|
Tạng Luật
Vinaya Pitaka
Tiểu Phẩm
Cullavagga
Tỳ khưu Indacanda
Nguyệt Thiên dịch
Mục lục |
01a |
01b |
02 |
03a | 03b |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12
III.
CHƯƠNG TÍCH LŨY TỘI (tt)
(SAMUCCAYAKKHANDHAKAṂ)
[440] Vào lúc bấy giờ,
có vị tỳ khưu nọ đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: một tội đã được
che giấu một ngày, một tội đã được che giấu hai ngày, một tội đã được
che giấu ba ngày, một tội đã được che giấu bốn ngày, một tội đã được che
giấu năm ngày, một tội đã được che giấu sáu ngày, một tội đã được che
giấu bảy ngày, một tội đã được che giấu tám ngày, một tội đã được che
giấu chín ngày, một tội đã được che giấu mười ngày. Vị ấy đã kể lại cho
các tỳ khưu rằng:
- Này các đại đức, tôi
đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một
ngày, …(như trên)… một tội đã được che giấu mười ngày; vậy tôi nên thực
hành như thế nào?
Các vị tỳ khưu ấy đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, như
vậy tội nào trong số các tội ấy đã được che giấu mười ngày thì hội chúng
hãy ban cho vị tỳ khưu ấy hành phạt parivāsa kết hợp với giá trị
(agghena samodhānaparivāsa) của tội ấy.
[441] Và này các tỳ
khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội
chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng
thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:
“Bạch các ngài, tôi
đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một ngày, …(như
trên)… một tội đã được che giấu mười ngày. Bạch các ngài, tội nào trong
số các tội ấy đã được che giấu mười ngày tôi đây cầu xin hội chúng hành
phạt parivāsa kết hợp với giá trị của tội ấy.”
Nên cầu xin đến lần thứ
nhì. Nên cầu xin đến lần thứ ba.
[442] Hội chúng cần được
thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm nhiều
tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một ngày, …(như trên)… một
tội đã được che giấu mười ngày. Tội nào trong số các tội ấy đã được che
giấu mười ngày, vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa kết hợp với
giá trị của tội ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng
nên ban cho hành phạt parivāsa kết hợp với giá trị của tội đã được che
giấu mười ngày trong số các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời
đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm nhiều
tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một ngày, …(như trên)… một
tội đã được che giấu mười ngày. Tội nào trong số các tội ấy đã được che
giấu mười ngày, vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa kết hợp với
giá trị của tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa kết hợp với giá
trị của tội đã được che giấu mười ngày trong số các tội ấy đến tỳ khưu
tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý với việc ban cho hành phạt parivāsa
kết hợp với giá trị của tội đã được che giấu mười ngày trong số các tội
ấy đến tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói
lên.
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ nhì: …(như trên)…
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ ba: …(như trên)…
Hội chúng đã ban cho
hành phạt parivāsa kết hợp với giá trị của tội đã được che giấu mười
ngày trong số các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội
chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[443] Vào lúc bấy giờ,
có vị tỳ khưu nọ đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: một tội đã được
che giấu một ngày, hai tội đã được che giấu hai ngày, ba tội đã được che
giấu ba ngày, bốn tội đã được che giấu bốn ngày, năm tội đã được che
giấu năm ngày, sáu tội đã được che giấu sáu ngày, bảy tội đã được che
giấu bảy ngày, tám tội đã được che giấu tám ngày, chín tội đã được che
giấu chín ngày, mười tội đã được che giấu mười ngày. Vị ấy đã kể lại cho
các tỳ khưu rằng:
- Này các đại đức, tôi
đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một
ngày, …(như trên)… mười tội đã được che giấu mười ngày; vậy tôi nên thực
hành như thế nào?
Các vị tỳ khưu ấy đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, như
vậy những tội nào trong số các tội ấy đã được che giấu dài ngày nhất thì
hội chúng hãy ban cho hành phạt parivāsa kết hợp với giá trị của
các tội ấy đến vị tỳ khưu ấy.
[444] Và này các tỳ
khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội
chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng
thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:
“Bạch các ngài, tôi
đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một ngày, …(như
trên)… mười tội đã được che giấu mười ngày. Bạch các ngài, những tội nào
trong số các tội ấy đã được che giấu dài ngày nhất tôi đây cầu xin hội
chúng hành phạt parivāsa kết hợp với giá trị của những tội ấy.”
Nên cầu xin đến lần thứ
nhì. Nên cầu xin đến lần thứ ba.
[445] Hội chúng cần được
thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm nhiều
tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một ngày, …(như trên)… mười
tội đã được che giấu mười ngày. Những tội nào trong số các tội ấy đã
được che giấu dài ngày nhất, vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
kết hợp với giá trị của những tội ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội
chúng, hội chúng nên ban cho hành phạt parivāsa kết hợp với giá trị của
những tội đã được che giấu dài ngày nhất trong số các tội ấy đến tỳ khưu
tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm nhiều
tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một ngày, …(như trên)… mười
tội đã được che giấu mười ngày. Những tội nào trong số các tội ấy đã
được che giấu dài ngày nhất, vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
kết hợp với giá trị của những tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt
parivāsa kết hợp với giá trị của những tội đã được che giấu dài ngày
nhất trong số các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý
với việc ban cho hành phạt parivāsa kết hợp với giá trị của những tội đã
được che giấu dài ngày nhất trong số các tội ấy đến tỳ khưu tên (như
vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ nhì: …(như trên)…
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ ba: …(như trên)…
Hội chúng đã ban cho
hành phạt parivāsa kết hợp với giá trị của những tội đã được che giấu
dài ngày nhất trong số các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc
được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như
vậy.”
[446] Vào lúc bấy
giờ, có vị tỳ khưu nọ đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che
giấu hai tháng. Vị ấy đã khởi ý rằng: “Ta đã phạm hai tội
saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên cầu xin hội chúng
hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng?”
Vị ấy đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của một
tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt
parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở vị ấy trong khi thực hành parivāsa: “Ta
đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi
ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay
là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã
được che giấu hai tháng?’ Ta đây đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho
hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến
ta đây. Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây trong khi thực hành parivāsa,
hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của luôn cả
tội kia đã được che giấu hai tháng?”
Vị ấy đã kể lại cho các
tỳ khưu rằng:
- Này các đại đức, tôi
đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Tôi đây
đã khởi ý rằng: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai
tháng, hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của
một tội đã được che giấu hai tháng?” Tôi đây đã cầu xin hội chúng
hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai
tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt parivāsa hai tháng của một
tội đã được che giấu hai tháng đến tôi đây. Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở
tôi đây trong khi thực hành parivāsa: “Ta đã phạm hai tội
saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý rằng: ‘Ta đã
phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên cầu
xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu
hai tháng?’ Ta đây đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của
một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt
parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến ta đây.
Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây trong khi thực hành parivāsa, hay là
ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội
kia đã được che giấu hai tháng?” Vậy tôi nên thực hành như thế nào?
Các vị tỳ khưu ấy đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, vì
việc ấy hội chúng hãy ban cho hành phạt parivāsa hai tháng của
luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng đến vị tỳ khưu ấy.
[447] Và này các tỳ
khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội
chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng
thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:
“Bạch các ngài, tôi
đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Tôi đây đã khởi
ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay
là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã
được che giấu hai tháng?’ Tôi đây đã cầu xin hội chúng hành phạt
parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã
ban cho hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai
tháng đến tôi đây. Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở tôi đây trong khi thực
hành parivāsa: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai
tháng. Ta đây đã khởi ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được
che giấu hai tháng, hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng?’ Ta đây đã cầu xin hội
chúng hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai
tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã
được che giấu hai tháng đến ta đây. Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây
trong khi thực hành parivāsa, hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt
parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng?’ Bạch
các ngài, tôi đây cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của
luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng.”
Nên cầu xin đến lần thứ
nhì. Nên cầu xin đến lần thứ ba.
[448] Hội chúng cần được
thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm hai
tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Vị ấy đã khởi ý rằng: ‘Ta
đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên
cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che
giấu hai tháng?’ Vị ấy đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng
của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt
parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở vị ấy trong khi thực hành parivāsa: ‘Ta đã
phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý
rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay
là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã
được che giấu hai tháng?’ Ta đây đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho
hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến
ta đây. Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây trong khi thực hành parivāsa,
hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của luôn cả
tội kia đã được che giấu hai tháng?’ Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt
parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng. Nếu
là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho hành phạt
parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng đến tỳ
khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm hai
tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Vị ấy đã khởi ý rằng: ‘Ta
đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên
cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che
giấu hai tháng?’ Vị ấy đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng
của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt
parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở vị ấy trong khi thực hành parivāsa: ‘Ta đã
phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý
rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay
là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã
được che giấu hai tháng?’ Ta đây đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho
hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến
ta đây. Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây trong khi thực hành parivāsa,
hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của luôn cả
tội kia đã được che giấu hai tháng?’ Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt
parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng. Hội
chúng ban cho hành phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được
che giấu hai tháng đến tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý với
việc ban cho hành phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được
che giấu hai tháng đến tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không
đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ nhì: …(như trên)…
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ ba: …(như trên)…
Hội chúng đã ban cho
hành phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai
tháng đến tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới
im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Này các tỳ khưu, sau khi
xác định điều ấy, vị tỳ khưu ấy nên thực hành parivāsa hai tháng.
[449] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che
giấu hai tháng. Vị ấy khởi ý như vầy: “Ta đã phạm hai tội
saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay ta nên cầu xin hội chúng
hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng?”
Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của một tội
đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa
hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Pháp hổ thẹn
đã xuất hiện ở vị ấy trong khi thực hành parivāsa: “Ta đã phạm
hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý rằng:
‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta
nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được
che giấu hai tháng?’ Ta đây đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai
tháng của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành
phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến ta
đây. Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây trong khi thực hành parivāsa,
hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của luôn cả
tội kia đã được che giấu hai tháng?” Vị ấy cầu xin hội chúng hành
phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai
tháng. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa hai tháng của luôn cả
tội kia đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Này các tỳ khưu, sau khi
xác định điều ấy, vị tỳ khưu ấy nên thực hành parivāsa hai tháng.
[450] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che
giấu hai tháng; một tội vị ấy nhận biết, một tội vị ấy không nhận biết.
Tội mà vị ấy nhận biết, vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hành
phạt parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng đến
vị ấy. Trong khi thực hành parivāsa, vị ấy nhận biết được tội
kia. Vị ấy nghĩ như vầy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che
giấu hai tháng; một tội ta đã nhận biết, một tội ta đã không nhận biết.
Tội mà ta đã nhận biết, ta đây đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho
hành phạt parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng đến
ta đây. Trong khi thực hành parivāsa, ta đây nhận biết được luôn cả tội
kia, hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của
luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng?” Vị ấy cầu xin hội chúng
hành phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu
hai tháng. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa hai tháng của
luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Này các tỳ khưu, sau khi
xác định điều ấy, vị tỳ khưu ấy nên thực hành parivāsa hai tháng.
[451] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che
giấu hai tháng; một tội vị ấy nhớ, một tội vị ấy không nhớ. Tội mà vị ấy
nhớ, vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của tội
ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa
hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Trong khi
thực hành parivāsa, vị ấy nhớ được luôn cả tội kia. Vị ấy nghĩ
như vầy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng;
một tội ta đã nhớ, một tội ta đã không nhớ. Tội mà ta đã nhớ, ta đây đã
cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che
giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt parivāsa hai tháng của
tội ấy đã được che giấu hai tháng đến ta đây. Trong khi thực hành
parivāsa, ta đây nhớ được luôn cả tội kia, hay là ta nên cầu xin hội
chúng hành phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu
hai tháng?” Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai
tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho
hành phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu
hai tháng đến vị ấy.
Này các tỳ khưu, sau khi
xác định điều ấy, vị tỳ khưu ấy nên thực hành parivāsa hai tháng.
[452] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che
giấu hai tháng; một tội không có nghi ngờ, một tội có nghi ngờ. Với tội
không có nghi ngờ, vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai
tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hành phạt
parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng đến vị
ấy. Trong khi thực hành parivāsa, vị ấy không còn nghi ngờ luôn
cả tội kia. Vị ấy nghĩ như vầy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã
được che giấu hai tháng; một tội không có nghi ngờ, một tội có nghi ngờ.
Với tội không có nghi ngờ, ta đây đã cầu xin hội chúng hành phạt
parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã
ban cho hành phạt parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai
tháng đến ta đây. Trong khi thực hành parivāsa, ta đây không còn nghi
ngờ luôn cả tội kia, hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng?” Vị ấy cầu
xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã
được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa hai
tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Này các tỳ khưu, sau khi
xác định điều ấy, vị tỳ khưu ấy nên thực hành parivāsa hai tháng.
[453] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che
giấu hai tháng; một tội đã được che giấu có chủ tâm (jānapaṭicchannā),
một tội đã được che giấu không có chủ tâm (ajānapaṭicchannā). Vị ấy cầu
xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được
che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa hai
tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Trong khi vị
ấy đang thực hành parivāsa, có vị tỳ khưu khác đi đến là vị nghe
nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật,
rành rẽ về các đầu đề, là bậc trí tuệ, có khả năng, thông minh, khiêm
nhường, có hối hận, ưa thích sự học
tập. Vị ấy nói như vầy:
- Này các đại đức, vị tỳ
khưu này đã phạm tội gì? Vì sao vị tỳ khưu này thực hành parivāsa?
Các vị ấy trả lời như
vầy:
- Này đại đức, vị tỳ
khưu này đã phạm hai tội saṅghādisesa che giấu hai tháng; một tội
đã được che giấu có chủ tâm, một tội đã được che giấu không có chủ tâm.
Vị ấy đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng của các
tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt
parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng đến vị
ấy. Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy. Vị tỳ khưu này thực
hành parivāsa vì các tội ấy.
Vị ấy nói như vầy:
- Này các đại đức, tội
nào đã được che giấu có chủ tâm, việc ban cho hành phạt parivāsa
của tội ấy là hợp lý; sự hợp lý đem lại kết quả. Này các đại đức, còn
tội nào đã được che giấu không có chủ tâm, việc ban cho hành phạt
parivāsa của tội ấy là không hợp lý; sự không hợp lý không đem lại
kết quả. Này các đại đức, đối với tội này vị tỳ khưu xứng đáng hành phạt
mānatta.
[454] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che
giấu hai tháng; một tội đã được che giấu có ghi nhớ, một tội đã được che
giấu không có ghi nhớ. Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho
hành phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai
tháng đến vị ấy. Trong khi vị ấy đang thực hành parivāsa, có vị
tỳ khưu khác đi đến là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành
rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc trí tuệ, có
khả năng, thông minh, khiêm nhường, có hối hận,
ưa thích sự học tập. Vị ấy nói như vầy:
- Này các đại đức, vị tỳ
khưu này đã phạm tội gì? Vì sao vị tỳ khưu này thực hành parivāsa?
Các vị ấy trả lời như
vầy:
- Này đại đức, vị tỳ
khưu này đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng;
một tội đã được che giấu có ghi nhớ, một tội đã được che giấu không có
ghi nhớ. Vị ấy đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng
của các tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành
phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng
đến vị ấy. Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy. Vị tỳ khưu
này thực hành parivāsa vì các tội ấy.
Vị ấy nói như vầy:
- Này các đại đức, tội
nào đã được che giấu có ghi nhớ, việc ban cho hành phạt parivāsa
của tội ấy là hợp lý; sự hợp lý đem lại kết quả. Này các đại đức, còn
tội nào đã được che giấu không có ghi nhớ, việc ban cho hành phạt
parivāsa của tội ấy là không hợp lý; sự không hợp lý không đem lại
kết quả. Này các đại đức, đối với tội này vị tỳ khưu xứng đáng hành phạt
mānatta.
[455] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che
giấu hai tháng; một tội đã được che giấu không có nghi ngờ, một tội đã
được che giấu có nghi ngờ. Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho
hành phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai
tháng đến vị ấy. Trong khi vị ấy đang thực hành parivāsa, có vị
tỳ khưu khác đi đến là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành
rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc trí tuệ, có
khả năng, thông minh, khiêm nhường, có hối hận,
ưa thích sự học tập. Vị ấy nói như vầy:
- Này các đại đức, vị tỳ
khưu này đã phạm tội gì? Vì sao vị tỳ khưu này thực hành parivāsa?
Các vị ấy trả lời như
vầy:
- Này đại đức, vị tỳ
khưu này đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng;
một tội đã được che giấu không có nghi ngờ, một tội đã được che giấu có
nghi ngờ. Vị ấy đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai tháng
của các tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành
phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng
đến vị ấy. Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy. Vị tỳ khưu
này thực hành parivāsa vì các tội ấy.
Vị ấy nói như vầy:
- Này các đại đức, tội
nào đã được che giấu không có nghi ngờ, việc ban cho hành phạt
parivāsa của tội ấy là hợp lý; sự hợp lý đem lại kết quả. Này các
đại đức, còn tội nào đã được che giấu có nghi ngờ, việc ban cho hành
phạt parivāsa của tội ấy là không hợp lý; sự không hợp lý không
đem lại kết quả. Này các đại đức, đối với tội này vị tỳ khưu xứng đáng
hành phạt mānatta.
[456] Này các tỳ
khưu, có vị tỳ khưu nọ đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che
giấu hai tháng. Vị ấy đã khởi ý rằng: “Ta đã phạm hai tội
saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên cầu xin hội chúng
hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng?”
Vị ấy đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa một tháng của hai
tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt
parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở vị ấy trong khi thực hành parivāsa: “Ta
đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi
ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay
là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã
được che giấu hai tháng?’ Ta đây đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho
hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến
ta đây. Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây trong khi thực hành parivāsa,
hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa luôn cả tháng kia của
hai tội đã được che giấu hai tháng?”
Vị ấy đã kể lại cho các
tỳ khưu rằng:
- Này các đại đức, tôi
đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Tôi đây
đã khởi ý rằng: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai
tháng, hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa một tháng của
hai tội đã được che giấu hai tháng?” Tôi đây đã cầu xin hội chúng
hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai
tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt parivāsa một tháng của hai
tội đã được che giấu hai tháng đến tôi đây. Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở
tôi đây trong khi thực hành parivāsa: “Ta đã phạm hai tội
saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý rằng: ‘Ta đã
phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta
nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được
che giấu hai tháng?’ Ta đây đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa một
tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành
phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến ta
đây. Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây trong khi thực hành parivāsa,
hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa luôn cả tháng kia của
hai tội đã được che giấu hai tháng?” Vậy tôi nên thực hành như thế
nào?
Các vị tỳ khưu ấy đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, vì
việc ấy hội chúng hãy ban cho hành phạt parivāsa luôn cả tháng
kia của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị tỳ khưu ấy.
[457] Và này các tỳ
khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội
chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng
thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:
“Bạch các ngài, tôi
đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Tôi đã khởi ý
rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay
là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã
được che giấu hai tháng?’ Tôi đây đã cầu xin hội chúng hành phạt
parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã
ban cho hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai
tháng đến tôi đây. Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở tôi đây trong khi thực
hành parivāsa: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai
tháng. Ta đây đã khởi ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được
che giấu hai tháng, hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng?’ Ta đây đã cầu xin hội
chúng hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai
tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã
được che giấu hai tháng đến ta đây. Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây
trong khi thực hành parivāsa, hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt
parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng?’ Bạch
các ngài, tôi đây cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa luôn cả tháng kia
của hai tội đã được che giấu hai tháng.”
Nên cầu xin đến lần thứ
nhì. Nên cầu xin đến lần thứ ba.
[458] Hội chúng cần được
thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm hai
tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Vị ấy đã khởi ý rằng: ‘Ta
đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên
cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che
giấu hai tháng?’ Vị ấy đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa một tháng
của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt
parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở vị ấy trong khi thực hành parivāsa: ‘Ta đã
phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý
rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay
là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã
được che giấu hai tháng?’ Ta đây đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho
hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến
ta đây. Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây trong khi thực hành parivāsa,
hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa luôn cả tháng kia của
hai tội đã được che giấu hai tháng?’ Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt
parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng. Nếu
là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho hành phạt
parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng đến tỳ
khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm hai
tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Vị ấy đã khởi ý rằng: ‘Ta
đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là nên cầu
xin hội chúng hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu
hai tháng?’ Vị ấy đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa một tháng của
hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt
parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở vị ấy trong khi thực hành parivāsa: ‘Ta đã
phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý
rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay
là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã
được che giấu hai tháng?’ Ta đây đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho
hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến
ta đây. Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây trong khi thực hành parivāsa,
hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa luôn cả tháng kia của
hai tội đã được che giấu hai tháng?’ Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt
parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội
chúng ban cho hành phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được
che giấu hai tháng đến tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý với
việc ban cho hành phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được
che giấu hai tháng đến tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không
đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ nhì: …(như trên)…
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ ba: …(như trên)…
Hành phạt parivāsa
luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng đã được hội
chúng ban cho tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên
mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Này các tỳ khưu, vị tỳ
khưu ấy nên xác định từ trước và nên thực hành parivāsa hai
tháng.
[459] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che
giấu hai tháng. Vị ấy nghĩ như vầy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa
đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt
parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng?” Vị ấy
cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã
được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa một
tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Pháp hổ thẹn đã
xuất hiện ở vị ấy trong khi thực hành parivāsa: “Ta đã phạm
hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý rằng:
‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta
nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được
che giấu hai tháng?’ Ta đây đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa một
tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành
phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến ta
đây. Pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây trong khi thực hành parivāsa,
hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa luôn cả tháng kia của
hai tội đã được che giấu hai tháng?” Vị ấy cầu xin hội chúng hành
phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai
tháng. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa luôn cả tháng kia của
hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Này các tỳ khưu, vị tỳ
khưu ấy nên xác định từ trước và nên thực hành parivāsa hai
tháng.
[460] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che
giấu hai tháng; một tháng vị ấy nhận biết, tháng kia vị ấy không nhận
biết. Tháng mà vị ấy nhận biết, vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt
parivāsa tháng ấy của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng
đã ban cho hành phạt parivāsa tháng ấy, là tháng vị ấy nhận biết,
của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Trong khi thực hành
parivāsa, vị ấy nhận biết luôn cả tháng kia. Vị ấy nghĩ như vầy: “Ta
đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng; một tháng ta đã
nhận biết, tháng kia ta đã không nhận biết. Tháng mà ta đã nhận biết, ta
đây đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa tháng ấy của hai tội đã được
che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt parivāsa tháng ấy, là
tháng ta nhận biết, của hai tội đã được che giấu hai tháng đến ta đây.
Trong khi thực hành parivāsa, ta đây nhận biết luôn cả tháng kia, hay là
ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai
tội đã được che giấu hai tháng?” Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt
parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai
tháng. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa luôn cả tháng kia của
hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Này các tỳ khưu, vị tỳ
khưu ấy nên xác định từ trước và nên thực hành parivāsa hai
tháng.
[461] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che
giấu hai tháng; một tháng vị ấy nhớ, tháng kia vị ấy không nhớ. Tháng mà
vị ấy nhớ, vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa tháng ấy
của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt
parivāsa tháng ấy, là tháng vị ấy nhớ, của hai tội đã được che
giấu hai tháng đến vị ấy. Trong khi thực hành parivāsa, vị ấy nhớ
được tháng kia. Vị ấy nghĩ như vầy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa
đã được che giấu hai tháng; một tháng ta đã nhớ, tháng kia ta đã không
nhớ. Tháng mà ta đã nhớ, ta đây đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
tháng ấy của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho
hành phạt parivāsa tháng ấy, là tháng ta đã nhớ, của hai tội đã được che
giấu hai tháng đến ta đây. Trong khi thực hành parivāsa, ta đây nhớ được
luôn cả tháng kia, hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng?” Vị ấy cầu
xin hội chúng hành phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã
được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa
luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Này các tỳ khưu, vị tỳ
khưu ấy nên xác định từ trước và nên thực hành parivāsa hai
tháng.
[462] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che
giấu hai tháng; một tháng không có nghi ngờ, một tháng có nghi ngờ.
Tháng không có nghi ngờ, vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
tháng ấy của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hành
phạt parivāsa tháng ấy, là tháng không có nghi ngờ, của hai tội
đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Trong khi thực hành parivāsa,
vị ấy không còn nghi ngờ luôn cả tháng kia. Vị ấy nghĩ như vầy: “Ta
đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng; một tháng không
có nghi ngờ, một tháng có nghi ngờ. Tháng không có nghi ngờ, ta đây đã
cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa tháng ấy của hai tội đã được che
giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt parivāsa tháng ấy, là
tháng không có nghi ngờ, của hai tội đã được che giấu hai tháng đến ta
đây. Trong khi thực hành parivāsa, ta đây không còn nghi ngờ luôn cả
tháng kia, hay là ta nên cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa luôn cả
tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng?” Vị ấy cầu xin hội
chúng hành phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được
che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hành phạt parivāsa luôn
cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Này các tỳ khưu, vị tỳ
khưu ấy nên xác định từ trước và nên thực hành parivāsa hai
tháng.
[463] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che
giấu hai tháng; một tháng đã được che giấu có chủ tâm, một tháng đã được
che giấu không có chủ tâm. Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
hai tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hành
phạt parivāsa hai tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng
đến vị ấy. Trong khi vị ấy đang thực hành parivāsa, có vị tỳ khưu
khác đi đến là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ
về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc trí tuệ, có khả
năng, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập.
Vị ấy nói như vầy:
- Này các đại đức, vị tỳ
khưu này đã phạm tội gì? Vì sao vị tỳ khưu này thực hành parivāsa?
Các vị ấy trả lời như
vầy:
- Này đại đức, vị tỳ
khưu này đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng;
một tháng đã được che giấu có chủ tâm, một tháng đã được che giấu không
có chủ tâm. Vị ấy đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai
tháng của hai tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho
hành phạt parivāsa hai tháng của hai tội ấy đã được che giấu hai
tháng đến vị ấy. Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy. Vị tỳ
khưu này thực hành parivāsa vì các tội ấy.
Vị ấy nói như vầy:
- Này các đại đức, tháng
nào đã được che giấu có chủ tâm, việc ban cho hành phạt parivāsa
của tháng ấy là hợp lý; sự hợp lý đem lại kết quả. Này các đại đức, còn
tháng nào đã được che giấu không có chủ tâm, việc ban cho hành phạt
parivāsa của tháng ấy là không hợp lý; sự không hợp lý không đem lại
kết quả. Này các đại đức, đối với tháng này vị tỳ khưu xứng đáng hành
phạt mānatta.
[464] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che
giấu hai tháng; một tháng đã được che giấu có ghi nhớ, một tháng đã được
che giấu không có ghi nhớ. Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
hai tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hành
phạt parivāsa hai tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng
đến vị ấy. Trong khi vị ấy đang thực hành parivāsa, có vị tỳ khưu
khác đi đến là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ
về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc trí tuệ, có khả
năng, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập.
Vị ấy nói như vầy:
- Này các đại đức, vị tỳ
khưu này đã phạm tội gì? Vì sao vị tỳ khưu này thực hành parivāsa?
Các vị ấy trả lời như
vầy:
- Này đại đức, vị tỳ
khưu này đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng;
một tháng đã được che giấu có ghi nhớ, một tháng đã được che giấu không
có ghi nhớ. Vị ấy đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai
tháng của hai tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho
hành phạt parivāsa hai tháng của hai tội ấy đã được che giấu hai
tháng đến vị ấy. Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy. Vị tỳ
khưu này thực hành parivāsa vì các tội ấy.
Vị ấy nói như vầy:
- Này các đại đức, tháng
nào đã được che giấu có ghi nhớ, việc ban cho hành phạt parivāsa
của tháng ấy là hợp lý; sự hợp lý đem lại kết quả. Này các đại đức, còn
tháng nào đã được che giấu không có ghi nhớ, việc ban cho hành phạt
parivāsa của tháng ấy là không hợp lý; sự không hợp lý không đem lại
kết quả. Này các đại đức, đối với tháng này vị tỳ khưu xứng đáng hành
phạt mānatta.
[465] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu
hai tháng; một tháng đã được che giấu không có nghi ngờ, một tháng đã
được che giấu có nghi ngờ. Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
hai tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hành
phạt parivāsa hai tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng
đến vị ấy. Trong khi vị ấy đang thực hành parivāsa, có vị tỳ khưu
khác đi đến là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ
về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc trí tuệ, có khả
năng, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập.
Vị ấy nói như vầy:
- Này các đại đức, vị tỳ
khưu này đã phạm tội gì? Vì sao vị tỳ khưu này thực hành parivāsa?
Các vị ấy trả lời như
vầy:
- Này đại đức, vị tỳ
khưu này đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng;
một tháng đã được che giấu không có nghi ngờ, một tháng đã được che giấu
có nghi ngờ. Vị ấy đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hai
tháng của hai tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho
hành phạt parivāsa hai tháng của hai tội ấy đã được che giấu hai
tháng đến vị ấy. Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy. Vị tỳ
khưu này thực hành parivāsa vì các tội ấy.
Vị ấy nói như vầy:
- Này các đại đức, tháng
nào đã được che giấu không có nghi ngờ, việc ban cho hành phạt
parivāsa của tháng ấy là hợp lý; sự hợp lý đem lại kết quả. Này các
đại đức, còn tháng nào đã được che giấu có nghi ngờ, việc ban cho hành
phạt parivāsa của tháng ấy là không hợp lý; sự không hợp lý không
đem lại kết quả. Này các đại đức, đối với tháng này vị tỳ khưu xứng đáng
hành phạt mānatta.
[466] Vào lúc bấy giờ,
có vị tỳ khưu nọ phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy không biết số
lượng của các tội, không biết số lượng của các đêm (đã dấu), không nhớ
số lượng của các tội, không nhớ số lượng của các đêm (đã dấu), có nghi
ngờ về số lượng của các tội, có nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã
dấu). Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:
- Này các đại đức, tôi
đã phạm nhiều tội saṅghādisesa. Tôi không biết số lượng của các
tội, không biết số lượng của các đêm (đã dấu), không nhớ số lượng của
các tội, không nhớ số lượng của các đêm (đã dấu), có nghi ngờ về số
lượng của các tội, có nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu); vậy tôi
nên thực hành như thế nào?
Các vị tỳ khưu ấy đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, vì
việc ấy hội chúng hãy ban cho hành phạt parivāsa hoàn toàn trong
sạch (suddhantaparivāsa)
[1]
của các tội ấy đến vị tỳ khưu ấy.
[467] Và này các tỳ
khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội
chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng
thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:
“Bạch các ngài, tôi
đã phạm nhiều tội saṅghādisesa. Tôi không biết số lượng của các tội,
không biết số lượng của các đêm (đã dấu), không nhớ số lượng của các
tội, không nhớ số lượng của các đêm (đã dấu), có nghi ngờ về số lượng
của các tội, có nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu). Bạch các
ngài, tôi cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa hoàn toàn trong sạch của
các tội ấy.”
Nên cầu xin đến lần thứ
nhì. Nên cầu xin đến lần thứ ba.
[468] Hội chúng cần được
thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm nhiều
tội saṅghādisesa. Vị ấy không biết số lượng của các tội, không biết số
lượng của các đêm (đã dấu), không nhớ số lượng của các tội, không nhớ số
lượng của các đêm (đã dấu), có nghi ngờ về số lượng của các tội, có nghi
ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu). Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt
parivāsa hoàn toàn trong sạch của các tội ấy. Nếu là thời điểm thích hợp
cho hội chúng, hội chúng nên ban cho hành phạt parivāsa hoàn toàn trong
sạch của các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm nhiều
tội saṅghādisesa. Vị ấy không biết số lượng của các tội, không biết số
lượng của các đêm (đã dấu), không nhớ số lượng của các tội, không nhớ số
lượng của các đêm (đã dấu), có nghi ngờ về số lượng của các tội, có nghi
ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu). Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt
parivāsa hoàn toàn trong sạch của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành
phạt parivāsa hoàn toàn trong sạch của các tội ấy đến tỳ khưu tên (như
vầy). Đại đức nào đồng ý với việc ban cho hành phạt parivāsa hoàn toàn
trong sạch của các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào
không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ nhì: …(như trên)…
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ ba: …(như trên)…
Hội chúng đã ban cho
hành phạt parivāsa hoàn toàn trong sạch của các tội ấy đến tỳ khưu tên
(như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận
sự việc này là như vậy.”
[469] Và này các tỳ
khưu, hành phạt parivāsa hoàn toàn trong sạch nên được ban cho
như vầy; hành phạt parivāsa nên được ban cho như vầy.
Này các tỳ khưu, thế nào
là hành phạt parivāsa hoàn toàn trong sạch nên được ban cho?
Vị không biết số lượng
của các tội, không biết số lượng của các đêm (đã dấu), không nhớ số
lượng của các tội, không nhớ số lượng của các đêm (đã dấu), có nghi ngờ
về số lượng của các tội, có nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu)
thì hành phạt parivāsa hoàn toàn trong sạch nên được ban cho.
Vị biết số lượng của các
tội, không biết số lượng của các đêm (đã dấu), nhớ số lượng của các tội,
không nhớ số lượng của các đêm (đã dấu), không có nghi ngờ về số lượng
của các tội, có nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu) thì hành phạt
parivāsa hoàn toàn trong sạch nên được ban cho.
Vị biết một phần số
lượng của các tội một phần không biết, không biết số lượng của các đêm,
nhớ một phần số lượng của các tội một phần không nhớ, không nhớ số lượng
của các đêm, có nghi ngờ về một phần số lượng của các tội một phần không
có nghi ngờ, có nghi ngờ về số lượng của các đêm thì hành phạt
parivāsa hoàn toàn trong sạch nên được ban cho.
Vị không biết số lượng
của các tội, biết một phần số lượng của các đêm một phần không biết,
không nhớ số lượng của các tội, nhớ một phần số lượng của các đêm một
phần không nhớ, có nghi ngờ về số lượng của các tội, (có nghi ngờ về một
phần số lượng của các đêm một phần không có nghi ngờ thì hành phạt
parivāsa hoàn toàn trong sạch nên được ban cho.
Vị biết số lượng của các
tội, biết một phần số lượng của các đêm một phần không biết, nhớ số
lượng của các tội, nhớ một phần số lượng của các đêm một phần không nhớ,
không có nghi ngờ về số lượng của các tội, có nghi ngờ về một phần số
lượng của các đêm một phần không có nghi ngờ thì hành phạt parivāsa
hoàn toàn trong sạch nên được ban cho.
Vị biết một phần số
lượng của các tội một phần không biết, biết một phần số lượng của các
đêm một phần không biết, nhớ một phần số lượng của các tội một phần
không nhớ, nhớ một phần số lượng của các đêm một phần không nhớ, có nghi
ngờ về một phần số lượng của các tội một phần không có nghi ngờ, có nghi
ngờ về một phần số lượng của các đêm một phần không có nghi ngờ thì hành
phạt parivāsa hoàn toàn trong sạch nên được ban cho.
Này các tỳ khưu, hành
phạt parivāsa hoàn toàn trong sạch nên được ban cho như thế.
[470] Và này các tỳ
khưu, thế nào là hành phạt parivāsa nên được ban cho?
Vị biết số lượng của các
tội, biết số lượng của các đêm (đã dấu), nhớ số lượng của các tội, nhớ
số lượng của các đêm (đã dấu), không có nghi ngờ về số lượng của các
tội, không có nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu) thì hành phạt
parivāsa nên được ban cho.
Vị không biết số lượng
của các tội, biết số lượng của các đêm (đã dấu), không nhớ số lượng của
các tội, nhớ số lượng của các đêm (đã dấu), có nghi ngờ về số lượng của
các tội, không có nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu) thì hành
phạt parivāsa nên được ban cho.
Vị biết một phần số
lượng của các tội một phần không biết, biết số lượng của các đêm (đã
dấu), nhớ một phần số lượng của các tội một phần không nhớ, nhớ số lượng
của các đêm (đã dấu), có nghi ngờ về một phần số lượng của các tội một
phần không có nghi ngờ, không có nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã
dấu) thì hành phạt parivāsa nên được ban cho.
Này các tỳ khưu, hành
phạt parivāsa nên được ban cho như thế.
Dứt hành phạt parivāsa.
[471] Vào lúc bấy giờ,
có vị tỳ khưu nọ trong lúc thực hành parivāsa đã hoàn tục. Vị ấy
đã trở lại và cầu xin sự tu lên bậc trên. Các vị tỳ khưu ấy đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn.
[472] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa lại hoàn tục.
Này các tỳ khưu, hành phạt parivāsa không có tác dụng đối với vị
hoàn tục. Nhưng nếu vị ấy tu lên bậc trên lại, chính việc ban cho hành
phạt parivāsa trước đây được áp dụng lại cho vị ấy. Hành phạt
parivāsa nào đã được ban cho (là đã được) ban cho một cách đúng đắn.
Phần hành phạt parivāsa nào đã được hoàn thành (là đã được) hoàn
thành một cách đúng đắn. Nên thực hành parivāsa phần còn lại.
[473] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa lại xuống sa
di. Này các tỳ khưu, hành phạt parivāsa không có tác dụng đối với
vị sa di. Nhưng nếu vị ấy tu lên bậc trên lại, chính việc ban cho hành
phạt parivāsa trước đây được áp dụng lại cho vị ấy. Hành phạt
parivāsa nào đã được ban cho (là đã được) ban cho một cách đúng đắn.
Phần hành phạt parivāsa nào đã được hoàn thành (là đã được) hoàn
thành một cách đúng đắn. Nên thực hành parivāsa phần còn lại.
[474] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa lại bị điên.
Này các tỳ khưu, hành phạt parivāsa không có tác dụng đối với vị
bị điên. Nhưng nếu vị ấy hết bị điên, chính việc ban cho hành phạt
parivāsa trước đây được áp dụng lại cho vị ấy. Hành phạt parivāsa
nào đã được ban cho (là đã được) ban cho một cách đúng đắn. Phần hành
phạt parivāsa nào đã được hoàn thành (là đã được) hoàn thành một
cách đúng đắn. Nên thực hành parivāsa phần còn lại.
[475] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa bị loạn trí.
Này các tỳ khưu, hành phạt parivāsa không có tác dụng đối với vị
bị loạn trí. Nhưng nếu vị ấy hết bị loạn trí, chính việc ban cho hành
phạt parivāsa trước đây được áp dụng lại cho vị ấy. Hành phạt
parivāsa nào đã được ban cho (là đã được) ban cho một cách đúng đắn.
Phần hành phạt parivāsa nào đã được hoàn thành (là đã được) hoàn
thành một cách đúng đắn. Nên thực hành parivāsa phần còn lại.
[476] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa bị thọ khổ
hành hạ (vedanaṭṭo). Này các tỳ khưu, hành phạt parivāsa không có
tác dụng đối với vị bị thọ khổ hành hạ. Nhưng nếu vị ấy hết bị thọ khổ
hành hạ, chính việc ban cho hành phạt parivāsa trước đây được áp
dụng lại cho vị ấy. Hành phạt parivāsa nào đã được ban cho (là đã
được) ban cho một cách đúng đắn. Phần hành phạt parivāsa nào đã
được hoàn thành (là đã được) hoàn thành một cách đúng đắn. Nên thực hành
parivāsa phần còn lại.
[477] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa lại bị án treo
về việc không nhìn nhận tội. Này các tỳ khưu, hành phạt parivāsa
không có tác dụng đối với vị bị án treo. Nhưng nếu vị ấy được phục hồi
lại, chính việc ban cho hành phạt parivāsa trước đây được áp dụng
lại cho vị ấy. Hành phạt parivāsa nào đã được ban cho (là đã
được) ban cho một cách đúng đắn. Phần hành phạt parivāsa nào đã
được hoàn thành (là đã được) hoàn thành một cách đúng đắn. Nên thực hành
parivāsa phần còn lại.
[478] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa lại bị án treo
về việc không sửa chữa lỗi. Này các tỳ khưu, hành phạt parivāsa
không có tác dụng đối với vị bị án treo về việc không sửa chữa lỗi.
Nhưng nếu vị ấy được phục hồi lại, chính việc ban cho hành phạt
parivāsa trước đây được áp dụng lại cho vị ấy. Hành phạt parivāsa
nào đã được ban cho (là đã được) ban cho một cách đúng đắn. Phần hành
phạt parivāsa nào đã được hoàn thành (là đã được) hoàn thành một
cách đúng đắn. Nên thực hành parivāsa phần còn lại.
[479] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa lại bị án treo
về việc không từ bỏ tà kiến ác. Này các tỳ khưu, hành phạt parivāsa
không có tác dụng đối với vị bị án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác.
Nhưng nếu vị ấy được phục hồi lại, chính việc ban cho hành phạt
parivāsa trước đây được áp dụng lại cho vị ấy. Hành phạt parivāsa
nào đã được ban cho (là đã được) ban cho một cách đúng đắn. Phần hành
phạt parivāsa nào đã được hoàn thành (là đã được) hoàn thành một
cách đúng đắn. Nên thực hành parivāsa phần còn lại.
[480] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu là vị xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu lại
hoàn tục. Này các tỳ khưu, hành phạt parivāsa không có tác dụng
đối với vị hoàn tục. Nhưng nếu vị ấy tu lên bậc trên lại, chính việc ban
cho hành phạt parivāsa trước đây được áp dụng lại cho vị ấy. Hành
phạt parivāsa nào đã được ban cho (là đã được) ban cho một cách
đúng đắn, Hành phạt parivāsa nào đã được hoàn thành (là đã được)
hoàn thành một cách đúng đắn. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở
lại từ đầu.
[481] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu là vị xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu lại
xuống sa di. …(như trên)… bị điên. …(như trên)… bị loạn trí. …(như
trên)… bị thọ khổ hành hạ. …(như trên)… bị án treo về việc không nhìn
nhận tội. …(như trên)… bị án treo về việc không sửa chữa lỗi. …(như
trên)… bị án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác. Này các tỳ khưu, sự
(thực hành) trở lại từ đầu không có tác dụng đối với vị bị án treo.
Nhưng nếu vị ấy được phục hồi lại, chính việc ban cho hành phạt
parivāsa trước đây được áp dụng lại cho vị ấy. Hành phạt parivāsa
nào đã được ban cho (là đã được) ban cho một cách đúng đắn. Hành phạt
parivāsa nào đã được hoàn thành (là đã được) hoàn thành một cách
đúng đắn. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở lại từ đầu.
[482] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng hành phạt mānatta lại hoàn tục.
Này các tỳ khưu, hành phạt mānatta không có tác dụng đối với vị
hoàn tục. Nhưng nếu vị ấy tu lên bậc trên lại, chính việc ban cho hành
phạt parivāsa trước đây được áp dụng lại cho vị ấy. Hành phạt
parivāsa nào đã được ban cho (là đã được) ban cho một cách đúng đắn.
Hành phạt parivāsa nào đã được hoàn thành (là đã được) hoàn thành
một cách đúng đắn. Hành phạt mānatta nên được ban cho đến vị ấy.
[483] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng hành phạt mānatta lại xuống sa
di. …(như trên)… bị điên. …(như trên)… bị loạn trí. …(như trên)… bị thọ
khổ hành hạ. …(như trên)… bị án treo về việc không nhìn nhận tội. …(như
trên)… bị án treo về việc không sửa chữa lỗi. …(như trên)… bị án treo về
việc không từ bỏ tà kiến ác. Này các tỳ khưu, hành phạt mānatta
không có tác dụng đối với vị bị án treo. Nhưng nếu vị ấy được phục hồi
lại, chính việc ban cho hành phạt parivāsa trước đây được áp dụng
lại cho vị ấy. Hành phạt parivāsa nào đã được ban cho (là đã
được) ban cho một cách đúng đắn. Hành phạt parivāsa nào đã được
hoàn thành (là đã được) hoàn thành một cách đúng đắn. Hành phạt
mānatta nên được ban cho đến vị ấy.
[484] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu đang thực hành hành phạt mānatta lại hoàn
tục. Này các tỳ khưu, việc thực hành hành phạt mānatta không có
tác dụng đối với vị hoàn tục. Nhưng nếu vị ấy tu lên bậc trên lại, chính
việc ban cho hành phạt parivāsa trước đây được áp dụng lại cho vị
ấy. Hành phạt parivāsa nào đã được ban cho (là đã được) ban cho
một cách đúng đắn. Hành phạt parivāsa nào đã được hoàn thành (là
đã được) hoàn thành một cách đúng đắn. Hành phạt mānatta nào đã
được ban cho (là đã được) ban cho một cách đúng đắn. Phần hành phạt
mānatta nào đã được hoàn tất (là đã được) hoàn tất một cách đúng
đắn. Nên thực hành phần còn lại.
[485] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu đang thực hành hành phạt mānatta lại xuống
sa di. …(như trên)… bị điên. …(như trên)… bị loạn trí. …(như trên)… bị
thọ khổ hành hạ. …(như trên)… bị án treo về việc không nhìn nhận tội.
…(như trên)… bị án treo về việc không sửa chữa lỗi. …(như trên)… bị án
treo về việc không từ bỏ tà kiến ác. Này các tỳ khưu, việc thực hành
hành phạt mānatta không có tác dụng đối với vị bị án treo. Nhưng
nếu vị ấy được phục hồi lại, chính việc ban cho hành phạt parivāsa
trước đây được áp dụng lại cho vị ấy. Hành phạt parivāsa nào đã
được ban cho (là đã được) ban cho một cách đúng đắn. Hành phạt
parivāsa nào đã được hoàn thành (là đã được) hoàn thành một cách
đúng đắn. Hành phạt mānatta nào đã được ban cho (là đã được) ban
cho một cách đúng đắn. Phần hành phạt mānatta nào đã được hoàn
tất (là đã được) hoàn tất một cách đúng đắn. Nên thực hành phần còn lại.
[486] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội lại hoàn tục. Này các tỳ
khưu, sự giải tội không có tác dụng đối với vị hoàn tục. Nhưng nếu vị ấy
tu lên bậc trên lại, chính việc ban cho hành phạt parivāsa trước
đây được áp dụng lại cho vị ấy. Hành phạt parivāsa nào đã được
ban cho (là đã được) ban cho một cách đúng đắn. Hành phạt parivāsa
nào đã được hoàn thành (là đã được) hoàn thành một cách đúng đắn. Hành
phạt mānatta nào đã được ban cho (là đã được) ban cho một cách
đúng đắn. Hành phạt mānatta nào đã được hoàn tất (là đã được)
hoàn tất một cách đúng đắn. Vị tỳ khưu ấy nên được giải tội.
[487] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội lại xuống sa di. …(như
trên)… bị điên. …(như trên)… bị loạn trí. …(như trên)… bị thọ khổ hành
hạ. …(như trên)… bị án treo về việc không nhìn nhận tội. …(như trên)… bị
án treo về việc không sửa chữa lỗi. …(như trên)… bị án treo về việc
không từ bỏ tà kiến ác. Này các tỳ khưu, sự giải tội không có tác dụng
đối với vị bị án treo. Nhưng nếu vị ấy được phục hồi lại, chính việc ban
cho hành phạt parivāsa trước đây được áp dụng lại cho vị ấy. Hành
phạt parivāsa nào đã được ban cho (là đã được) ban cho một cách
đúng đắn. Hành phạt parivāsa nào đã được hoàn thành (là đã được)
hoàn thành một cách đúng đắn. Hành phạt mānatta nào đã được ban
cho (là đã được) ban cho một cách đúng đắn. Hành phạt mānatta nào
đã được hoàn tất (là đã được) hoàn tất một cách đúng đắn. Vị tỳ khưu ấy
nên được giải tội.
Bốn mươi trường hợp được đầy đủ.
[488] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác
định (parimāṇāyo), không có che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực
hành) trở lại từ đầu.
[489] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác
định, có che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở lại từ đầu
và hành phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã
được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[490] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác
định, có che giấu và không có che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực
hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội trước
đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[491] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa chưa được
xác định (aparimāṇāyo), không có che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho
(thực hành) trở lại từ đầu.
[492] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa chưa được
xác định, có che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở lại từ
đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội
đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[493] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa chưa được
xác định có che giấu và không có che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho
(thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội
trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[494] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác
định và chưa được xác định, không có che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được
cho (thực hành) trở lại từ đầu.
[495] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác
định và chưa được xác định, có che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho
(thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội
trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[496] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác
định và chưa được xác định, có che giấu và không có che giấu. Vị tỳ khưu
ấy nên được cho (thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa
kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được
ban cho vị ấy.
[497] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng hành phạt mānatta …(như trên)…
[498] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu đang thực hành hành phạt mānatta …(như
trên)…
[499] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội, đang ở vào giai đoạn giữa
chừng, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác định, không có
che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở lại từ đầu.
[500] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội, đang ở vào giai đoạn giữa
chừng, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác định, có che
giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt
parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu
như thế nên được ban cho vị ấy.
[501] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội, đang ở vào giai đoạn giữa
chừng, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác định, có che giấu
và không có che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở lại từ
đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội
đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[502] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội, đang ở vào giai đoạn giữa
chừng, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa chưa được xác định, không
có che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở lại từ đầu.
[503] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội, đang ở vào giai đoạn giữa
chừng, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa chưa được xác định, có che
giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt
parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu
như thế nên được ban cho vị ấy.
[504] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội, đang ở vào giai đoạn giữa
chừng, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa chưa được xác định, có che
giấu và không có che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở
lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của
các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[505] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội, đang ở vào giai đoạn giữa
chừng, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác định và chưa được
xác định, không có che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở
lại từ đầu.
[506] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội, đang ở vào giai đoạn giữa
chừng, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác định và chưa được
xác định, có che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở lại từ
đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội
đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[507] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội, đang ở vào giai đoạn giữa
chừng, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác định và chưa được
xác định, có che giấu và không có che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho
(thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội
trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Ba mươi sáu trường hợp được đầy đủ.
[508] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa, không có che
giấu, rồi hoàn tục. Vị ấy đã tu lên bậc trên lại và không giấu giếm các
tội ấy. Này các tỳ khưu, hành phạt mānatta nên được ban cho vị tỳ
khưu ấy.
[509] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa, không có che
giấu, rồi hoàn tục. Vị ấy đã tu lên bậc trên lại và giấu giếm các tội
ấy. Này các tỳ khưu, nên ban cho hành phạt parivāsa theo nhóm các
tội đã được che giấu như thế trong thời gian sau này đến vị tỳ khưu ấy
rồi nên ban cho hành phạt mānatta.
[510] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa, có che giấu,
rồi hoàn tục. Vị ấy đã tu lên bậc trên lại và không giấu giếm các tội
ấy. Này các tỳ khưu, nên ban cho hành phạt parivāsa theo nhóm các
tội đã được che giấu như thế trong thời gian trước đây đến vị tỳ khưu
ấy, rồi nên ban cho hành phạt mānatta.
[511] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa, có che giấu,
rồi hoàn tục. Vị ấy đã tu lên bậc trên lại và giấu giếm các tội ấy. Này
các tỳ khưu, nên ban cho hành phạt parivāsa theo nhóm các tội đã
được che giấu như thế trong thời gian trước đây và thời gian sau này đến
vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hành phạt mānatta.
[512] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Các tội
của vị ấy có che giấu và không có che giấu. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên
bậc trên lại. Các tội nào vị ấy đã giấu giếm trước đây, về sau này vị ấy
không giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy đã không giấu giếm trước
đây, về sau này vị ấy cũng không giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho
hành phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế
trong thời gian trước đây đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hành phạt
mānatta.
[513] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Các tội của vị
ấy có che giấu và không có che giấu. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc
trên lại. Các tội nào vị ấy đã giấu giếm trước đây, về sau này vị ấy
không giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy đã không giấu giếm trước
đây, về sau này vị ấy giấu giếm các tội ấy. Này các tỳ khưu, nên ban cho
hành phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế
trong thời gian trước đây và thời gian sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi
nên ban cho hành phạt mānatta.
[514] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Các tội của vị
ấy có che giấu và không có che giấu. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc
trên lại. Các tội nào vị ấy đã giấu giếm trước đây, về sau này vị ấy
giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy đã không giấu giếm trước đây, về
sau này vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Này các tỳ khưu, nên ban cho
hành phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế
trong thời gian trước đây và thời gian sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi
nên ban cho hành phạt mānatta.
[515] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Các tội của vị
ấy có che giấu và không có che giấu. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc
trên lại. Các tội nào vị ấy đã giấu giếm trước đây, về sau này vị ấy
giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy đã không giấu giếm trước đây, về
sau này vị ấy giấu giếm các tội ấy. Này các tỳ khưu, nên ban cho hành
phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trong
thời gian trước đây và thời gian sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban
cho hành phạt mānatta.
[516] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số
tội vị ấy nhận biết, một số tội vị ấy không nhận biết. Các tội nào vị ấy
nhận biết, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhận biết
vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên
lại. Các tội nào trước đây vị ấy nhận biết và đã giấu giếm, các tội ấy
sau này vị ấy nhận biết và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy
không nhận biết và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy nhận
biết và không giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hành phạt
parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trong thời gian
trước đây đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hành phạt mānatta.
[517] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị
ấy nhận biết, một số tội vị ấy không nhận biết. Các tội nào vị ấy nhận
biết, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhận biết, vị
ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên
lại. Các tội nào trước đây vị ấy nhận biết và đã giấu giếm, các tội ấy
sau này vị ấy nhận biết và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy
không nhận biết và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy nhận
biết và giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hành phạt parivāsa
theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trong thời gian trước đây và
thời gian sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hành phạt
mānatta.
[518] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị
ấy nhận biết, một số tội vị ấy không nhận biết. Các tội nào vị ấy nhận
biết, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhận biết, vị
ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên
lại. Các tội nào trước đây vị ấy nhận biết và đã giấu giếm, các tội ấy
sau này vị ấy nhận biết và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy không
nhận biết và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy nhận biết và
không giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hành phạt parivāsa
theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trong thời gian trước đây và
thời gian sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hành phạt
mānatta.
[519] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị
ấy nhận biết, một số tội vị ấy không nhận biết. Các tội nào vị ấy nhận
biết, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhận biết, vị
ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên
lại. Các tội nào trước đây vị ấy nhận biết và đã giấu giếm, các tội ấy
sau này vị ấy nhận biết và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy không
nhận biết và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy nhận biết và
giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hành phạt parivāsa theo
nhóm các tội đã được che giấu như thế trong thời gian trước đây và thời
gian sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hành phạt mānatta.
[520] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số
tội vị ấy nhớ, một số tội vị ấy không nhớ. Các tội nào vị ấy nhớ, vị ấy
giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhớ, vị ấy không giấu giếm
các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước
đây vị ấy nhớ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy nhớ và không
giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy không nhớ và đã không giấu giếm,
các tội ấy sau này vị ấy nhớ và không giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên
ban cho hành phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như
thế trong thời gian trước đây đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hành
phạt mānatta.
[521] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị
ấy nhớ, một số tội vị ấy không nhớ. Các tội nào vị ấy nhớ, vị ấy giấu
giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhớ, vị ấy không giấu giếm các
tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây
vị ấy đã nhớ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy nhớ và không giấu
giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không nhớ và đã không giấu giếm,
các tội ấy sau này vị ấy nhớ và giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho
hành phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế
trong thời gian trước đây và thời gian sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi
nên ban cho hành phạt mānatta.
[522] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị
ấy nhớ, một số tội vị ấy không nhớ. Các tội nào vị ấy nhớ, vị ấy giấu
giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhớ, vị ấy không giấu giếm các
tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây
vị ấy đã nhớ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy nhớ và giấu giếm;
các tội nào trước đây vị ấy đã không nhớ và đã không giấu giếm, các tội
ấy sau này vị ấy nhớ và không giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho
hành phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế
trong thời gian trước đây và thời gian sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi
nên ban cho hành phạt mānatta.
[523] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị
ấy nhớ, một số tội vị ấy không nhớ. Các tội nào vị ấy nhớ, vị ấy giấu
giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhớ, vị ấy không giấu giếm các
tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây
vị ấy đã nhớ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy nhớ và giấu giếm;
các tội nào trước đây vị ấy đã không nhớ và đã không giấu giếm, các tội
ấy sau này vị ấy nhớ và giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hành
phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trong
thời gian trước đây và thời gian sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban
cho hành phạt mānatta.
[524] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số
tội vị ấy không có nghi ngờ, một số tội vị ấy có nghi ngờ. Các tội nào
vị ấy không có nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy
có nghi ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu
lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã không có nghi ngờ và đã
giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy không có nghi ngờ và không giấu
giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu giếm,
các tội ấy sau này vị ấy không có nghi ngờ và không giấu giếm. Này các
tỳ khưu, nên ban cho hành phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được
che giấu như thế trong thời gian trước đây đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên
ban cho hành phạt mānatta.
[525] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị
ấy không có nghi ngờ, một số tội vị ấy có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy
không có nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy có nghi
ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc
trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã không có nghi ngờ và đã giấu
giếm, các tội ấy sau này vị ấy không có nghi ngờ và không giấu giếm; các
tội nào trước đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy
sau này vị ấy không có nghi ngờ và giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban
cho hành phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế
trong thời gian trước đây và thời gian sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi
nên ban cho hành phạt mānatta.
[526] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị
ấy không có nghi ngờ, một số tội vị ấy có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy
không có nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy có nghi
ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc
trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã không có nghi ngờ và đã giấu
giếm, các tội ấy sau này vị ấy không có nghi ngờ và giấu giếm; các tội
nào trước đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau
này vị ấy không có nghi ngờ và không giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban
cho hành phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế
trong thời gian trước đây và thời gian sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi
nên ban cho hành phạt mānatta.
[527] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị
ấy không có nghi ngờ, một số tội vị ấy có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy
không có nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy có nghi
ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc
trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã không có nghi ngờ và đã giấu
giếm, các tội ấy sau này vị ấy không có nghi ngờ và giấu giếm; các tội
nào trước đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau
này vị ấy không có nghi ngờ và giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho
hành phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế
trong thời gian trước đây và thời gian sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi
nên ban cho hành phạt mānatta.
[528] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu sau khi phạm nhiều tội saṅghādisesa, không
che giấu, rồi xuống sa di. …(như trên)… bị điên. …(như trên)… bị loạn
trí. …(như trên)… (Phần dưới đây nên được giải thích tương tợ). ...(như
trên)... bị thọ khổ hành hạ. …(như trên)… Các tội của vị ấy có che giấu
và không có che giấu. ...(như trên)... Một số tội vị ấy nhận biết, một
số tội vị ấy không nhận biết. ...(như trên)... Một số tội vị ấy nhớ, một
số tội vị ấy không nhớ. ...(như trên)... Một số tội vị ấy không có nghi
ngờ, một số tội vị ấy có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy không có nghi ngờ,
vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội vị ấy có nghi ngờ vị ấy không giấu
giếm các tội ấy. Vị ấy bị thọ khổ hành hạ. Sau khi đã trở lại hết bị thọ
khổ hành hạ, các tội nào trước đây vị ấy đã không có nghi ngờ và đã giấu
giếm, các tội ấy sau này vị ấy không có nghi ngờ và không giấu giếm; các
tội nào trước đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy
sau này vị ấy không có nghi ngờ và không giấu giếm. …(như trên)… Các tội
nào trước đây vị ấy đã không có nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau
này vị ấy không có nghi ngờ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị
ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy không
có nghi ngờ và giấu giếm. …(như trên)… Các tội nào trước đây vị ấy đã
không có nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy không có
nghi ngờ và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã
không giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy không có nghi ngờ và không
giấu giếm. ...(như trên)... Các tội nào trước đây vị ấy đã không có nghi
ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy không có nghi ngờ và giấu
giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu giếm,
các tội ấy sau này vị ấy không có nghi ngờ và giấu giếm. Này các tỳ
khưu, nên ban cho hành phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được
che giấu như thế trong thời gian trước đây và thời gian sau này đến vị
tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hành phạt mānatta.
Dứt một trăm trường hợp mānatta.
[529] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che
giấu, rồi hoàn tục. Vị ấy đã tu lên bậc trên lại và không giấu giếm các
tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở lại từ đầu.
[530] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che
giấu, rồi hoàn tục. Vị ấy đã tu lên bậc trên lại và giấu giếm các tội
ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt
parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu
như thế nên được ban cho vị ấy.
[531] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa, có che
giấu, rồi hoàn tục. Vị ấy đã tu lên bậc trên lại và không giấu giếm các
tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở lại từ đầu và hành
phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che
giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[532] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa, có che
giấu, rồi hoàn tục. Vị ấy đã tu lên bậc trên lại và giấu giếm các tội
ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt
parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu
như thế nên được ban cho vị ấy.
[533] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Các tội của
vị ấy có che giấu, và không có che giấu. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên
bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã giấu giếm, sau này vị ấy
không giấu giếm các tội ấy; các tội nào trước đây vị ấy đã không giấu
giếm, sau này vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được
cho (thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với
tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị
ấy.
[534] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Các tội của
vị ấy có che giấu, và không có che giấu. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên
bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã giấu giếm, sau này vị ấy
không giấu giếm các tội ấy; các tội nào trước đây vị ấy đã không giấu
giếm, sau này vị ấy giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho
(thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội
trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[535] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Các tội của
vị ấy có che giấu, và không có che giấu. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên
bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã giấu giếm, sau này vị ấy
giấu giếm các tội ấy; các tội nào trước đây vị ấy đã không giấu giếm,
sau này vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho
(thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội
trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[536] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Các tội của
vị ấy có che giấu, và không được che giấu. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu
lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã giấu giếm, sau này vị
ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào trước đây vị ấy đã không giấu giếm,
sau này vị ấy giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực
hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội trước
đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[537] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội
vị ấy nhận biết, một số tội vị ấy không nhận biết. Các tội nào vị ấy
nhận biết, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhận
biết, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên
bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã nhận biết và đã giấu giếm,
sau này vị ấy nhận biết và không giấu giếm các tội ấy; các tội nào trước
đây vị ấy đã không nhận biết và đã không giấu giếm, sau này vị ấy nhận
biết và không giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực
hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội trước
đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[538] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội
vị ấy nhận biết, một số tội vị ấy không nhận biết. Các tội nào vị ấy
nhận biết, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhận
biết, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên
bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã nhận biết và đã giấu giếm,
sau này vị ấy nhận biết và không giấu giếm các tội ấy; các tội nào trước
đây vị ấy đã không nhận biết và đã không giấu giếm, sau này vị ấy nhận
biết và giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở
lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của
các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[539] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội
vị ấy nhận biết, một số tội vị ấy không nhận biết. Các tội nào vị ấy
nhận biết, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhận
biết, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên
bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã nhận biết và đã giấu giếm,
sau này vị ấy nhận biết và giấu giếm các tội ấy; các tội nào trước đây
vị ấy đã không nhận biết và đã không giấu giếm, sau này vị ấy nhận biết
và không giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành)
trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây
của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[540] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội
vị ấy nhận biết, một số tội vị ấy không nhận biết. Các tội nào vị ấy
nhận biết, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhận
biết, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên
bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã nhận biết và đã giấu giếm,
sau này vị ấy nhận biết và giấu giếm các tội ấy; các tội nào trước đây
vị ấy đã không nhận biết và đã không giấu giếm, sau này vị ấy nhận biết
và giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực hành) trở lại
từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các
tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[541] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội
vị ấy nhớ, một số tội vị ấy không nhớ. Các tội nào vị ấy nhớ, vị ấy giấu
giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhớ, vị ấy không giấu giếm các
tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước
đây vị ấy đã nhớ và đã giấu giếm, sau này vị ấy nhớ và không giấu giếm
các tội ấy; các tội nào trước đây vị ấy đã không nhớ và đã không giấu
giếm, sau này vị ấy nhớ và không giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên
được cho (thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp
với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho
vị ấy.
[542] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội
vị ấy nhớ, một số tội vị ấy không nhớ. Các tội nào vị ấy nhớ, vị ấy giấu
giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhớ, vị ấy không giấu giếm các
tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước
đây vị ấy đã nhớ và đã giấu giếm, sau này vị ấy nhớ và không giấu giếm
các tội ấy; các tội nào trước đây vị ấy đã không nhớ và đã không giấu
giếm, sau này vị ấy nhớ và giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được
cho (thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với
tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị
ấy.
[543] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội
vị ấy nhớ, một số tội vị ấy không nhớ. Các tội nào vị ấy nhớ, vị ấy giấu
giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhớ, vị ấy không giấu giếm các
tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước
đây vị ấy đã nhớ và đã giấu giếm, sau này vị ấy nhớ và giấu giếm các tội
ấy; các tội nào trước đây vị ấy đã không nhớ và đã không giấu giếm, sau
này vị ấy nhớ và không giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho
(thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội
trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[544] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội
vị ấy nhớ, một số tội vị ấy không nhớ. Các tội nào vị ấy nhớ, vị ấy giấu
giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhớ, vị ấy không giấu giếm các
tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước
đây vị ấy đã nhớ và đã giấu giếm, sau này vị ấy nhớ và giấu giếm các tội
ấy; các tội nào trước đây vị ấy đã không nhớ và đã không giấu giếm, sau
này vị ấy nhớ và giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho (thực
hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội trước
đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[545] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội
vị ấy không có nghi ngờ, một số tội vị ấy có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy
không có nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy có nghi
ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên
bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã không có nghi ngờ và đã
giấu giếm, sau này vị ấy không có nghi ngờ và không giấu giếm các tội
ấy; các tội nào trước đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu giếm,
sau này vị ấy không có nghi ngờ và không giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ
khưu ấy nên được cho (thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa
kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được
ban cho vị ấy.
[546] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội
vị ấy không có nghi ngờ, một số tội vị ấy có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy
không có nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy có nghi
ngờ,vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên
bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã không có nghi ngờ và đã
giấu giếm, sau này vị ấy không có nghi ngờ và không giấu giếm các tội
ấy; các tội nào trước đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu giếm,
sau này vị ấy không có nghi ngờ và giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy
nên được cho (thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết
hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban
cho vị ấy.
[547] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội
vị ấy không có nghi ngờ, một số tội vị ấy có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy
không có nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy có nghi
ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên
bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã không có nghi ngờ và đã
giấu giếm, sau này vị ấy không có nghi ngờ và giấu giếm các tội ấy; các
tội nào trước đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu giếm, sau này vị
ấy không có nghi ngờ và không giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên
được cho (thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp
với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho
vị ấy.
[548] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội
vị ấy không có nghi ngờ, một số tội vị ấy có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy
không có nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy có nghi
ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên
bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã không có nghi ngờ và đã
giấu giếm, sau này vị ấy không có nghi ngờ và giấu giếm các tội ấy; các
tội nào trước đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu giếm, sau này vị
ấy không có nghi ngờ và giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho
(thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội
trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[549] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trong lúc thực hành parivāsa đang ở vào
giai đoạn giữa chừng lại phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che
giấu, rồi xuống sa di. …(như trên)… bị điên. …(như trên)… bị loạn trí.
…(như trên)… bị thọ khổ hành hạ. …(như trên)… Các tội của vị ấy có che
giấu và không có che giấu (Phần dưới đây nên được giải thích tương tợ).
...(như trên)... Một số tội vị ấy nhận biết, một số tội vị ấy không nhận
biết. …(như trên)… Một số tội vị ấy nhớ, một số tội vị ấy không nhớ.
…(như trên)… Một số tội vị ấy không có nghi ngờ, một số tội vị ấy có
nghi ngờ. Các tội nào vị ấy không có nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội
ấy; các tội nào vị ấy có nghi ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị
ấy bị thọ khổ hành hạ. Sau khi đã trở lại hết bị thọ khổ hành hạ, các
tội nào trước đây vị ấy đã không có nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy
sau này vị ấy không có nghi ngờ và không giấu giếm; các tội nào trước
đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy
không có nghi ngờ và không giấu giếm. …(như trên)… Các tội nào trước đây
vị ấy đã không có nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy
không có nghi ngờ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã có
nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy không có nghi
ngờ và giấu giếm. …(như trên)… Các tội nào trước đây vị ấy đã không có
nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy không có nghi ngờ và
giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu
giếm, các tội ấy sau này vị ấy không có nghi ngờ và không giấu giếm.
…(như trên)… Các tội nào trước đây vị ấy đã không có nghi ngờ và đã giấu
giếm, các tội ấy sau này vị ấy không có nghi ngờ và giấu giếm; các tội
nào trước đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau
này vị ấy không có nghi ngờ và giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được cho
(thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội
trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[550] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng hành phạt mānatta …(như trên)…
[551] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu là vị đang thực hành hành phạt mānatta
…(như trên)…
[552] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội, đang ở vào giai đoạn giữa
chừng, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa, có che giấu, rồi hoàn
tục. ...(như trên)... (Vị xứng đáng hành phạt mānatta, vị thực
hành hành phạt mānatta, vị xứng đáng giải tội nên được giải thích
như đã giải thích ở phần của vị thực hành parivāsa).
[553] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội, đang ở vào giai đoạn giữa
chừng, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che giấu, rồi xuống
sa di. …(như trên)… bị điên. …(như trên)… bị loạn trí. …(như trên)… bị
thọ khổ hành hạ. …(như trên)… Các tội của vị ấy có che giấu và không có
che giấu. …(như trên)… Một số tội vị ấy nhận biết, một số tội vị ấy
không nhận biết. …(như trên)… Một số tội vị ấy nhớ, một số tội vị ấy
không nhớ. …(như trên)… Một số tội vị ấy không có nghi ngờ, một số tội
vị ấy có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy không có nghi ngờ, vị ấy giấu giếm
các tội ấy; các tội vị ấy có nghi ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy.
Vị ấy bị thọ khổ hành hạ. Sau khi đã trở lại hết bị thọ khổ hành hạ, các
tội nào trước đây vị ấy đã không có nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy
sau này vị ấy không có nghi ngờ và không giấu giếm; các tội nào trước
đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy
không có nghi ngờ và không giấu giếm. …(như trên)… Các tội nào trước đây
vị ấy đã không có nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy
không có nghi ngờ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã có
nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy không có nghi
ngờ và giấu giếm. …(như trên)… Các tội nào trước đây vị ấy đã không có
nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này vị ấy không có nghi ngờ và
giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu
giếm, các tội ấy sau này vị ấy không có nghi ngờ và không giấu giếm.
…(như trên)… Các tội nào trước đây vị ấy đã không có nghi ngờ và đã giấu
giếm, các tội ấy sau này vị ấy không có nghi ngờ và giấu giếm; các tội
nào trước đây vị ấy đã có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau
này vị ấy không có nghi ngờ và giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được cho
(thực hành) trở lại từ đầu và hành phạt parivāsa kết hợp với tội
trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
[554] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác định,
không che giấu, rồi hoàn tục. …(như trên)… chưa được xác định, không che
giấu, rồi hoàn tục. …(như trên)… cùng một tội danh, không che giấu, rồi
hoàn tục. …(như trên)… khác tội danh, không che giấu, rồi hoàn tục.
…(như trên)… cùng nhóm phân loại (sabhāgā), không che giấu, rồi hoàn
tục. …(như trên)… khác nhóm phân loại (visabhāgā), không che giấu, rồi
hoàn tục. …(như trên)… riêng biệt (vavatthitā), không che giấu, rồi hoàn
tục. …(như trên)… có liên quan (sambhinnā)[2],
không che giấu, rồi hoàn tục. …(như trên)…
[555] Hai vị tỳ khưu
phạm tội saṅghādisesa. Hai vị có quan điểm là tội saṅghādisesa
trong tội saṅghādisesa. Một vị giấu giếm, một vị không giấu
giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên vị ấy sám hối tội dukkaṭa (tác
ác) và nên ban cho hành phạt parivāsa theo như đã được che giấu
đến vị ấy. Hành phạt mānatta nên được ban cho đến cả hai vị.
[556] Hai vị tỳ khưu
phạm tội saṅghādisesa. Hai vị có nghi ngờ là tội saṅghādisesa.
Một vị giấu giếm, một vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên
vị ấy sám hối tội dukkaṭa (tác ác) và nên ban cho hành phạt
parivāsa theo như đã được che giấu đến vị ấy. Hành phạt mānatta
nên được ban cho đến cả hai vị.
[557] Hai vị tỳ khưu
phạm tội saṅghādisesa. Hai vị có quan điểm là tội lẫn lộn
(missakadiṭṭhino) trong tội saṅghādisesa. Một vị giấu giếm, một
vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên vị ấy sám hối tội
dukkaṭa (tác ác) và nên ban cho hành phạt parivāsa theo như
đã được che giấu đến vị ấy. Hành phạt mānatta nên được ban cho
đến cả hai vị.
[558] Hai vị tỳ khưu
phạm tội lẫn lộn. Hai vị có quan điểm là tội saṅghādisesa trong
tội lẫn lộn. Một vị giấu giếm, một vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm,
nên khuyên vị ấy sám hối tội dukkaṭa (tác ác) và nên ban cho hành
phạt parivāsa theo như đã được che giấu đến vị ấy. Hành phạt
mānatta nên được ban cho đến cả hai vị.
[559] Hai vị tỳ khưu
phạm tội lẫn lộn. Hai vị có quan điểm là tội lẫn lộn trong tội lẫn lộn.
Một vị giấu giếm, một vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên
vị ấy sám hối tội dukkaṭa (tác ác) và nên ban cho hành phạt
parivāsa theo như đã được che giấu đến vị ấy. Hành phạt mānatta
nên được ban cho đến cả hai vị.
[560] Hai vị tỳ khưu
phạm tội nhẹ (suddhakaṃ).[3]
Hai vị có quan điểm là saṅghādisesa trong tội nhẹ. Một vị giấu
giếm, một vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên vị ấy sám hối
tội dukkaṭa (tác ác). Cả hai vị nên được xử trí theo Pháp.
[561] Hai vị tỳ khưu
phạm tội nhẹ. Hai vị có quan điểm là tội nhẹ trong tội nhẹ. Một vị giấu
giếm, một vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên vị ấy sám hối
tội dukkaṭa (tác ác). Cả hai vị nên được xử trí theo Pháp.
[562] Hai vị tỳ khưu
phạm tội saṅghādisesa. Hai vị có quan điểm là tội saṅghādisesa
trong tội saṅghādisesa. Một vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ trình
báo;” vị kia (nghĩ rằng): “Ta sẽ không trình báo.” Vị ấy giấu
giếm vào canh thứ nhất, giấu giếm vào canh thứ nhì, giấu giếm vào canh
thứ ba, khi hừng đông đã ló dạng thì tội đã được giấu giếm. Vị nào giấu
giếm, nên khuyên vị ấy sám hối tội dukkaṭa (tác ác) và nên ban
cho hành phạt parivāsa theo như đã được che giấu đến vị ấy. Hành
phạt mānatta nên được ban cho đến cả hai vị.
[563] Hai vị tỳ khưu
phạm tội saṅghādisesa. Hai vị có quan điểm là tội saṅghādisesa
trong tội saṅghādisesa. Hai vị trong khi đi (bàn bạc rằng): “Chúng
ta sẽ trình báo.” Trên đường đi, pháp giả dối sanh khởi ở một vị
(nghĩ rằng): “Ta sẽ không trình báo.” Vị ấy giấu giếm vào canh
thứ nhất, giấu giếm vào canh thứ nhì, giấu giếm vào canh thứ ba, khi
hừng đông đã ló dạng thì tội đã được giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên
khuyên vị ấy sám hối tội dukkaṭa (tác ác) và nên ban cho hành
phạt parivāsa theo như đã được che giấu đến vị ấy. Hành phạt
mānatta nên được ban cho đến cả hai vị.
[564] Hai vị tỳ khưu
phạm tội saṅghādisesa. Hai vị có quan điểm là tội saṅghādisesa
trong tội saṅghādisesa. Hai vị bị điên. Về sau, khi hai vị
hết bị điên, một vị giấu giếm, một vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm,
nên khuyên vị ấy sám hối tội dukkaṭa (tác ác) và nên ban cho hành
phạt parivāsa theo như đã được che giấu đến vị ấy. Hành phạt
mānatta nên được ban cho đến cả hai vị.
[565] Hai vị tỳ khưu
phạm tội saṅghādisesa. Trong khi giới bổn Pātimokkha được đọc
tụng, hai vị phát biểu như vầy:
- Cho đến hôm nay chúng
tôi mới biết được rằng: “Nghe nói pháp này cũng được truyền lại trong
giới bổn (suttāgato), được chứa đựng trong giới bổn (suttapariyāpanno)
và được đưa ra đọc tụng vào mỗi nửa tháng.”
Hai vị có quan điểm là
tội saṅghādisesa trong tội saṅghādisesa. Một vị giấu giếm,
một vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên vị ấy sám hối tội
dukkaṭa (tác ác) và nên ban cho hành phạt parivāsa theo
như đã được che giấu đến vị ấy. Hành phạt mānatta nên được ban
cho đến cả hai vị.
[566] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, cùng một tội danh cũng có, khác tội
danh cũng có, cùng nhóm phân loại cũng có, khác nhóm phân loại cũng có,
riêng biệt cũng có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành
phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt
parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành
parivāsa, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều
tội saṅghādisesa được xác định, không có che giấu. Dầu đang ở vào
giai đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin hội chúng sự (thực hành) trở lại từ
đầu của các tội. Hội chúng cho vị ấy, dầu đang ở vào giai đoạn giữa
chừng, được (thực hành) trở lại từ đầu của các tội, và ban cho hành phạt
parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa
đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hành phạt mānatta không đúng
Pháp, rồi giải tội không đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không
được trong sạch với các tội ấy.
[567] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, cùng một tội danh cũng có, khác tội
danh cũng có, cùng nhóm phân loại cũng có, khác nhóm phân loại cũng có,
riêng biệt cũng có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành
phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt
parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành
parivāsa, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều
tội saṅghādisesa được xác định, có che giấu. Dầu đang ở vào giai
đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin hội chúng sự (thực hành) trở lại từ đầu
của các tội. Hội chúng cho vị ấy, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng,
được (thực hành) trở lại từ đầu của các tội, và ban cho hành phạt
parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa
đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hành phạt mānatta không đúng
Pháp, và giải tội không đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không
được trong sạch với các tội ấy.
[568] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, cùng một tội danh cũng có, khác tội
danh cũng có, cùng nhóm phân loại cũng có, khác nhóm phân loại cũng có,
riêng biệt cũng có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành
phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt
parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành
parivāsa, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều
tội saṅghādisesa được xác định, có che giấu và không có che giấu.
Dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin hội chúng sự (thực
hành) trở lại từ đầu của các tội. Hội chúng cho vị ấy, dầu đang ở vào
giai đoạn giữa chừng, được (thực hành) trở lại từ đầu của các tội, và
ban cho hành phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng
Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hành phạt
mānatta không đúng Pháp, và giải tội không đúng Pháp. Này các tỳ
khưu, vị tỳ khưu ấy không được trong sạch với các tội ấy.
[569] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, cùng một tội danh cũng có, khác tội
danh cũng có, cùng nhóm phân loại cũng có, khác nhóm phân loại cũng có,
riêng biệt cũng có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành
phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt
parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành
parivāsa, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều
tội saṅghādisesa chưa được xác định, không có che giấu. Dầu đang
ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin hội chúng sự (thực hành) trở
lại từ đầu của các tội. Hội chúng cho vị ấy, dầu đang ở vào giai đoạn
giữa chừng, được (thực hành) trở lại từ đầu của các tội, và ban cho hành
phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể
sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hành phạt mānatta không
đúng Pháp, và giải tội không đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy
không được trong sạch với các tội ấy.
[570] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, cùng một tội danh cũng có, khác tội
danh cũng có, cùng nhóm phân loại cũng có, khác nhóm phân loại cũng có,
riêng biệt cũng có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành
phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt
parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành
parivāsa, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều
tội saṅghādisesa chưa được xác định, có che giấu. Dầu đang ở vào
giai đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin hội chúng sự (thực hành) trở lại từ
đầu của các tội. Hội chúng cho vị ấy, dầu đang ở vào giai đoạn giữa
chừng, được (thực hành) trở lại từ đầu của các tội, và ban cho hành phạt
parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa
đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hành phạt mānatta không đúng
Pháp, và giải tội không đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không
được trong sạch với các tội ấy.
[571] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, cùng một tội danh cũng có, khác tội
danh cũng có, cùng nhóm phân loại cũng có, khác nhóm phân loại cũng có,
riêng biệt cũng có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành
phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt
parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành
parivāsa, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều
tội saṅghādisesa chưa được xác định, có che giấu và không có che
giấu. Dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin hội chúng sự
(thực hành) trở lại từ đầu của các tội. Hội chúng cho vị ấy, dầu đang ở
vào giai đoạn giữa chừng, được (thực hành) trở lại từ đầu của các tội,
và ban cho hành phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng
Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hành phạt
mānatta không đúng Pháp, và giải tội không đúng Pháp. Này các tỳ
khưu, vị tỳ khưu ấy không được trong sạch với các tội ấy.
[572] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, cùng một tội danh cũng có, khác tội
danh cũng có, cùng nhóm phân loại cũng có, khác nhóm phân loại cũng có,
riêng biệt cũng có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành
phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt
parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành
parivāsa, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều
tội saṅghādisesa được xác định và chưa được xác định, không có
che giấu. Dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin hội chúng
sự (thực hành) trở lại từ đầu của các tội. Hội chúng cho vị ấy, dầu đang
ở vào giai đoạn giữa chừng, được (thực hành) trở lại từ đầu của các tội,
và ban cho hành phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng
Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hành phạt
mānatta không đúng Pháp, và giải tội không đúng Pháp. Này các tỳ
khưu, vị tỳ khưu ấy không được trong sạch với các tội ấy.
[573] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, cùng một tội danh cũng có, khác tội
danh cũng có, cùng nhóm phân loại cũng có, khác nhóm phân loại cũng có,
riêng biệt cũng có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành
phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt
parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành
parivāsa, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều
tội saṅghādisesa được xác định và chưa được xác định, có che
giấu. Dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin hội chúng sự
(thực hành) trở lại từ đầu của các tội. Hội chúng cho vị ấy, dầu đang ở
vào giai đoạn giữa chừng, được (thực hành) trở lại từ đầu của các tội,
và ban cho hành phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng
Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hành phạt
mānatta không đúng Pháp, và giải tội không đúng Pháp. Này các tỳ
khưu, vị tỳ khưu ấy không được trong sạch với các tội ấy.
[574] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, cùng một tội danh cũng có, khác tội
danh cũng có, cùng nhóm phân loại cũng có, khác nhóm phân loại cũng có,
riêng biệt cũng có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành
phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt
parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành
parivāsa, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều
tội saṅghādisesa được xác định và chưa được xác định, có che giấu
và không có che giấu. Dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin
hội chúng sự (thực hành) trở lại từ đầu của các tội. Hội chúng cho vị
ấy, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, được (thực hành) trở lại từ đầu
của các tội, và ban cho hành phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng
hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho
hành phạt mānatta không đúng Pháp, và giải tội không đúng Pháp.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không được trong sạch với các tội ấy.
Dứt chín trường hợp không được trong sạch từ
căn bản.
[575] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, ...(như trên)... riêng biệt cũng
có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa kết
hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành parivāsa, dầu
đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều tội
saṅghādisesa được xác định, không có che giấu. ...(như trên)... được
xác định, có che giấu. ...(như trên)... được xác định, có che giấu và
không có che giấu. ...(như trên)... Dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng,
vị ấy cầu xin hội chúng sự (thực hành) trở lại từ đầu của các tội. Hội
chúng cho vị ấy, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, được (thực hành)
trở lại từ đầu của các tội, và ban cho hành phạt parivāsa kết hợp
đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì,
rồi ban cho hành phạt mānatta đúng Pháp, và giải tội đúng Pháp.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch với các tội ấy.
[576] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, ...(như trên)... riêng biệt cũng
có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa kết
hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành parivāsa, dầu
đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều tội
saṅghādisesa chưa được xác định, không có che giấu. ...(như trên)...
chưa được xác định, có che giấu. ...(như trên)... chưa được xác định, có
che giấu và không có che giấu. Dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị
ấy cầu xin hội chúng sự (thực hành) trở lại từ đầu của các tội. Hội
chúng cho vị ấy, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, được (thực hành)
trở lại từ đầu của các tội, và ban cho hành phạt parivāsa kết hợp
đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì,
rồi ban cho hành phạt mānatta đúng Pháp, và giải tội đúng Pháp.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch với các tội ấy.
[577] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, ...(như trên)... riêng biệt cũng
có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa kết
hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành parivāsa, dầu
đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều tội
saṅghādisesa được xác định và chưa được xác định, không có che giấu.
...(như trên)... được xác định và chưa được xác định, có che giấu.
...(như trên)... được xác định và chưa được xác định, có che giấu và
không có che giấu. Dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin
hội chúng sự (thực hành) trở lại từ đầu của các tội. Hội chúng cho vị
ấy, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, được (thực hành) trở lại từ đầu
của các tội, và ban cho hành phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng
hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho
hành phạt mānatta đúng Pháp, và giải tội đúng Pháp. Này các tỳ
khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch với các tội ấy.
Dứt chín trường hợp được trong sạch từ căn
bản.
[578] Này các tỳ
khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác
định cũng có, chưa được xác định cũng có, …(như trên)…, riêng biệt cũng
có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa kết
hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành parivāsa, dầu
đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều tội
saṅghādisesa được xác định, không có che giấu. Dầu đang ở vào giai
đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin hội chúng sự (thực hành) trở lại từ đầu
của các tội. Hội chúng cho vị ấy, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng,
được (thực hành) trở lại từ đầu của các tội, và ban cho hành phạt
parivāsa kết hợp không đúng Pháp bằng hành sự không đúng Pháp, có
thể sửa đổi, không đáng được duy trì. Trong khi biết rằng: “Ta đang
thực hành parivāsa,” dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị
ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác định, không có che
giấu. Tồn tại trên nền tảng đó, vị ấy nhớ lại các tội đang ở vào giai
đoạn giữa chừng của các tội trước đây và nhớ lại các tội đang ở vào giai
đoạn giữa chừng của các tội khác. Vị ấy (suy nghĩ) như sau: “Ta đã
phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định cũng có, chưa được xác định
cũng có, ...(như trên)... riêng biệt cũng có, có liên quan cũng có. Ta
đây đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội
chúng đã ban cho hành phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến ta đây.
Trong lúc thực hành parivāsa, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, ta
đây đã phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác định, không có che giấu. Dầu
đang ở vào giai đoạn giữa chừng, ta đây đã cầu xin hội chúng sự (thực
hành) trở lại từ đầu của các tội. Hội chúng đã cho ta đây, dầu đang ở
vào giai đoạn giữa chừng, được (thực hành) trở lại từ đầu của các tội,
và đã ban cho hành phạt parivāsa kết hợp không đúng Pháp bằng hành sự
không đúng Pháp, có thể sửa đổi, không đáng được duy trì. Trong khi biết
rằng: ‘Ta đang thực hành parivāsa,’ dầu đang ở vào giai đoạn giữa
chừng, ta đây đã phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác định, không có che
giấu. Tồn tại trên nền tảng đó, ta đây nhớ lại các tội đang ở vào giai
đoạn giữa chừng của các tội trước đây và nhớ lại các tội đang ở vào giai
đoạn giữa chừng của các tội khác, hay là ta nên cầu xin hội chúng sự
(thực hành) trở lại từ đầu của các tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng
của các tội trước đây và của các tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng của
các tội khác, (nên cầu xin) hành phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng
hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, (nên cầu xin)
hành phạt mānatta đúng Pháp, và (nên cầu xin) sự giải tội đúng Pháp?”
Dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin hội chúng sự (thực
hành) trở lại từ đầu của các tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng
của các tội trước đây và của các tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng của
các tội khác, (cầu xin) hành phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng
hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, (cầu xin) hành
phạt mānatta đúng Pháp, và (cầu xin) sự giải tội đúng Pháp. Hội
chúng cho vị ấy được (thực hành) trở lại từ đầu của các tội đang ở vào
giai đoạn giữa chừng của các tội trước đây và của các tội đang ở vào
giai đoạn giữa chừng của các tội khác, và ban cho hành phạt parivāsa
kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được
duy trì, rồi ban cho hành phạt mānatta đúng Pháp, và giải tội
đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch với các tội
ấy.
[579] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, ...(như trên)... riêng biệt cũng
có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa kết
hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành parivāsa, dầu
đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều tội
saṅghādisesa được xác định, có che giấu. …(như trên)… được xác định,
có che giấu và không có che giấu. Dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng,
vị ấy cầu xin hội chúng sự (thực hành) trở lại từ đầu của các tội. Hội
chúng cho vị ấy, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, được (thực hành)
trở lại từ đầu của các tội, và ban cho hành phạt parivāsa kết hợp
không đúng Pháp bằng hành sự không đúng Pháp, có thể sửa đổi, không đáng
được duy trì. Trong khi biết rằng: “Ta đang thực hành parivāsa,”
dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều tội
saṅghādisesa được xác định, có che giấu và không có che giấu. Tồn
tại trên nền tảng đó, vị ấy nhớ lại các tội đang ở vào giai đoạn giữa
chừng của các tội trước đây và nhớ lại các tội đang ở vào giai đoạn giữa
chừng của các tội khác. Vị ấy (suy nghĩ) như sau: “Ta đã phạm nhiều
tội saṅghādisesa: được xác định cũng có, chưa được xác định cũng có,
...(như trên)... riêng biệt cũng có, có liên quan cũng có. Ta đây đã cầu
xin hội chúng hành phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng đã
ban cho hành phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến ta đây. Trong lúc
thực hành parivāsa, dầu ở vào giai đoạn giữa chừng, ta đây đã phạm nhiều
tội saṅghādisesa được xác định, có che giấu và không có che giấu. Dầu
đang ở vào giai đoạn giữa chừng, ta đây đã cầu xin hội chúng sự (thực
hành) trở lại từ đầu của các tội. Hội chúng đã cho ta đây, dầu đang ở
vào giai đoạn giữa chừng, được (thực hành) trở lại từ đầu của các tội,
và đã ban cho hành phạt parivāsa kết hợp không đúng Pháp bằng hành sự
không đúng Pháp, có thể sửa đổi, không đáng được duy trì. Trong khi biết
rằng: ‘Ta đang thực hành parivāsa,’ dầu đang ở vào giai đoạn giữa
chừng, ta đây đã phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác định, có che giấu
và không có che giấu. Tồn tại trên nền tảng đó, ta đây nhớ lại các tội
đang ở vào giai đoạn giữa chừng của các tội trước đây và nhớ lại các tội
đang ở vào giai đoạn giữa chừng của các tội khác, hay là ta nên cầu xin
hội chúng sự (thực hành) trở lại từ đầu của các tội đang ở vào giai đoạn
giữa chừng của các tội trước đây và của các tội đang ở vào giai đoạn
giữa chừng của các tội khác, (nên cầu xin) hành phạt parivāsa kết hợp
đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì,
(nên cầu xin) hành phạt mānatta đúng Pháp, và (nên cầu xin) sự giải tội
đúng Pháp?” Dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin hội
chúng sự (thực hành) trở lại từ đầu của các tội đang ở vào giai đoạn
giữa chừng của các tội trước đây và của các tội đang ở vào giai
đoạn giữa chừng của các tội khác, (cầu xin) sự hành parivāsa kết
hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy
trì, (cầu xin) hành phạt mānatta đúng Pháp, và (cầu xin) sự giải
tội đúng Pháp. Hội chúng ban cho vị ấy được (thực hành) trở lại từ đầu
của các tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng của các tội trước đây và của
các tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng của các tội khác, và ban cho
hành phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp,
không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hành phạt mānatta
đúng Pháp, và giải tội đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được
trong sạch với các tội ấy.
[580] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, cùng một tội danh cũng có, khác tội
danh cũng có, cùng nhóm phân loại cũng có, khác nhóm phân loại cũng có,
riêng biệt cũng có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành
phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt
parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành
parivāsa, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều
tội saṅghādisesa chưa được xác định, không có che giấu. …(như
trên)… chưa được xác định, có che giấu. …(như trên)… chưa được xác định,
có che giấu và không có che giấu. Dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng,
vị ấy cầu xin hội chúng sự (thực hành) trở lại từ đầu của các tội. Hội
chúng cho vị ấy, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, được (thực hành)
trở lại từ đầu của các tội, và ban cho hành phạt parivāsa kết hợp
không đúng Pháp bằng hành sự không đúng Pháp, có thể sửa đổi, không đáng
được duy trì. Trong khi biết rằng: “Ta đang thực hành parivāsa,”...(như
trên)... ban cho hành phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp, rồi ban
cho hành phạt mānatta đúng Pháp, và giải tội đúng Pháp. Này các
tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch với các tội ấy.
[581] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, ...(như trên)... riêng biệt cũng
có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa kết
hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành parivāsa, dầu
đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều tội
saṅghādisesa được xác định và chưa được xác định, không có che giấu.
Dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin hội chúng sự (thực
hành) trở lại từ đầu của các tội. Hội chúng cho vị ấy, dầu đang ở vào
giai đoạn giữa chừng, được (thực hành) trở lại từ đầu của các tội, và
ban cho hành phạt parivāsa kết hợp không đúng Pháp bằng hành sự
không đúng Pháp, có thể sửa đổi, không đáng được duy trì. Vị ấy, trong
khi biết rằng: “Ta đang thực hành parivāsa” …(như trên)…
ban cho hành phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp, rồi ban cho hành
phạt mānatta đúng Pháp, và giải tội đúng Pháp. Này các tỳ khưu,
vị tỳ khưu ấy được trong sạch với các tội ấy.
[582] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, ...(như trên)... riêng biệt cũng
có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa kết
hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành parivāsa, dầu
đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều tội
saṅghādisesa được xác định và chưa được xác định, có che giấu. Dầu
đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin hội chúng sự (thực hành)
trở lại từ đầu của các tội. Hội chúng cho vị ấy, dầu đang ở vào giai
đoạn giữa chừng, được (thực hành) trở lại từ đầu của các tội, và ban cho
hành phạt parivāsa kết hợp không đúng Pháp bằng hành sự không
đúng Pháp, có thể sửa đổi, không đáng được duy trì. Trong khi biết rằng:
“Ta đang thực hành parivāsa,” dầu đang ở vào giai đoạn
giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác định
và chưa được xác định, có che giấu. Tồn tại trên nền tảng đó, vị ấy nhớ
lại các tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng của các tội trước đây và nhớ
lại các tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng của các tội khác. Vị ấy (suy
nghĩ) như sau: “Ta đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định cũng
có, chưa được xác định cũng có, ...(như trên)... riêng biệt cũng có, có
liên quan cũng có. Ta đây đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa kết
hợp của các tội ấy. Hội chúng đã ban cho hành phạt parivāsa kết hợp của
các tội ấy đến ta đây. Trong lúc thực hành parivāsa, dầu đang ở vào giai
đoạn giữa chừng, ta đây đã phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác định và
chưa được xác định, có che giấu. Ta đây đã cầu xin hội chúng sự (thực
hành) trở lại từ đầu của các tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng. Hội
chúng đã cho ta đây, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, được (thực
hành) trở lại từ đầu của các tội, và đã ban cho hành phạt parivāsa kết
hợp không đúng Pháp bằng hành sự không đúng Pháp, có thể sửa đổi, không
đáng được duy trì. Trong khi biết rằng: ‘Ta đang thực hành
parivāsa,’ dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, ta đây đã phạm nhiều tội
saṅghādisesa được xác định và chưa được xác định, có che giấu. Tồn tại
trên nền tảng đó, ta đây nhớ lại các tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng
của các tội trước đây và nhớ lại các tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng
của các tội khác, hay là ta nên cầu xin hội chúng sự (thực hành) trở lại
từ đầu của các tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng của các tội trước đây
và của các tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng của các tội khác, (nên
cầu xin) hành phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp,
không thể sửa đổi, đáng được duy trì, (nên cầu xin) hành phạt mānatta
đúng Pháp, và (nên cầu xin) sự giải tội đúng Pháp?” Dầu đang ở vào
giai đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin hội chúng sự (thực hành) trở lại từ
đầu của các tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng của các tội trước
đây và của các tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng của các tội khác,
(cầu xin) sự hành parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng
Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, (cầu xin) hành phạt
mānatta đúng Pháp, và (cầu xin) sự giải tội đúng Pháp. Hội chúng ban
cho vị ấy được (thực hành) trở lại từ đầu của các tội đang ở vào giai
đoạn giữa chừng của các tội trước đây và của các tội đang ở vào giai
đoạn giữa chừng của các tội khác, và ban cho hành phạt parivāsa
kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được
duy trì, rồi ban cho hành phạt mānatta đúng Pháp, và giải tội
đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch với các tội
ấy.
[583] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: được xác định
cũng có, chưa được xác định cũng có, ...(như trên)... riêng biệt cũng
có, có liên quan cũng có. Vị ấy cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa
kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hành phạt parivāsa kết
hợp của các tội ấy đến vị ấy. Trong lúc thực hành parivāsa, dầu
đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều tội
saṅghādisesa được xác định và chưa được xác định, có che giấu và
không có che giấu. Dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin
hội chúng sự (thực hành) trở lại từ đầu của các tội. Hội chúng cho vị
ấy, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, được (thực hành) trở lại từ đầu
của các tội, và ban cho hành phạt parivāsa kết hợp không đúng
Pháp bằng hành sự không đúng Pháp, có thể sửa đổi, không đáng được duy
trì. Trong khi biết rằng: “Ta đang thực hành parivāsa,”
dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy lại phạm nhiều tội
saṅghādisesa được xác định và chưa được xác định, có che giấu và
không có che giấu. Tồn tại trên nền tảng đó, vị ấy nhớ lại các tội đang
ở vào giai đoạn giữa chừng của các tội trước đây và nhớ lại các tội đang
ở vào giai đoạn giữa chừng của các tội khác. Vị ấy (suy nghĩ) như sau: “Ta
đã phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác định cũng có, chưa được xác định
cũng có, …(như trên)…, riêng biệt cũng có, có liên quan cũng có. Ta đây
đã cầu xin hội chúng hành phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội
chúng đã ban cho hành phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến ta đây.
Trong lúc thực hành parivāsa, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, ta
đây đã phạm nhiều tội saṅghādisesa được xác định và chưa được xác định,
có che giấu và không có che giấu. Dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng,
ta đây đã cầu xin hội chúng sự (thực hành) trở lại từ đầu của các tội.
Hội chúng đã cho ta đây, dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, được (thực
hành) trở lại từ đầu của các tội, và đã ban cho hành phạt parivāsa kết
hợp không đúng Pháp bằng hành sự không đúng Pháp, có thể sửa đổi, không
đáng được duy trì. Trong khi biết rằng: ‘Ta đang thực hành
parivāsa,’ dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, ta đây đã phạm nhiều tội
saṅghādisesa được xác định và chưa được xác định, có che giấu và không
có che giấu. Tồn tại trên nền tảng đó, ta nhớ lại các tội đang ở vào
giai đoạn giữa chừng của các tội trước đây và nhớ lại các tội đang ở vào
giai đoạn giữa chừng của các tội khác, hay là ta nên cầu xin hội chúng
sự (thực hành) trở lại từ đầu của các tội đang ở vào giai đoạn giữa
chừng của các tội trước đây và của các tội đang ở vào giai đoạn giữa
chừng của các tội khác, (nên cầu xin) hành phạt parivāsa kết hợp đúng
Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, (nên
cầu xin) hành phạt mānatta đúng Pháp, và (nên cầu xin) sự giải tội đúng
Pháp?” Dầu đang ở vào giai đoạn giữa chừng, vị ấy cầu xin hội chúng
sự (thực hành) trở lại từ đầu của các tội đang ở vào giai đoạn giữa
chừng của các tội trước đây và của các tội đang ở vào giai đoạn
giữa chừng của các tội khác, (cầu xin) hành phạt parivāsa kết hợp
đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì,
(cầu xin) hành phạt mānatta đúng Pháp, và (cầu xin) sự giải tội
đúng Pháp. Hội chúng ban cho vị ấy được (thực hành) trở lại từ đầu của
các tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng của các tội trước đây và của các
tội đang ở vào giai đoạn giữa chừng của các tội khác, và ban cho hành
phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể
sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hành phạt mānatta đúng
Pháp, và giải tội đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong
sạch với các tội ấy.
Dứt Chương Tích Lũy Tội là chương thứ ba.
*******
Tóm lược chương này:
[584]
Không
che giấu một ngày,
hai ngày, rồi ba ngày,
bốn ngày, và năm ngày,
nửa tháng, hoặc mười ngày,
bậc Đại Sĩ thuyết tội,
tội nhẹ, dầu hoàn tục
các tội vẫn xác định.
Có hai vị tỳ khưu
trường hợp này suy nghĩ
cả hai đều nghi ngờ,
nghĩ rằng tội lẫn lộn,
lẫn lộn và không lẫn,
suy nghĩ rằng tội nặng,
cũng thế nghĩ tội nhẹ,
rồi một vị giấu giếm,
vị kia không giấu giếm,
và rồi pháp giả dối,
bị điên, và sám hối,
mười tám lại từ đầu,
và rồi được trong sạch.
Các lời thuyết giảng này
để tồn tại Chánh Pháp
chính là sự ban cho
của các giáo thọ sư
của nhóm Vibhajja
thường trú ngôi Đại Tự
(Mahāvihāra)
làm rạng ngời hòn đảo
tên Tambapaṇṇi.
[1]
Bản dịch Anh ngữ của Rhydavis và Oldenberg chú thích rằng: Buddhaghosa
giải thích số lượng đêm thực hành suddhantaparivāsa nên tính từ
lúc tu lên bậc trên đến ngày hôm ấy. Cách thức đang được áp dụng là
xác định thời gian được trong sạch sau ngày tu lên bậc trên rồi thực
hành suddhantaparivāsa cho thời gian còn lại. Lối giải thích
này phù hợp với ý nghĩa của từ suddhanta = suddha + anta = thời
điểm cuối khi được trong sạch
[2]
Các tội saṅghādisesa 1, 5, 12, 13 là vavatthitā. Các
nhóm tội (2, 3, 4), (6, 7, 8), (9, 10, 11) là sambhinnā.
Sabhāgā và visabhāgā cũng tương tự tùy theo phương pháp
phân loại.
[3]
Ngài Buddhaghosa giải thích rằng sau tội saṅghādisesa là nhóm
các tội nhẹ (lahukāpatti).
-ooOoo-
Đầu trang |
Mục lục |
01a |
01b |
02 |
03a | 03b |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12
|