành Sāvatthi, các kẻ trộm sau khi giết con
heo rừng, đã ăn thịt, sau khi thu dọn phần còn thừa (để ở một nơi), rồi
đi. Các vị tỳ-khưu tưởng là vật quăng bỏ nên đã cho người nhặt lấy và thọ
dụng. Các kẻ trộm đã quở trách các vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Các người
không phải là sa-môn.
Các vị ấy đã
có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này các
tỳ-khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.
[163] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ, sau khi đi đến cánh đồng cỏ, có ý định trộm
cắp rồi đã lấy trộm cỏ được cắt sẵn trị giá năm māsaka. Vị ấy đã có nỗi
nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[164] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ sau khi đi đến cánh đồng cỏ và cắt (số
lượng) cỏ trị giá năm māsaka, có ý định trộm cắp rồi đã lấy trộm. Vị ấy đã
có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[165] Vào
lúc bấy giờ, các tỳ-khưu vãng lai sau khi bảo chia phần xoài của hội chúng
rồi đã thọ dụng. Các tỳ-khưu thường trú đã quở trách các vị tỳ-khưu ấy
rằng:
- Các người
không phải là sa-môn.
Các vị ấy đã
có nỗi nghi hoặc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, (khi ấy) các ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế
Tôn, chúng con có nhu cầu về thọ thực (paribhogatthāya).
- Này các
tỳ-khưu, (trường hợp) có nhu cầu về thọ thực thì vô tội.
Vào lúc bấy
giờ, các tỳ-khưu vãng lai sau khi bảo chia phần trái táo hồng của hội
chúng ...(như trên)... trái bánh mì của hội chúng ...(như trên)... trái
mít của hội chúng ...(như trên)... trái chà là của hội chúng ...(như
trên)... mía của hội chúng ...(như trên)... dưa của hội chúng rồi đã thọ
dụng. Các tỳ-khưu thường trú đã quở trách các vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Các người
không phải là sa-môn.
Các vị ấy đã
có nỗi nghi hoặc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, (khi ấy) các ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế
Tôn, chúng con có nhu cầu về thọ thực.
- Này các
tỳ-khưu, (trường hợp) có nhu cầu về thọ thực thì vô tội.
[166] Vào
lúc bấy giờ, những người canh giữ xoài dâng trái xoài đến các vị tỳ-khưu.
Các vị tỳ-khưu (nghĩ rằng): “Các người chủ bảo họ canh giữ các vật này
chớ không bảo dâng các vật này,” nên đã ngần ngại không thọ nhận. Các
vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, vô tội trong việc bố thí của những người giữ vườn.
Vào lúc bấy
giờ, những người canh giữ táo hồng ...(như trên)... những người canh giữ
trái bánh mì ...(như trên)... những người canh giữ mít ...(như trên)...
những người canh giữ trái chà là ...(như trên)... những người canh giữ mía
...(như trên)... những người canh giữ dưa dâng những quả dưa đến các vị
tỳ-khưu. Các vị tỳ-khưu (nghĩ rằng): “Các người chủ bảo họ canh giữ các
vật này chớ không bảo dâng các vật này,” nên đã ngần ngại không thọ
nhận. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, vô tội trong việc bố thí của những người giữ vườn.
[167] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ lấy có tính cách tạm thời cây gỗ của hội
chúng để chống đỡ bức tường của trú xá của bản thân. Các tỳ-khưu đã quở
trách vị tỳ-khưu ấy rằng:
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc. Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
tỳ-khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế
Tôn, con (lấy) có tính cách tạm thời.
- Này
tỳ-khưu, (trường hợp) có tính cách tạm thời thì vô tội.
[168] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ có ý định trộm cắp đã lấy trộm nước của hội
chúng ...(như trên)... có ý định trộm cắp đã lấy trộm đất sét của hội
chúng ...(như trên)... có ý định trộm cắp đã lấy trộm cỏ muñja của hội
chúng ...(như trên)... Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ có ý định trộm cắp đã đốt cháy cỏ muñja của hội
chúng ...(như trên)... Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội tác ác (dukkaṭa).
[169] Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ có ý định trộm cắp đã lấy trộm giường của
hội chúng. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ-khưu nọ có ý định trộm cắp đã lấy trộm ghế của hội chúng
...(như trên)... nệm của hội chúng ...(như trên)... gối của hội chúng
...(như trên)... cánh cửa lớn của hội chúng ...(như trên)... cửa sổ của
hội chúng ...(như trên)... đà gỗ của hội chúng. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc:
... (như trên)...
- Này
tỳ-khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[170] Vào
lúc bấy giờ, các tỳ-khưu sử dụng chỗ nằm ngồi là vật dụng trong trú xá của
người nam cư sĩ nọ tại một địa điểm khác. Khi ấy, người nam cư sĩ ấy phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các
ngài đại đức lại sử dụng đồ đạc của địa điểm này tại địa điểm khác?
Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, không nên sử dụng đồ đạc của địa điểm này tại địa điểm khác. Vị
nào sử dụng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).
Vào lúc bấy
giờ, các tỳ-khưu ngần ngại di chuyển (thảm lót) đến nhà hành lễ Uposatha
và phòng hội họp nên đã ngồi xuống ở nền nhà. Các thân mình và y phục đều
bị dơ bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, ta cho phép di chuyển có tính cách tạm thời.
[171] Vào
lúc bấy giờ ở xứ Campā, vị tỳ-khưu ni học trò của tỳ-khưu ni Thullanandā
đã đi đến gia đình hộ độ tỳ-khưu ni Thullanandā (nói rằng): “Ni sư muốn
uống cháo gồm ba thứ;” sau khi bảo nấu, đã mang đi, rồi đã thọ dụng
cho chính bản thân. tỳ-khưu ni Thullanandā biết được đã quở trách rằng:
- Ngươi
không phải là nữ sa-môn.
Vị ni ấy đã
có nỗi nghi hoặc. Sau đó, vị tỳ-khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các
tỳ-khưu ni. Các tỳ-khưu ni đã kể lại sự việc ấy đến các tỳ-khưu. Các
tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, vị ni ấy không phạm tội pārājika mà phạm tội ưng đối trị
(pācittiya) trong việc cố tình nói dối.
Vào lúc bấy
giờ ở thành Rājagaha, vị tỳ-khưu ni học trò của tỳ-khưu ni Thullanandā đã
đi đến gia đình hộ độ tỳ-khưu ni Thullanandā (nói rằng): “Ni sư muốn ăn
mật viên;” sau khi bảo nấu, đã mang đi, rồi đã thọ dụng cho chính bản
thân. tỳ-khưu ni Thullanandā biết được đã quở trách rằng:
- Ngươi
không phải là nữ sa-môn.
Vị ni ấy đã
có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này các
tỳ-khưu, vị ni ấy không phạm tội pārājika mà phạm tội ưng đối trị
(pācittiya) trong việc cố tình nói dối.
[172] Vào
lúc bấy giờ ở thành Vesālī, người gia chủ hộ độ đại đức Ajjuka có hai đứa
trẻ trai: (một) là con trai và (đứa kia) là cháu trai. Khi ấy, người gia
chủ ấy đã nói với đại đức Ajjuka điều này:
- Thưa ngài,
trong hai đứa trẻ trai này, đứa nào có đức tin và mộ đạo thì ngài nên trao
cơ hội (okāsaṃ) này cho đứa ấy.
Người ấy đã
qua đời. Vào lúc bấy giờ, đứa cháu trai của người gia chủ ấy thì có đức
tin và mộ đạo. Khi ấy, đại đức Ajjuka đã trao cơ hội (okāsaṃ) ấy cho đứa
trẻ trai ấy. Với của cải ấy, người ấy đã bảo quản được tài sản và còn tạo
việc bố thí nữa. Rồi người con trai của vị gia chủ ấy đã nói với đại đức
Ānanda điều này:
- Thưa ngài
Ānanda, ai thật sự là người thừa tự của người cha: là con trai hay là cháu
trai?
- Này đạo
hữu, người con trai chính là người thừa tự của người cha.
- Thưa ngài,
đại đức Ajjuka này đã bảo rằng của cải của chúng tôi là thuộc về người anh
(em) họ của chúng tôi
- Này đạo
hữu, đại đức Ajjuka không phải là sa-môn.
Sau đó, đại
đức Ajjuka đã nói với đại đức Ānanda điều này:
- Này đại
đức Ānanda, hãy cho tôi một cuộc phân xử.
Vào lúc bấy
giờ, đại đức Upāli là thuộc về phe của đại đức Ajjuka. Khi ấy, đại đức
Upāli đã nói với đại đức Ānanda điều này:
- Này đại
đức Ānanda, vị (tỳ-khưu) được sở hữu chủ nói rằng: “Hãy trao cơ hội này
cho người tên như vầy” rồi đã trao cho người ấy (theo lời dặn dò) thì
phạm tội gì?
- Thưa ngài,
vị ấy không phạm tội gì cho dù là tội tác ác (dukkaṭa) đi nữa.
- Này đại
đức, đại đức Ajjuka được sở hữu chủ nói rằng: “Hãy trao cơ hội này cho
người tên như vầy” rồi đã trao cho người ấy (theo lời dặn dò). Này đại
đức, đại đức Ajjuka là vô tội.
[173] Vào
lúc bấy giờ, ở thành Bārāṇasī, gia đình hộ độ đại đức Pilindavaccha bị bọn
đạo tặc cướp bóc và hai đứa trẻ trai đã bị bắt đi. Sau đó, đại đức
Pilindavaccha đã dùng thần thông đưa hai đứa trẻ ấy về lại và để ở sân
nhà. Dân chúng sau khi nhìn thấy hai đứa trẻ (đã nói rằng): “Đây là
năng lực thần thông của ngài Pilindavaccha!” rồi đã đặt trọn niềm tin
nơi đại đức Pilindavaccha. Các vị tỳ-khưu phàn nàn, phê phán, chê bai
rằng:
- Tại sao
đại đức Pilindavaccha lại đưa về những đứa trẻ đã bị bọn đạo tặc bắt đi?
Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, trong lãnh vực về thần thông, vị có thần thông thì vô tội .
[174] Vào
lúc bấy giờ, có hai vị tỳ-khưu là bạn bè, Paṇḍaka và Kapila. Một vị cư trú
ở ngôi làng nhỏ, vị kia cư trú ở thành Kosambī. Rồi vị tỳ-khưu ấy trong
lúc đi từ ngôi làng nhỏ đến thành Kosambī, ở giữa đường trong lúc lội qua
con sông, có xâu thịt mỡ bị truột khỏi tay đám thợ săn heo rừng (trôi đến)
vướng vào chân (của vị ấy). Vị tỳ-khưu ấy (nghĩ rằng): “Ta sẽ trao lại
cho các người chủ,” rồi đã nhặt lấy. Các người chủ đã quở trách vị
tỳ-khưu ấy rằng:
- Ngươi
không phải là sa-môn.
Một cô chăn
bò nọ khi nhìn thấy vị ấy đi ngang qua đã nói điều này:
- Thưa ngài,
hãy đến. Hãy thực hiện việc đôi lứa.
Vị ấy (nghĩ
rằng): “Tự trong bản chất, ta không phải là sa-môn nữa rồi!” nên đã
thực hiện việc đôi lứa với cô ấy, sau đó đã đi đến thành Kosambī và kể lại
sự việc ấy cho các tỳ-khưu. Các tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn.
- Này các
tỳ-khưu, vị ấy không phạm tội pārājika trong việc trộm cắp, vị ấy phạm tội
pārājika có liên quan đến việc đôi lứa.
[175] Vào
lúc bấy giờ, ở thành Sāgalā, vị tỳ-khưu đệ tử của đại đức Daḷhika bị bực
bội bởi sự không thỏa thích nên đã lấy trộm khăn xếp đội đầu của người chủ
tiệm rồi nói với đại đức Daḷhika điều này:
- Bạch ngài,
tôi không phải là sa-môn, tôi sẽ hoàn tục.
- Này đại
đức, ngươi đã làm điều gì?
- Bạch ngài,
tôi đã lấy khăn xếp đội đầu của người chủ tiệm.
Vị ấy đã cho
người đem lại và cho người định giá (vật ấy). Trong khi được định giá, vật
ấy có giá trị không đến năm māsaka.
- Này đại
đức, ngươi không phạm tội pārājika.
Rồi vị ấy đã
thuyết Pháp thoại và vị tỳ-khưu ấy đã trở nên hoan hỷ.
Dứt điều pārājika thứ nhì.
[1]
Theo ngài Buddhaghosa,
đơn vị tiền tệ thời ấy là kahāpaṇa và 1 kahāpaṇa = 4 pāda = 20 māsaka.
Theo bản dịch tiếng Anh “Pārājika Pāḷi” của Ven. Thumana do
Department for the Promotion and Propagation of the Sāsanā xuất
bản ở Miến Điện thì lấy đơn vị tiền tệ làm sự so sánh nên cho rằng:
Nếu lấy trộm ¼ kyat sẽ phạm tội pārājika (1 US dollar # 1000 kyat vào
năm 2002). Hơn nữa, baht đơn vị tiền tệ ở Thái Lan chính là từ
pāda của Pāli (1US dollar # 45 baht vào năm 2002). Tài liệu “Luật
Xuất Gia Tóm Tắt” của HT Hộ Tông cũng cho rằng 1 pāda tương đương
6 cắt bạc VN năm 1966. Nếu so sánh theo cách này thì chỉ cần trộm 1
vật có giá trị rất nhỏ cũng đã phạm tội pārājika. Tài liệu “Vinayamukha”
của Ngài Mahāsamaṇa Chao (Thái Lan) ngoài cách giải thích trên còn
giới thiệu một cách tính khác: “Theo Sớ giải (Tīkā), 1 māsaka trị
giá bằng số vàng có trọng lượng tương đương trọng lượng của 4 hạt gạo.”
Như vậy 1 pāda sẽ có giá trị vàng có trọng lượng tương đương trọng
lượng của 4 x 5 = 20 hạt gạo, nghe đâu có người đã ước lượng vào
khoảng 5 phân vàng (?).
[2]
Đúng ra phải là tội ưng
đối trị (pācittiya).
[3]
Đúng ra phải là tội ưng
đối trị (pācittiya).
[4]
Vì không thể đưa hũ lên
khỏi hố chôn được (theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa).
[5]
Vehāsat,t,haṃ được dịch
sát nghĩa cũng là “vật ở trên không.”
[6]
Loài có cánh (pakkhajātā)
có ba loại: cánh bằng lông (lomapakkhā) như chim công, gà gô, cánh
bằng da (cammapakkhā) như loài dơi, cánh bằng xương (atthipakkhā)
như loài ong (theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa).
[7]
Dựa theo lời giải thích
của ngài Buddhaghosa, chúng tôi thêm vào A, B, C, D để cho dễ hiểu.
[8]
Do sự luyến ái với tấm
vải choàng nên người có tấm vải choàng ấy đã bị tái sanh làm peta ở
nơi thi thể ấy. Peta có khả năng làm thi thể ấy đứng dậy. Sau khi cửa
bị đóng lại, peta ấy biết đã bị mất tấm vải choàng nên đã từ bỏ thi
thể ấy rồi theo nghiệp đi tái sanh lần nữa; do đó, thi thể ấy bị té
ngã xuống đất (theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa).
[9]
... Này các tỳ-khưu, ta
cho phép lấy do sự thân thiết (đồ vật) của người hội đủ năm điều: là
vị quen biết, là vị thân thiết, vị ấy đã nói trước, vị ấy còn sống, và
vị lấy biết được rằng: “Nếu được ta lấy thì vị ấy sẽ hoan hỷ.”
(Đại Phẩm – Mahāvagga, chương II, [159]).
[10]
Theo ngài Mahāsamaṇa Chao
giải thích ở “Vinayamukha” thì āḷhakaṃ và doṇam là đơn vị đo
dung tích. 1 āḷhakaṃ ước lượng khoảng tám bụm tay, 4 āḷhaka = 1 doṇam.
Còn tulaṃ là đơn vị đo trọng lượng.
[11]
Trường hợp này chúng ta
có thể thắc mắc rằng: “Nếu tổng số bơ lỏng vị ấy đã thọ dụng trị
giá bằng năm māsaka hoặc hơn năm māsaka thì vị ấy có phạm tội pārājika
hay không?” (Yếu tố “có ý định trộm cắp” được hiểu ngầm).
Đương nhiên là vị ấy phạm tội pārājika. Tuy nhiên, trường hợp của vị
này có chút khác biệt. Chúng tôi hiểu như sau về lời giải thích của
ngài Buddhaghosa: Vị ấy thọ dụng mỗi lần một chút ít như thế trị giá
bằng một māsaka hoặc kém một māsaka nên chỉ phạm tội tác ác (dukkaṭa)
cho mỗi lần thọ dụng. Sau khi thọ dụng lần thứ nhất, vị ấy sám hối,
quyết tâm rằng: “Ta sẽ không làm như thế nữa.” Vì đã trong sạch
trở lại, nên vào ngày kế khi vị ấy thọ dụng thêm một chút ít thì lại
phạm tội tác ác (dukkaṭa) nữa. Vị ấy lại sám hối tội. Tiến trình phạm
tội và sám hối được tiếp diễn. Chính vì lý do đó, số lượng bơ lỏng vị
ấy đã thọ dụng không được tính gộp lại mà chỉ tính riêng cho mỗi lần
thọ dụng. Nếu vị ấy không sám hối tội, thì sẽ tùy theo tổng số lượng
bơ lỏng vị ấy đã thọ dụng mà định tội.
-ooOoo-
Đầu trang | Mục lục | 01
| 02 |
03 |
04 | 05a |
05b | 05c |
05d | 06
Phân tích Giới Tỳ-khưu II |
Phân tích Giới Tỳ-khưu Ni | Giới thiệu
|