|
Tạng Luật
Vinaya Pitaka
Tiểu Phẩm
Cullavagga
Tỳ khưu Indacanda
Nguyệt Thiên dịch
Mục lục |
01a |
01b |
02 |
03a |
03b | 04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12
IV. CHƯƠNG DÀN XẾP
(SAMATHAKKHANDHAKAṂ)
1. HÀNH XỬ LUẬT VỚI
SỰ HIỆN DIỆN (SAMMUKHĀVINAYO):
[585] Lúc bấy giờ, đức
Phật Thế Tôn ngự tại Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư thực thi các hành sự khiển
trách, chỉ dạy, xua đuổi, hòa giải, án treo đối với các vị tỳ khưu không
có hiện diện. Các tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ấy phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu
nhóm Lục Sư lại thực thi các hành sự khiển trách, chỉ dạy, xua đuổi, hòa
giải, án treo cho các tỳ khưu không có hiện diện?
Sau đó, các vị tỳ khưu
ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, nghe
nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư thực thi các hành sự khiển trách, chỉ dạy,
xua đuổi, hòa giải, án treo cho các tỳ khưu không có hiện diện, có đúng
không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng
vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã
khiển trách rằng:
- Này các tỳ khưu, thật
không đúng đắn cho những kẻ rồ dại ấy, thật không hợp lẽ, không tốt đẹp,
không xứng pháp sa-môn, không được phép, không nên làm. Này các tỳ khưu,
vì sao những kẻ rồ dại ấy lại thực thi các hành sự khiển trách, chỉ dạy,
xua đuổi, hòa giải, án treo cho các tỳ khưu không có hiện diện? Này các
tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức
tin, ...(như trên)...
Sau khi khiển trách,
ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, không
nên thực thi hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa
giải, hoặc án treo cho các tỳ khưu không có hiện diện; vị nào thực thi
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[586] Một người nói sai
Pháp, nhiều người nói sai Pháp, hội chúng nói sai Pháp. Một người nói
đúng Pháp, nhiều người nói đúng Pháp, hội chúng nói đúng Pháp.
[587] Một người nói sai
Pháp khiến cho một người nói đúng Pháp biết được, khiến cho nhận thức
được, khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến
cho hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo
Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh
tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết không đúng Pháp theo
hình thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Một người nói sai Pháp
khiến cho nhiều người nói đúng Pháp biết được, khiến cho nhận thức được,
khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến cho
hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư,
hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh tụng ấy
được giải quyết như thế là được giải quyết không đúng Pháp theo hình
thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Một người nói sai Pháp
khiến cho hội chúng nói đúng Pháp biết được, khiến cho nhận thức được,
khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến cho
hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư,
hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh tụng ấy
được giải quyết như thế là được giải quyết không đúng Pháp theo hình
thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Nhiều người nói sai Pháp
khiến cho một người nói đúng Pháp biết được, khiến cho nhận thức được,
khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến cho
hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư,
hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh tụng ấy
được giải quyết như thế là được giải quyết không đúng Pháp theo hình
thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Nhiều người nói sai Pháp
khiến cho nhiều người nói đúng Pháp biết được, khiến cho nhận thức được,
khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến cho
hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư,
hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh tụng ấy
được giải quyết như thế là được giải quyết không đúng Pháp theo hình
thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Nhiều người nói sai Pháp
khiến cho hội chúng nói đúng Pháp biết được, khiến cho nhận thức được,
khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến cho
hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư,
hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh tụng ấy
được giải quyết như thế là được giải quyết không đúng Pháp theo hình
thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Hội chúng nói sai Pháp
khiến cho một người nói đúng Pháp biết được, khiến cho nhận thức được,
khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến cho
hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư,
hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh tụng ấy
được giải quyết như thế là được giải quyết không đúng Pháp theo hình
thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Hội chúng nói sai Pháp
khiến cho nhiều người nói đúng Pháp biết được, khiến cho nhận thức được,
khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến cho
hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư,
hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh tụng ấy
được giải quyết như thế là được giải quyết không đúng Pháp theo hình
thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Hội chúng nói sai Pháp
khiến cho hội chúng nói đúng Pháp biết được, khiến cho nhận thức được,
khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến cho
hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư,
hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh tụng ấy
được giải quyết như thế là được giải quyết không đúng Pháp theo hình
thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Dứt chín trường hợp của nửa phần tối.
[588] Một người nói đúng
Pháp khiến cho một người nói sai Pháp biết được, khiến cho nhận thức
được, khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến
cho hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo
Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh
tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách
hành xử Luật với sự hiện diện.
Một người nói đúng Pháp
khiến cho nhiều người nói sai Pháp biết được, khiến cho nhận thức được,
khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến cho
hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư,
hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh tụng ấy
được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách hành xử
Luật với sự hiện diện.
Một người nói đúng Pháp
khiến cho hội chúng nói sai Pháp biết được, khiến cho nhận thức được,
khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến cho
hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư,
hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh tụng ấy
được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách hành xử
Luật với sự hiện diện.
Nhiều người nói đúng
Pháp khiến cho một người nói sai Pháp biết được, khiến cho nhận thức
được, khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến
cho hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo
Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh
tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách
hành xử Luật với sự hiện diện.
Nhiều người nói đúng
Pháp khiến cho nhiều người nói sai Pháp biết được, khiến cho nhận thức
được, khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến
cho hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo
Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh
tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách
hành xử Luật với sự hiện diện.
Nhiều người nói đúng
Pháp khiến cho hội chúng nói sai Pháp biết được, khiến cho nhận thức
được, khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến
cho hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo
Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh
tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách
hành xử Luật với sự hiện diện.
Hội chúng nói đúng Pháp
khiến cho một người nói sai Pháp biết được, khiến cho nhận thức được,
khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến cho
hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư,
hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh tụng ấy
được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách hành xử
Luật với sự hiện diện.
Hội chúng nói đúng Pháp
khiến cho nhiều người nói sai Pháp biết được, khiến cho nhận thức được,
khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến cho
hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư,
hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh tụng ấy
được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách hành xử
Luật với sự hiện diện.
Hội chúng nói đúng Pháp
khiến cho hội chúng nói sai Pháp biết được, khiến cho nhận thức được,
khiến cho thấy được, khiến cho thấy rõ, khiến cho hiểu được, khiến cho
hiểu rõ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư,
hãy chọn lấy điều này, hãy chấp nhận điều này.” Nếu sự tranh tụng ấy
được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách hành xử
Luật với sự hiện diện.
Dứt chín trường hợp của nửa phần sáng.
2. HÀNH XỬ LUẬT BẰNG
SỰ GHI NHỚ (SATIVINAYO):
[589] Lúc bấy giờ, đức
Phật Thế Tôn ngự tại Rājagaha, Veḷuvana (Trúc Lâm), nơi nuôi dưỡng các
con sóc. Vào lúc bấy giờ, phẩm vị A-la-hán đã được đại đức Dabba
Mallaputta chứng đạt vào lúc bảy tuổi. Vị ấy đã thành đạt tất cả những
gì vị đệ tử cần phải chứng đạt. Và đối với vị ấy, không có bất cứ việc
gì cao thượng hơn cần phải làm hoặc sự tích lũy thêm (các việc) đã làm.
[590] Khi ấy, đại đức
Dabba Mallaputta trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm
như vầy đã sanh khởi: “Phẩm vị A-la-hán đã được ta chứng đạt vào lúc
bảy tuổi. Ta đã thành đạt tất cả những gì vị đệ tử cần phải chứng đạt.
Và đối với ta, không có bất cứ việc gì cao thượng hơn cần phải làm hoặc
sự tích lũy thêm (các việc) đã làm. Vậy ta nên thực hiện việc phục vụ gì
cho hội chúng?” Rồi điều này đã khởi đến cho đại đức Dabba
Mallaputta: “Hay là ta nên phân bố chỗ cư ngụ và sắp xếp các bữa ăn
cho hội chúng?”
[591] Sau đó vào buổi
tối, đại đức Dabba Mallaputta đã xuất khỏi thiền tịnh và đi đến gặp đức
Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên.
Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Dabba Mallaputta đã nói với đức Thế
Tôn điều này:
- Bạch ngài, trường hợp
con trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã
sanh khởi: “Phẩm vị A-la-hán đã được ta chứng đạt vào lúc bảy tuổi.
Ta đã thành đạt tất cả những gì vị đệ tử cần phải chứng đạt. Và đối với
ta, không có bất cứ việc gì cao thượng hơn cần phải làm hoặc sự tích lũy
thêm (các việc) đã làm. Vậy ta nên thực hiện việc phục vụ gì cho hội
chúng?” Bạch ngài, rồi điều này đã khởi đến cho con: “Hay là ta
nên phân bố chỗ cư ngụ và sắp xếp các bữa ăn cho hội chúng?” Bạch
ngài, con muốn phân bố chỗ cư ngụ và sắp xếp các bữa ăn cho hội chúng.
- Này Dabba, tốt lắm,
tốt lắm! Chính vì điều ấy ngươi hãy phân bố chỗ cư ngụ và sắp xếp các
bữa ăn cho hội chúng.
- Bạch ngài, xin vâng.
Đại đức Dabba Mallaputta đã đáp lời đức Thế Tôn.
[592] Sau đó, đức Thế
Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các vị tỳ
khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, chính
vì điều ấy hội chúng hãy chỉ định Dabba Mallaputta là vị phân bố chỗ trú
ngụ và là vị sắp xếp các bữa ăn. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như
vầy: Trước hết, Dabba cần được yêu cầu. Sau khi yêu cầu, hội chúng cần
được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng,
hội chúng nên chỉ định đại đức Dabba Mallaputta là
vị phân bố chỗ trú ngụ và là vị sắp xếp các
bữa ăn. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định đại đức Dabba Mallaputta
là vị phân bố chỗ trú ngụ và là vị sắp xếp các bữa ăn. Đại đức nào đồng
ý việc chỉ định đại đức Dabba Mallaputta là vị phân bố chỗ trú ngụ và là
vị sắp xếp các bữa ăn xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Đại đức Dabba
Mallaputta đã được hội chúng chỉ định là vị phân bố chỗ trú ngụ và là vị
sắp xếp các bữa ăn. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi
ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[593] Và khi đã được chỉ
định, đại đức Dabba Mallaputta phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho
các tỳ khưu có cùng sở hành. Vị ấy phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực
cho các tỳ khưu chuyên về Kinh (nghĩ rằng): “Các vị sẽ tụng đọc Kinh
với nhau.” Vị ấy phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các tỳ
khưu rành rẽ về Luật (nghĩ rằng): “Các vị sẽ xác định về Luật với
nhau.” Vị ấy phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các tỳ khưu
chuyên giảng Pháp (nghĩ rằng): “Các vị sẽ thảo luận về Pháp với nhau.”
Vị ấy phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các tỳ khưu chuyên thiền
định (nghĩ rằng): “Các vị sẽ không quấy rầy lẫn nhau.” Vị ấy phân
bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các tỳ khưu chuyên nói chuyện thế
tục, sinh hoạt có nhiều sự năng động về thân (nghĩ rằng): “Các đại
đức này cũng sẽ yên ổn với thú vui ấy.” Còn các tỳ khưu đi đến vào
buổi tối, vị ấy nhập thiền đề mục ánh sáng và phân bố chỗ trú ngụ cho
các vị ấy bằng chính ánh sáng ấy. Cho nên các tỳ khưu cố ý đi đến vào
buổi tối (nghĩ rằng): “Chúng ta sẽ chứng kiến sự kỳ diệu về thần
thông của đại đức Dabba Mallaputta.” Sau khi đi đến gặp đại đức
Dabba Mallaputta, các vị ấy nói như vầy:
- Này đại đức Dabba, hãy
phân bố chỗ trú ngụ cho chúng tôi.
Đại đức Dabba Mallaputta
nói với các vị ấy như vầy:
- Các đại đức thích chỗ
nào? Tôi sẽ phân bố chỗ nào?
Các vị ấy cố ý đề cập
các chỗ ở xa xôi:
- Này đại đức Dabba, hãy
phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu). Này đại
đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở khe núi Kẻ Cướp. Này
đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở sườn núi Isigili,
chỗ tảng đá Đen. Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú
ngụ ở sườn núi Vebhāra, hang Sattapaṇṇa (Thất Diệp).
Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho
chúng tôi chỗ trú ngụ ở Sītavana (Hàn Lâm), động Sappasoṇḍika. Này đại
đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở hẽm núi Gomaṭa.
Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho
chúng tôi chỗ trú ngụ ở hẽm núi Tiṇḍuka.
Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho
chúng tôi chỗ trú ngụ ở hẽm núi Kapota.
Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho
chúng tôi chỗ trú ngụ ở khu vườn Tapoda.
Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho
chúng tôi chỗ trú ngụ ở vườn xoài của Jīvaka.
Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho
chúng tôi chỗ trú ngụ ở Maddakucchi, nơi vườn nai.
Đối với các vị ấy, đại
đức Dabba Mallaputta đã nhập thiền đề mục ánh sáng và đi ở phía trước
với ngón tay được thắp sáng. Chính nhờ ánh sáng ấy, các vị ấy đi theo
sát ở phía sau đại đức Dabba Mallaputta. Đại đức Dabba Mallaputta phân
bố chỗ trú ngụ cho các vị ấy như vầy:
- Đây là giường, đây là
ghế, đây là nệm, đây là gối, đây là chỗ tiêu, đây là chỗ tiểu, đây là
nước uống, đây là nước rửa, đây là gậy chống, đây là qui định của hội
chúng: “Giờ này có thể đi vào. Giờ này có thể đi ra.”
Sau khi đã phân bố chỗ
trú ngụ cho các vị ấy như thế, đại đức Daba Mallaputta quay trở về lại
Veḷuvana.
[594] Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka
[1]
chỉ là các vị mới tu và phước báu ít ỏi. Các vị ấy thường nhận được
những chỗ trú ngụ kém thuộc về hội chúng và những bữa ăn tồi. Vào lúc
bấy giờ, dân chúng ở Rājagaha mong muốn cúng dường đến các tỳ khưu
trưởng lão thức ăn được chuẩn bị hoàn hảo gồm có bơ lỏng, dầu ăn, phần
ăn ngon, và thường dâng đến các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka vật
bình thường theo khả năng gồm có cơm tấm và món thứ hai là cháo chua.
Các vị ấy khi đi thọ thực về sau bữa ăn thường hỏi các tỳ khưu trưởng
lão rằng:
- Này các đại đức, trong
nhà ăn các vị đã có thức gì? Các vị đã không có thức gì?
Một số trưởng lão trả
lời như vầy:
- Này các đại đức, chúng
tôi có bơ lỏng, có dầu ăn, có phần ăn ngon.
Các tỳ khưu nhóm Mettiya
và Bhummajaka nói như vầy:
- Này các đại đức, chúng
tôi đã không được gì cả, chỉ là vật bình thường theo khả năng gồm có cơm
tấm và món thứ hai là cháo chua.
[595] Vào lúc bấy giờ,
có vị gia chủ là người có bữa ăn ngon thường cúng dường đến hội chúng
bữa ăn gồm bốn phần là bữa ăn thường lệ. Vị ấy cùng vợ và các con thường
hiện diện và phục vụ ở nhà ăn. Họ dâng các vị này cơm, dâng các vị kia
canh, dâng các vị nọ dầu ăn, và dâng các vị khác phần ăn ngon.
[596] Vào lúc bấy giờ,
bữa ăn vào ngày hôm sau của vị gia chủ có bữa ăn ngon đã được sắp xếp
cho các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka. Hôm ấy, vị gia chủ có bữa ăn
ngon đã đi đến tu viện do công việc cần làm nào đó. Vị ấy đã đi đến gặp
đại đức Dabba Mallaputta, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Dabba
Mallaputta rồi ngồi xuống ở một bên. Đại đức Dabba Mallaputta đã chỉ
dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho vị gia chủ có
bữa ăn ngon đang ngồi một bên bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được
đại đức Dabba Mallaputta chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm
phấn khởi bằng bài Pháp thoại, vị gia chủ có bữa ăn ngon đã nói với đại
đức Dabba Mallaputta điều này:
- Thưa ngài, bữa ăn vào
ngày mai ở nhà chúng tôi đã được sắp xếp cho vị nào?
- Này gia chủ, bữa ăn
vào ngày mai ở nhà gia chủ đã được sắp xếp cho các tỳ khưu nhóm Mettiya
và Bhummajaka.
Khi ấy, vị gia chủ có
bữa ăn ngon đã không được hài lòng (nghĩ rằng): “Tại sao các tỳ khưu
tồi lại thọ thực ở nhà của chúng ta?” rồi đã đi về nhà và dặn dò
người tớ gái rằng:
- Này con, hãy xếp đặt
chỗ ngồi ở nhà kho cho các vị đến thọ thực vào ngày mai và dâng cho họ
cơm tấm và món thứ hai là cháo chua.
- Thưa chủ nhân, xin
vâng. Người tớ gái ấy đã đáp lại vị gia chủ có bữa ăn ngon.
Khi ấy, các tỳ khưu nhóm
Mettiya và Bhummajaka (bàn bạc rằng): “Này các đại đức, hôm qua bữa
ăn của vị gia chủ là người có bữa ăn ngon đã được sắp xếp cho chúng ta.
Vào ngày mai, vị gia chủ có bữa ăn ngon cùng vợ và các con sẽ hiện diện
và phục vụ chúng ta. Họ sẽ dâng các vị này cơm, sẽ dâng các vị kia canh,
sẽ dâng các vị nọ dầu ăn, và sẽ dâng các vị khác phần ăn ngon.” Do
chính tâm vui mừng ấy, ban đêm các vị đã không ngủ được như ý.
Sau đó vào buổi sáng,
các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã mặc y, cầm y bát, đi đến nhà
của vị gia chủ có bữa ăn ngon. Cô tớ gái ấy đã nhìn thấy các tỳ khưu
nhóm Mettiya và Bhummajaka từ đàng xa đang đi lại, sau khi thấy đã xếp
đặt chỗ ngồi ở nhà kho và nói với các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka
điều này:
- Thưa các ngài, xin
hãy ngồi.
Khi ấy, các tỳ khưu nhóm
Mettiya và Bhummajaka khởi ý rằng: “Chắn hẳn đến giờ này bữa ăn vẫn
chưa hoàn tất nên chúng ta mới được cho ngồi ở nhà kho như thế này!”
Sau đó, cô tớ gái ấy đã trở lại với cơm tấm và món thứ hai là cháo chua
(nói rằng):
- Thưa các ngài, xin hãy
thọ thực.
- Này chị, chúng tôi là
các vị thọ nhận bữa ăn thường lệ.
- Tôi biết các ngài đại
đức là các vị thọ nhận bữa ăn thường lệ. Tuy nhiên, chính ngày hôm qua
tôi đã được gia chủ dặn dò rằng: “Hãy xếp đặt chỗ ngồi ở nhà kho cho
các vị đến thọ thực vào ngày mai và dâng cho họ cơm tấm và món thứ hai
là cháo chua.” Thưa các ngài, xin hãy thọ thực.
Khi ấy, các tỳ khưu nhóm
Mettiya và Bhummajaka (bàn bạc rằng): “Này các đại đức, hôm qua vị
gia chủ có bữa ăn ngon đã đi đến tu viện gặp Dabba Mallaputta. Chắc chắn
rằng chúng ta đã bị Dabba Mallaputta ly gián với vị gia chủ!” Chính
vì tâm bực bội ấy, các vị ấy đã không thọ thực được như ý. Sau đó, khi
trở về từ chỗ thọ thực sau bữa ăn, các tỳ khưu nhóm Mettiya và
Bhummajaka đã đi đến tu viện, bỏ rơi y bát, rồi ngồi xuống ôm đầu gối
bằng y hai lớp (saṅghāṭipallatthikāya) ở phía bên ngoài cổng ra vào của
tu viện, im lặng, xấu hổ, rút vai lại, mặt cúi xuống, trầm ngâm, không
nói năng.
Khi ấy, tỳ khưu ni
Mettiyā đã đi đến gặp các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka, sau khi
đến đã nói với các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka điều này:
- Tôi xin chào các ngài
đại đức.
Khi được nói như thế,
các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã không đáp lại.
Đến lần thứ nhì, …(như
trên)…
Đến lần thứ ba, tỳ khưu
ni Mettiyā đã nói với các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka điều này:
- Tôi xin chào các ngài
đại đức.
Đến lần thứ ba, các tỳ
khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã không đáp lại.
- Có phải tôi làm phật
lòng các ngài đại đức? Tại sao các ngài đại đức không nói chuyện với
tôi?
- Này cô ni, bởi vì cô
vẫn dửng dưng như thế trong khi chúng tôi bị Dabba Mallaputta làm tổn
hại.
- Thưa các ngài đại đức,
tôi làm được điều gì?
- Này cô ni, nếu cô chịu
làm thì ngay trong ngày hôm nay đức Thế Tôn có thể trục xuất Dabba
Mallaputta.
- Thưa các ngài đại đức,
tôi làm được điều gì? Tôi có thể làm điều gì?
- Này cô ni, cô hãy đi
đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến hãy nói với đức Thế Tôn như vầy: “Bạch
ngài, điều này là không đúng đắn, không hợp lý. Bạch ngài, chính ở quốc
độ nào không có sự sợ hãi, không có tai họa, không có sầu khổ thì chính
ở quốc độ ấy có sự sợ hãi, có tai họa, và có sầu khổ. Từ nơi nào gió
lặng đi thì từ nơi ấy có bão tố. Con nghĩ rằng nước đã bùng cháy lên
rồi; con đã bị ô nhục bởi ngài đại đức Dabba Mallaputta.”
- Thưa các ngài đại đức,
xin vâng.
Rồi tỳ khưu ni Mettiyā
nghe theo các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã đi đến gặp đức Thế
Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng
một bên, tỳ khưu ni Mettiyā đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, điều này là
không đúng đắn, không hợp lý. Bạch ngài, chính ở quốc độ nào không có sự
sợ hãi, không có tai họa, không có sầu khổ thì chính ở quốc độ ấy có sự
sợ hãi, có tai họa, và có sầu khổ. Từ nơi nào gió lặng đi thì từ nơi ấy
có bão tố. Con nghĩ rằng nước đã bùng cháy lên rồi; con đã bị ô nhục bởi
ngài đại đức Dabba Mallaputta.
[597] Khi ấy, đức Thế
Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và
đã hỏi đại đức Dabba Mallaputta rằng:
- Này Dabba, ngươi có
nhớ ngươi là kẻ đã làm việc như thế, giống như điều tỳ khưu ni này vừa
nói không?
- Bạch ngài, con như thế
nào đức Thế Tôn biết rõ mà.
Đến lần thứ nhì, đức Thế
Tôn ...(như trên)...
Đến lần thứ ba, đức Thế
Tôn đã hỏi đại đức Dabba Mallaputta rằng:
- Này Dabba, ngươi có
nhớ ngươi là kẻ đã làm việc như thế, giống như điều tỳ khưu ni này vừa
nói không?
- Bạch ngài, con như thế
nào đức Thế Tôn biết rõ mà.
- Này Dabba, các vị
(dòng dõi) Dabba không phủ nhận như thế. Nếu ngươi có làm, hãy nói: “Có
làm;” nếu ngươi không làm, hãy nói: “Không làm.”
- Bạch ngài, từ khi con
được sanh ra, con không bao giờ thấy mình là kẻ tầm cầu việc đôi lứa
ngay cả trong lúc ngủ mơ, huống gì là tỉnh thức.
Khi ấy, đức Thế Tôn đã
bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, chính
vì việc ấy các ngươi hãy trục xuất tỳ khưu ni Mettiyā và hãy tra hỏi các
tỳ khưu này.
Nói xong điều ấy, đức
Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào trú xá.
Sau đó, các tỳ khưu ấy
đã trục xuất tỳ khưu ni Mettiyā. Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Mettiya và
Bhummajaka đã nói với các tỳ khưu ấy điều này:
- Này các đại đức, chớ
có trục xuất tỳ khưu ni Mettiyā, cô ta không làm sai điều gì.Vì chúng
tôi nổi giận, không hài lòng, có ý định loại trừ nên xúi giục cô ta
thôi.
- Này các đại đức, có
phải các vị bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta với sự hư hỏng về giới
không có nguyên cớ?
- Này các đại đức, đúng
vậy.
Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu
nhóm Mettiya và Bhummajaka lại bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta với sự
hư hỏng về giới không có nguyên cớ?
Sau đó, các vị tỳ khưu
ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, nghe
nói các tỳ khưu Mettiya và Bhummajaka bôi nhọ Dabba Mallaputta với sự hư
hỏng về giới không có nguyên cớ, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng
vậy.
…(như trên)… Sau khi
khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, chính
vì việc ấy hội chúng hãy ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến
Dabba Mallaputta là vị thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ.[2]
Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, Dabba
Mallaputta ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở
chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên
nói như vầy:
“Bạch các ngài, các
tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka này bôi nhọ tôi với sự hư hỏng về
giới không có nguyên cớ. Bạch các ngài, là người thành tựu đầy đủ về sự
ghi nhớ tôi đây cầu xin hội chúng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ.
Nên cầu xin đến lần
thứ nhì. Nên cầu xin đến lần thứ ba:
Bạch các ngài, các tỳ
khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka này bôi nhọ tôi với sự hư hỏng về giới
không có nguyên cớ. Bạch các ngài, là người thành tựu đầy đủ về sự ghi
nhớ tôi đây cầu xin hội chúng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ lần thứ
ba.”
[598] Hội chúng cần được
thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka này
bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta với sự hư hỏng về giới không có nguyên
cớ. Là vị thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ, đại đức Dabba Mallaputta cầu
xin hội chúng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ. Nếu là thời điểm thích
hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi
nhớ đến đại đức Dabba Mallaputta là vị thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ.
Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka này
bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta với sự hư hỏng về giới không có nguyên
cớ. Là vị thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ, đại đức Dabba Mallaputta cầu
xin hội chúng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ. Hội chúng ban cho cách
hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến đại đức Dabba Mallaputta là vị thành
tựu đầy đủ về sự ghi nhớ. Đại đức nào đồng ý việc ban cho cách hành xử
Luật bằng sự ghi nhớ đến đại đức Dabba Mallaputta là vị thành tựu đầy đủ
về sự ghi nhớ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ nhì: …(như trên)…
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các
tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka này bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta
với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Là vị thành tựu đầy đủ về sự
ghi nhớ, đại đức Dabba Mallaputta cầu xin hội chúng cách hành xử Luật
bằng sự ghi nhớ. Hội chúng ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến
đại đức Dabba Mallaputta là vị thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ. Đại đức
nào đồng ý việc ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến đại đức
Dabba Mallaputta là vị thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ xin im lặng; vị
nào không đồng ý có thể nói lên.
Cách hành xử Luật
bằng sự ghi nhớ đã được hội chúng ban cho đại đức Dabba Mallaputta là vị
thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im
lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[599] Này các tỳ khưu,
đây là năm sự ban cho đúng Pháp của cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ:
Vị tỳ khưu được trong sạch không có phạm tội, các vị (khác) vu cáo vị
ấy, vị ấy cầu xin, hội chúng ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ
đến vị ấy đúng Pháp, với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, đây là năm sự ban
cho đúng Pháp của cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ.
3. HÀNH XỬ LUẬT KHI
KHÔNG ĐIÊN CUỒNG (AMŪḶHAVINAYO):
[600] Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu Gagga bị điên và bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là
sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi vị ấy khi bị
điên, bị thay đổi tâm tính. Các tỳ khưu khiển trách tỳ khưu Gagga với
tội đã được thực hiện (bởi vị ấy) khi bị điên, bị thay đổi tâm tính:
- Này đại đức, hãy nhớ
là có phạm tội như thế này không?
Vị ấy nói như vầy:
- Này các đại đức, tôi
đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là sa-môn
bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị
thay đổi tâm tính. Tôi không nhớ được điều ấy. Điều ấy đã được làm bởi
tôi khi điên cuồng.
Mặc dầu được vị ấy nói
như vậy, các vị vẫn khiển trách rằng:
- Này đại đức, hãy nhớ
là có phạm tội như thế này không?
Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu lại
khiển trách tỳ khưu Gagga với tội đã được thực hiện khi vị ấy bị điên,
bị thay đổi tâm tính: “Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội như thế
này không?” Vị ấy nói như vầy: “Này các đại đức, tôi đã bị điên,
đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là sa-môn bằng lời nói và
hành động đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm
tính. Tôi không nhớ được điều ấy. Điều ấy đã được làm bởi tôi khi điên
cuồng.” Mặc dầu được vị ấy nói như vậy, các vị vẫn khiển trách rằng:
“Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội như thế này không?”
Sau đó, các vị tỳ khưu
ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, nghe
nói các tỳ khưu …(như trên)…, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng
vậy.
…(như trên)…
Sau khi khiển trách,
ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, chính
vì việc ấy hội chúng hãy ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng
đến tỳ khưu Gagga khi không điên cuồng. Và này các tỳ khưu, nên ban cho
như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Gagga ấy nên đi đến hội chúng, đắp
thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi
chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:
“Bạch các ngài, tôi
đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là sa-môn
bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị
thay đổi tâm tính. Các tỳ khưu khiển trách tôi với tội đã được thực hiện
khi bị điên, bị thay đổi tâm tính: ‘Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội
như thế này không?’ Tôi nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã bị điên,
đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là sa-môn bằng lời nói và
hành động đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm
tính. Tôi không nhớ được điều ấy. Điều ấy đã được làm bởi tôi khi điên
cuồng.’ Mặc dầu được tôi nói như vậy, các vị vẫn khiển trách rằng: ‘Này
đại đức, hãy nhớ là có phạm tội như thế này không?’ Bạch các ngài, giờ
không điên cuồng tôi đây cầu xin hội chúng cách hành xử Luật khi không
điên cuồng.
Nên cầu xin đến lần
thứ nhì. ...(như trên)...
Nên cầu xin đến lần
thứ ba: Bạch các ngài, tôi đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều
việc không xứng là sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện
bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Các tỳ khưu khiển trách
tôi với tội đã được thực hiện khi bị điên, bị thay đổi tâm tính: ‘Này
đại đức, hãy nhớ là có phạm tội như thế này không?’ Tôi nói như vầy:
‘Này các đại đức, tôi đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc
không xứng là sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi tôi
đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Tôi không nhớ được điều ấy. Điều
ấy đã được làm bởi tôi khi điên cuồng.’ Mặc dầu được tôi nói như vậy,
các vị vẫn khiển trách rằng: ‘Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội như
thế này không?’ Bạch các ngài, giờ không điên cuồng tôi đây cầu xin hội
chúng cách hành xử Luật khi không điên cuồng lần thứ ba.”
[601] Hội chúng cần được
thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Gagga này đã bị điên, đã bị thay
đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là sa-môn bằng lời nói và hành động
đã được thực hiện bởi vị ấy khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Các tỳ
khưu khiển trách tỳ khưu Gagga với tội đã được thực hiện khi bị điên, bị
thay đổi tâm tính: ‘Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội như thế này
không?’ Vị ấy nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã bị điên, đã bị thay
đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là sa-môn bằng lời nói và hành động
đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Tôi
không nhớ được điều ấy. Điều ấy đã được làm bởi tôi khi điên cuồng.’ Mặc
dầu được vị ấy nói như vậy, các vị vẫn khiển trách rằng: ‘Này đại đức,
hãy nhớ là có phạm tội như thế này không?’ Vị ấy giờ không điên cuồng
nên cầu xin hội chúng cách hành xử Luật khi không điên cuồng. Nếu là
thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho cách hành xử
Luật khi không điên cuồng đến tỳ khưu Gagga khi không điên cuồng. Đây là
lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Gagga này đã bị điên, đã bị thay
đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là sa-môn bằng lời nói và hành động
đã được thực hiện bởi vị ấy khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Các tỳ
khưu khiển trách tỳ khưu Gagga với tội đã được thực hiện khi bị điên, bị
thay đổi tâm tính: ‘Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội như thế này
không?’ Vị ấy nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã bị điên, đã bị thay
đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là sa-môn bằng lời nói và hành động
đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Tôi
không nhớ được điều ấy. Điều ấy đã được làm bởi tôi khi điên cuồng.’ Mặc
dầu được vị ấy nói như vậy, các vị vẫn khiển trách rằng: ‘Này đại đức,
hãy nhớ là có phạm tội như thế này không?’ Vị ấy giờ không điên cuồng
nên cầu xin hội chúng cách hành xử Luật khi không điên cuồng. Hội chúng
ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến tỳ khưu Gagga khi
không điên cuồng. Đại đức nào đồng ý việc ban cho cách hành xử Luật khi
không điên cuồng đến tỳ khưu Gagga khi không điên cuồng xin im lặng; vị
nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ nhì: …(như trên)…
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ ba: …(như trên)…
Cách hành xử Luật khi
không điên cuồng đã được hội chúng ban cho tỳ khưu Gagga khi không điên
cuồng. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự
việc này là như vậy.”
[602] Này các tỳ khưu,
đây là ba sự ban cho không đúng Pháp của cách hành xử Luật khi không
điên cuồng, ba (sự ban cho) là đúng Pháp.
Thế nào là ba sự ban cho
không đúng Pháp của cách hành xử Luật khi không điên cuồng?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu vi phạm tội. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị
khiển trách vị ấy về điều ấy: “Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội
như thế này không?” Vị ấy dầu có nhớ, vẫn nói như vầy: “Này các
đại đức, tôi không nhớ là đã phạm tội như thế.” Hội chúng ban cho
cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến vị ấy. Việc ban cho cách hành
xử Luật khi không điên cuồng là không đúng Pháp.
[603] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu vi phạm tội. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị
khiển trách vị ấy về điều ấy: “Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội
như thế này không?” Vị ấy dầu có nhớ, vẫn nói như vầy: “Này các
đại đức, tôi nhớ như là từ giấc mơ vậy.” Hội chúng ban cho cách hành
xử Luật khi không điên cuồng đến vị ấy. Việc ban cho cách hành xử Luật
khi không điên cuồng là không đúng Pháp.
[604] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu vi phạm tội. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị
khiển trách vị ấy về điều ấy: “Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội
như thế này không?” Vị ấy, là vị không bị điên, (giả vờ) hành động
trên cơ sở bị điên (nói rằng): “Tôi cũng làm như thế. Các vị cũng làm
như thế. Điều ấy cũng được phép đối với tôi. Điều ấy cũng được phép đối
với các vị.” Hội chúng ban cho cách hành xử Luật khi không điên
cuồng đến vị ấy. Việc ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng là
không đúng Pháp.
Đây là ba sự ban cho
không đúng Pháp của cách hành xử Luật khi không điên cuồng.
[605] Thế nào là ba sự
ban cho đúng Pháp của cách hành xử Luật khi không điên cuồng?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu bị điên, bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không
xứng là sa-môn bằng lời nói và hành động được thực hiện bởi vị ấy khi bị
điên, bị thay đổi tâm tính. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển
trách vị ấy về điều ấy: “Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội như thế
này không?” Vị ấy không nhớ được nên nói như vầy: “Này các đại
đức, tôi không nhớ được là đã phạm tội như thế.” Hội chúng ban cho
cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến vị ấy. Việc ban cho cách hành
xử Luật khi không điên cuồng là đúng Pháp.
[606] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu bị điên, bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không
xứng là sa-môn bằng lời nói và hành động được thực hiện bởi vị ấy khi bị
điên, bị thay đổi tâm tính. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển
trách vị ấy về điều ấy: “Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội như thế
này không?” Vị ấy không nhớ được nên nói như vầy: “Này các đại
đức, tôi nhớ như là từ giấc mơ vậy.” Hội chúng ban cho cách hành xử
Luật khi không điên cuồng đến vị ấy. Việc ban cho cách hành xử Luật khi
không điên cuồng là đúng Pháp.
[607] Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu bị điên, bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không
xứng là sa-môn bằng lời nói và hành động được thực hiện bởi vị ấy khi bị
điên, bị thay đổi tâm tính. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển
trách vị ấy về điều ấy: “Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội như thế
này không?” Vị ấy là vị bị điên, hành động trên cơ sở bị điên (nói
rằng): “Tôi cũng làm như thế. Các vị cũng làm như thế. Điều ấy cũng
được phép đối với tôi. Điều ấy cũng được phép đối với các vị.” Hội
chúng ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến vị ấy. Việc ban
cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng là đúng Pháp.
Đây là ba sự ban cho
đúng Pháp của cách hành xử Luật khi không điên cuồng.
4. VIỆC PHÁN XỬ THEO
TỘI ĐÃ ĐƯỢC THỪA NHẬN (PAṬIÑÑĀTAKARAṆAṂ):
[608] Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu nhóm Lục Sư thực thi các hành sự khiển trách, chỉ dạy, xua
đuổi, hòa giải, và án treo đối với các tỳ khưu không có sự thừa nhận.
Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê
bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu
nhóm Lục Sư lại thực thi các hành sự khiển trách, chỉ dạy, xua đuổi, hòa
giải, và án treo đối các tỳ khưu không có sự thừa nhận?
Sau đó, các vị tỳ khưu
ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, nghe
nói …(như trên)…, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng
vậy.
…(như trên)…
Sau khi khiển trách,
ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, hành
sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo
không nên thực thi đối với các tỳ khưu không có sự thừa nhận; vị nào
thực thi thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[609] Này các tỳ khưu,
việc phán xử theo tội đã được thừa nhận như vầy là không đúng Pháp, như
vầy là đúng Pháp.
Và này các tỳ khưu, thế
nào là việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là không đúng Pháp?
- Vị tỳ khưu phạm tội
pārājika (bất cộng trụ). Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển
trách vị ấy về điều ấy: “Có phải đại đức đã phạm tội pārājika?”
Vị ấy nói như vầy: “Này các đại đức, tôi đã không phạm tội
pārājika, tôi đã phạm tội saṅghādisesa (Tăng tàng).” Hội chúng hành
sự cho vị ấy với tội saṅghādisesa. Việc phán xử theo tội đã được
thừa nhận là không đúng Pháp.
Vị tỳ khưu phạm tội
pārājika. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về
điều ấy: “Có phải đại đức đã phạm tội pārājika?” Vị ấy nói
như vầy: “Này các đại đức, tôi đã không phạm tội pārājika, tôi đã
phạm tội thullaccaya (trọng tội).” Hội chúng hành sự cho vị ấy với
tội thullaccaya. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là không
đúng Pháp.
Vị tỳ khưu phạm tội
pārājika. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về
điều ấy: “Có phải đại đức đã phạm tội pārājika?” Vị ấy nói
như vầy: “Này các đại đức, tôi đã không phạm tội pārājika, tôi đã
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” Hội chúng hành sự cho vị ấy với
tội pācittiya. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là không
đúng Pháp.
Vị tỳ khưu phạm tội
pārājika. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về
điều ấy: “Có phải đại đức đã phạm tội pārājika?” Vị ấy nói
như vầy: “Này các đại đức, tôi đã không phạm tội pārājika, tôi đã
phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).” Hội chúng hành sự cho vị ấy
với tội pāṭidesanīya. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là
không đúng Pháp.
Vị tỳ khưu phạm tội
pārājika. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về
điều ấy: “Có phải đại đức đã phạm tội pārājika?” Vị ấy nói
như vầy: “Này các đại đức, tôi đã không phạm tội pārājika, tôi đã
phạm tội dukkaṭa (tác ác).” Hội chúng hành sự cho vị ấy với tội
dukkaṭa. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là không đúng Pháp.
Vị tỳ khưu phạm tội
pārājika. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về
điều ấy: “Có phải đại đức đã phạm tội pārājika?” Vị ấy nói
như vầy: “Này các đại đức, tôi đã không phạm tội pārājika, tôi đã
phạm tội dubbhāsita (ác khẩu).” Hội chúng hành sự cho vị ấy với tội
dubbhāsita. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là không đúng
Pháp.
Vị tỳ khưu phạm tội
saṅghādisesa. …(như trên)… tội thullaccaya. …(như trên)… tội
pācittiya. …(như trên)… tội pāṭidesanīya. …(như trên)… tội
dukkaṭa. …(như trên)… tội dubbhāsita. Hội chúng, hoặc
nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: “Có phải đại đức
đã phạm tội dubbhāsita?” Vị ấy nói như vầy: “Này các đại
đức, tôi đã không phạm tội dubbhāsita, tôi đã phạm tội pārājika.”
Hội chúng hành sự cho vị ấy với tội pārājika. Việc phán xử theo
tội đã được thừa nhận là không đúng Pháp.
Vị tỳ khưu phạm tội
dubbhāsita. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy
về điều ấy: “Có phải đại đức đã phạm tội dubbhāsita?” Vị
ấy nói như vầy: “Này các đại đức, tôi đã không phạm tội dubbhāsita,
tôi đã phạm tội saṅghādisesa.…(như trên)… tội thullaccaya. …(như trên)…
tội pācittiya. …(như trên)… tội pāṭidesanīya. …(như trên)… tội dukkaṭa.”
Hội chúng hành sự cho vị ấy với tội dukkaṭa. Việc phán xử theo
tội đã được thừa nhận là không đúng Pháp.
Này các tỳ khưu, việc
phán xử theo tội đã được thừa nhận như thế gọi là không đúng Pháp.
[610] Này các tỳ khưu,
thế nào là việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là đúng Pháp?
- Vị tỳ khưu phạm tội
pārājika. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về
điều ấy: “Có phải đại đức đã phạm tội pārājika?” Vị ấy nói
như vầy: “Này các đại đức, tôi đã phạm tội pārājika.” Hội chúng
hành sự cho vị ấy với tội pārājika. Việc phán xử theo tội đã được
thừa nhận là đúng Pháp.
Vị tỳ khưu phạm tội
saṅghādisesa. …(như trên)… tội thullaccaya. …(như trên)… tội
pācittiya. …(như trên)… tội pāṭidesanīya. …(như trên)… tội
dukkaṭa. …(như trên)… tội dubbhāsita. Hội chúng, hoặc
nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: “Có phải đại đức
đã phạm tội dubbhāsita?” Vị ấy nói như vầy: “Này các đại
đức, tôi đã phạm tội dubbhāsita.” Hội chúng hành sự cho vị ấy với
tội dubbhāsita. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là đúng
Pháp.
Này các tỳ khưu, việc
phán xử theo tội đã được thừa nhận như thế gọi là đúng Pháp.
5. THUẬN THEO SỐ ĐÔNG
(YEBHUYYASIKĀ):
[611] Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu sống có nảy sinh các sự xung đột giữa hội chúng, có nảy sinh
các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, và làm tổn thương lẫn nhau bằng các vũ
khí mồm miệng. Họ không thể giải quyết sự tranh tụng ấy. Các vị tỳ khưu
ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta
cho phép giải quyết sự tranh tụng có hình thức như thế thuận theo số
đông. Vị tỳ khưu hội đủ năm điều kiện nên được chỉ định làm vị phân phát
thẻ (salākaggāhāpako): là vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích,
không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si
mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, và là vị biết (thẻ) đã được
nhận hay đã không được nhận.
Và này các tỳ khưu, nên
chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu
cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng
lực:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng,
hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân phát thẻ. Đây
là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định tỳ khưu tên (như vầy) là
vị phân phát thẻ. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định tỳ khưu tên (như vầy)
là vị phân phát thẻ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tỳ khưu tên (như vầy)
đã được hội chúng chỉ định là vị phân phát thẻ. Sự việc được hội chúng
đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[612] Này các tỳ khưu,
đây là mười sự phân phát thẻ không đúng Pháp, mười (sự phân phát thẻ)
đúng Pháp.
Thế nào là mười sự phân
phát thẻ không đúng Pháp?
- Khi sự tranh tụng là
việc nhỏ nhặt, chưa đến mức phải xử lý,[3]
không được nhớ lại hoặc (không được) làm cho nhớ lại, (vị phân phát thẻ)
biết rằng: “Các vị nói sai Pháp là nhiều hơn,” (nghĩ rằng): “Có
lẽ các vị nói sai Pháp là nhiều hơn,” biết rằng: “Hội chúng sẽ bị
chia rẽ,” (nghĩ rằng): “Có lẽ hội chúng sẽ bị chia rẽ,” các
vị nhận lãnh thẻ không được hợp lệ, các vị có sự chia phe nhóm khi nhận
lãnh thẻ, các vị nhận lãnh không theo quan điểm (của bản thân).
Đây là mười sự phân phát
thẻ không đúng Pháp.
[613] Thế nào là mười sự
phân phát thẻ đúng Pháp?
- Khi sự tranh tụng
không phải là việc nhỏ nhặt, đã đến mức phải xử lý, được nhớ lại hoặc
(được) làm cho nhớ lại, (vị phân phát thẻ) biết rằng: “Các vị nói
đúngPháp là nhiều hơn,” (nghĩ rằng): “Có lẽ các vị nói đúng Pháp
là nhiều hơn,” biết rằng: “Hội chúng sẽ không bị chia rẽ,”
(nghĩ rằng): “Có lẽ hội chúng sẽ không bị chia rẽ,” các vị nhận
lãnh thẻ một cách hợp lệ, các vị có sự hợp nhất khi nhận lãnh thẻ, các
vị nhận lãnh theo quan điểm (của bản thân).
Đây là mười sự phân phát
thẻ đúng Pháp.
6. THEO TỘI CỦA VỊ ẤY
(TASSAPĀPIYASIKĀ):
[614] Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu Upavāḷa trong khi được thẩm vấn về tội giữa hội chúng đã phủ
nhận rồi lại thừa nhận, đã thừa nhận rồi lại phủ nhận, tránh né tội ấy
bằng một tội khác, cố tình nói lời dối trá. Các tỳ khưu ít ham muốn
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao tỳ khưu Upavāḷa
trong khi được thẩm vấn về tội giữa hội chúng đã phủ nhận rồi lại thừa
nhận, đã thừa nhận rồi lại phủ nhận, tránh né tội ấy bằng một tội khác,
cố tình nói lời dối trá?
Sau đó, các tỳ khưu ấy
đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, nghe
nói …(như trên)…, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng
vậy.
…(như trên)… Sau khi
khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu,
chính vì việc ấy hội chúng hãy thực thi hành sự theo tội của vị ấy đến
tỳ khưu Upavāḷa. Và này các tỳ khưu, nên thực thi như vầy: Trước hết, tỳ
khưu Upavāḷa cần được quở trách; sau khi quở trách cần được nhắc nhở;
sau khi nhắc nhở rồi cần được xác định tội; sau khi được xác định tội,
hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Upavāḷa này trong khi được thẩm vấn
về tội giữa hội chúng đã phủ nhận rồi lại thừa nhận, đã thừa nhận rồi
lại phủ nhận, tránh né tội ấy bằng một tội khác, cố tình nói lời dối
trá. Nếu là thời điểm thích hợp
cho hội chúng, hội chúng nên thực thi hành sự theo tội của vị ấy đến tỳ
khưu Upavāḷa. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Upavāḷa này trong khi được thẩm vấn
về tội giữa hội chúng đã phủ nhận rồi lại thừa nhận, đã thừa nhận rồi
lại phủ nhận, tránh né tội ấy bằng một tội khác, cố tình nói lời dối
trá. Hội chúng thực thi hành sự theo tội của vị ấy đến tỳ khưu Upavāḷa.
Đại đức nào đồng ý việc thực thi hành sự theo tội của vị ấy đến tỳ khưu
Upavāḷa xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ nhì: …(như trên)…
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ ba: …(như trên)…
Hành sự theo tội của
vị ấy đã được hội chúng thực thi đến tỳ khưu Upavāḷa. Sự việc được hội
chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[615] Này các tỳ khưu,
đây là năm sự thực thi đúng Pháp của hành sự theo tội của vị ấy: Là vị
không trong sạch, không có hổ thẹn, có sự khiển trách, hội chúng thực
thi hành sự theo tội của vị ấy cho vị ấy đúng Pháp, với sự hợp nhất.
Này các tỳ khưu, đây là
năm sự thực thi đúng Pháp của hành sự theo tội của vị ấy.
[616] Này các tỳ khưu,
hành sự theo tội của vị ấy là hành sự không đúng Pháp, là hành sự không
đúng Luật, khó được hoàn tất khi hội đủ ba điều kiện: được thực thi
thiếu sự hiện diện, được thực thi thiếu sự tra hỏi, được thực thi với sự
không thừa nhận (appaṭiññāya kataṃ). Này các tỳ khưu, hành sự theo tội
của vị ấy hội đủ ba điều kiện này là hành sự không đúng Pháp, là hành sự
không đúng Luật, khó được hoàn tất.
…(như trên)…
Này các tỳ khưu, hành sự
theo tội của vị ấy là hành sự không đúng Pháp, là hành sự không đúng
Luật, khó được hoàn tất khi hội đủ ba điều kiện khác nữa: được thực thi
khi chưa xác định tội, được thực thi không theo Pháp, được thực thi bởi
phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự theo tội của vị ấy hội đủ ba điều
kiện này là hành sự không đúng Pháp, là hành sự không đúng Luật, khó
được hoàn tất.
[617] Này các tỳ khưu,
hành sự theo tội của vị ấy là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật,
được hoàn tất tốt đẹp khi hội đủ ba điều kiện: được thực thi với sự hiện
diện, được thực thi từ sự tra hỏi, được thực thi với sự thừa nhận
(paṭiññāya kataṃ). Này các tỳ khưu, hành sự theo tội của vị ấy hội đủ ba
điều kiện này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, được hoàn tất
tốt đẹp.
…(như trên)…
Này các tỳ khưu, hành sự
theo tội của vị ấy là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, được hoàn
tất tốt đẹp khi hội đủ ba điều kiện khác nữa: được thực thi sau khi xác
định tội, được thực thi đúng theo Pháp, được thực thi với sự hợp nhất.
Này các tỳ khưu, hành sự theo tội của vị ấy hội đủ ba điều kiện này là
hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, được hoàn tất tốt đẹp.
[618] Này các tỳ khưu,
nếu muốn hội chúng có thể thực thi hành sự theo tội của vị ấy đối với vị
tỳ khưu hội đủ ba đặc tính: Vị thường gây nên sự xung đột, cãi
cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng; vị
ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, chưa được làm cho thoát
(tội); vị thân cận giới tục gia, sống không nghiêm chỉnh lẫn lộn cùng
người thế tục. Này các tỳ khưu, nếu muốn hội
chúng có thể thực thi hành sự theo tội của vị ấy đối với vị tỳ khưu hội
đủ ba đặc tính này.
[619] Này các tỳ khưu,
nếu muốn hội chúng có thể thực thi hành sự theo tội của vị ấy đối với vị
tỳ khưu hội đủ ba đặc tính khác nữa: Vị bị hư hỏng về giới thuộc
tăng thượng giới, vị bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, vị
bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến sái quấy.
Này các tỳ khưu, …(như trên)… ba đặc tính này.
[620] Này các tỳ khưu,
…(như trên)… ba đặc tính khác nữa: Vị chê bai đức Phật, vị chê
bai đức Pháp, vị chê bai đức Tăng. Này các tỳ
khưu, nếu muốn hội chúng có thể thực thi hành sự theo tội của vị ấy đối
với vị tỳ khưu hội đủ ba đặc tính này.
[621] Này các tỳ khưu,
nếu muốn hội chúng có thể thực thi hành sự theo tội của vị ấy đối với ba
hạng tỳ khưu: Hạng thường gây nên sự xung đột,
cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí,
và tranh tụng trong hội chúng; hạng ngu si, thiếu kinh nghiệm,
phạm nhiều tội, chưa được làm cho thoát (tội); hạng thân cận giới tục
gia, sống không nghiêm chỉnh lẫn lộn cùng người thế tục.
Này các tỳ khưu, nếu muốn hội chúng có thể
thực thi hành sự theo tội của vị ấy đối với ba hạng tỳ khưu này.
[622] Này các tỳ khưu,
nếu muốn hội chúng có thể thực thi hành sự theo tội của vị ấy đối với ba
hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng
giới, hạng bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, hạng bị hư
hỏng về tri kiến thuộc tri kiến sái quấy. Này
các tỳ khưu, …(như trên)… ba hạng tỳ khưu này.
[623] Này các tỳ khưu,
…(như trên)… ba hạng tỳ khưu khác nữa: hạng chê bai đức Phật, hạng chê
bai đức Pháp, hạng chê bai đức Tăng. Này các tỳ khưu, nếu muốn hội chúng
có thể thực thi hành sự theo tội của vị ấy đối với ba hạng tỳ khưu này.
[624] Này các tỳ khưu,
vị tỳ khưu được thực thi hành sự theo tội của vị ấy nên làm phận sự một
cách nghiêm chỉnh. Trong trường hợp này, các phận sự nghiêm chỉnh ấy là:
Không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên ban cho phép nương nhờ,
không nên bảo sa di phục vụ, không nên chấp nhận sự chỉ định giảng dạy
tỳ khưu ni, không nên giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định, …(như
trên)…, không nên tạo bè phái với các tỳ khưu.
Sau đó, hội chúng đã
thực thi hành sự theo tội của vị ấy đối với tỳ khưu Upavāḷa.
7. CÁCH DÙNG CỎ CHE
LẤP (TIṆAVATTHĀRAKAṂ):
[625] Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu trong khi sinh hoạt có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây
gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là sa-môn bằng lời nói và
hành động đã được thực hiện. Khi ấy, điều này đã khởi đến các vị tỳ khưu
ấy: “Chúng ta trong khi sinh hoạt có nảy sinh các sự xung đột, các sự
gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là sa-môn bằng lời nói
và hành động đã được thực hiện. Nếu chúng ta giải quyết lẫn nhau bằng
các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến lủng củng nội bộ, đưa
đến bất hòa nội bộ, và đưa đến chia rẽ nữa; vậy chúng ta nên thực hành
như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
[626] - Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu trong khi sinh hoạt có nảy sinh các sự xung đột,
các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là sa-môn bằng
lời nói và hành động đã được thực hiện. Này các tỳ khưu, trong trường
hợp ấy nếu các tỳ khưu (nghĩ) như vầy: “Chúng ta trong khi sinh hoạt
có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, có nhiều
việc không xứng là sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện.
Nếu chúng ta giải quyết lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn
có thể đưa đến lủng củng nội bộ, đưa đến bất hòa nội bộ, và đưa đến chia
rẽ nữa; vậy chúng ta nên thực hành như thế nào?” Này các tỳ khưu, ta
cho phép giải quyết sự tranh tụng có hình thức như thế bằng cách dùng cỏ
che lấp.
[627] Và này các tỳ
khưu, nên giải quyết như vầy: Tất cả nên tụ họp lại một chỗ; sau khi tụ
họp lại, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ
năng lực:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sinh hoạt có nảy sinh
các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng
là sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện. Nếu chúng ta giải
quyết lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến
lủng củng nội bộ, đưa đến bất hòa nội bộ, và đưa đến chia rẽ nữa.
Nếu là thời điểm thích hợp cho hội
chúng, hội chúng nên giải quyết sự tranh tụng này bằng cách dùng cỏ che
lấp, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng,[4]
ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ.”
Một vị tỳ khưu có kinh
nghiệm, đủ năng lực trong số các tỳ khưu cùng thuộc về một phe nên thông
báo đến phe của mình rằng:
“Bạch chư đại đức,
xin hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sinh hoạt có nảy sinh các sự
xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là
sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện. Nếu chúng ta giải
quyết lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến
lủng củng nội bộ, đưa đến bất hòa nội bộ, và đưa đến chia rẽ nữa.
Nếu là thời điểm thích hợp cho chư
đại đức, tôi sẽ sám hối bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của
chính chư đại đức và tội của tôi vì sự lợi ích của chính chư đại đức và
vì sự lợi ích của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại
trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ.”
[628] Rồi một vị tỳ khưu
có kinh nghiệm, đủ năng lực trong số các tỳ khưu cùng thuộc về phe kia
nên thông báo đến phe của mình rằng:
“Bạch chư đại đức,
xin hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sinh hoạt có nảy sinh các sự
xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là
sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện. Nếu chúng ta giải
quyết lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến
lủng củng nội bộ, đưa đến bất hòa nội bộ, và đưa đến chia rẽ nữa.
Nếu là thời điểm thích hợp cho chư
đại đức, tôi sẽ sám hối bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của
chính chư đại đức và tội của tôi vì sự lợi ích của chính chư đại đức và
vì sự lợi ích của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại
trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ.”
[629] Sau đó, hội chúng
nên được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực trong số
các tỳ khưu cùng thuộc về một phe rằng:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sinh hoạt có nảy sinh
các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng
là sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện. Nếu chúng ta giải
quyết lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến
lủng củng nội bộ, đưa đến bất hòa nội bộ, và đưa đến chia rẽ nữa.
Nếu là thời điểm thích hợp cho hội
chúng, tôi xin sám hối bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của
chính các đại đức này và tội của tôi vì sự lợi ích của chính các đại đức
này và vì sự lợi ích của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng,
ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sinh hoạt có nảy sinh
các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng
là sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện. Nếu chúng ta giải
quyết lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến
lủng củng nội bộ, đưa đến bất hòa nội bộ, và đưa đến chia rẽ nữa. Vì sự
lợi ích của chính các đại đức này và vì sự lợi ích của tôi, tôi xin sám
hối bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của chính các đại đức
này và tội của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ
trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Đại đức nào đồng ý việc sám hối bằng
cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng đối với các tội này của chúng tôi,
ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên
quan đến cư sĩ, xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Các tội này của chúng
tôi đã được sám hối bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng, ngoại trừ
trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư
sĩ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc
này là như vậy.”
[630] Rồi hội chúng nên
được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực trong số các
tỳ khưu cùng thuộc về phe kia rằng:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sinh hoạt có nảy sinh
các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng
là sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện. Nếu chúng ta giải
quyết lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến
lủng củng nội bộ, đưa đến bất hòa nội bộ, và đưa đến chia rẽ nữa.
Nếu là thời điểm thích hợp cho hội
chúng, tôi xin sám hối bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của
chính các đại đức này và tội của tôi vì sự lợi ích của chính các đại đức
này và vì sự lợi ích của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng,
ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sinh hoạt có nảy sinh
các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng
là sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện. Nếu chúng ta giải
quyết lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến
lủng củng nội bộ, đưa đến bất hòa nội bộ, và đưa đến chia rẽ nữa. Vì sự
lợi ích của chính các đại đức này và vì sự lợi ích của tôi, tôi xin sám
hối bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của chính các đại đức
này và tội của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ
trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Đại đức nào đồng ý việc sám hối bằng
cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng đối với các tội này của chúng tôi,
ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên
quan đến cư sĩ, xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Các tội này của chúng
tôi đã được sám hối bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng, ngoại trừ
trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư
sĩ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc
này là như vậy.”
[631] Và này các tỳ
khưu, như thế các tỳ khưu ấy đã được thoát khỏi các tội ấy ngoại trừ
trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư
sĩ, ngoại trừ (các vị) có quan điểm khác về hành sự này, ngoại trừ các
vị không hiện diện ở đó.
8. SỰ TRANH TỤNG:
[632] Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu tranh cãi với các tỳ khưu ni, các tỳ khưu ni cũng tranh cãi
với các tỳ khưu. Tỳ khưu Channa sau khi theo phe các tỳ khưu ni cũng
tranh cãi với các tỳ khưu và được xem là thuộc phe các tỳ khưu ni. Các
tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai
rằng:
- Vì sao tỳ khưu Channa
sau khi theo phe các tỳ khưu ni lại tranh cãi với các tỳ khưu và được
xem là thuộc phe các tỳ khưu ni?
Sau đó, các vị tỳ khưu
ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, nghe
nói …(như trên)…, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng
vậy.
…(như trên)… Sau khi
khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, đây
là bốn sự tranh tụng: Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh
tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, và sự
tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
[633] Ở đây, thế nào là
sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu tranh cãi rằng: “Đây là Pháp,” hoặc “Đây
không phải là Pháp,” hoặc “Đây là Luật,” hoặc “Đây không
phải là Luật,” hoặc “Điều ấy đã được đấng Thiện Thệ thuyết giảng
và nói đến,” hoặc “Điều ấy đã không được đấng Thiện Thệ thuyết
giảng và nói đến,” hoặc “Điều ấy đã được đấng Thiện Thệ thực hành,”
hoặc “Điều ấy đã không được đấng Thiện Thệ thực hành,” hoặc “Điều
ấy đã được đấng Thiện Thệ quy định,” hoặc “Điều ấy đã không được
đấng Thiện Thệ quy định,” hoặc “Điều ấy là phạm tội,” hoặc “Điều
ấy là không phạm tội,” hoặc “Điều ấy là tội nhẹ,” hoặc “Điều
ấy là tội nặng,” hoặc “Tội còn dư sót,” hoặc “Tội không
còn dư sót,” hoặc “Tội xấu xa,” hoặc “Tội không xấu xa.”
Ở đây, việc nào là sự xung đột, sự gây gỗ, sự tranh luận, sự
tranh cãi, nhiều quan điểm, khác quan điểm,
cãi vã là thói thường của sự nóng nảy (vipaccatāya vohāro medhagaṃ);
việc ấy được gọi là sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi.
[634] Ở đây, thế nào là
sự tranh tụng liên quan đến khiển trách?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu khiển trách vị tỳ khưu với sự hư hỏng về giới,
hoặc với sự hư hỏng về hạnh kiểm, hoặc với sự hư hỏng về tri kiến, hoặc
với sự hư hỏng về nuôi mạng. Trong trường hợp ấy, việc nào là sự khiển
trách, sự xoi mói, sự buộc tội, sự chỉ trích, sự moi móc
(amusampavaṅkatā), sự xúi giục (abbhussahanatā), sự khích động
(anubalappadānaṃ); việc ấy được gọi là sự tranh tụng liên quan đến khiển
trách.
[635] Ở đây, thế nào là
sự tranh tụng liên quan đến tội?
- Năm nhóm tội[5]
là sự tranh tụng liên quan đến tội, bảy nhóm tội[6]
là sự tranh tụng liên quan đến tội; việc ấy được gọi là sự tranh tụng
liên quan đến tội.
[636] Ở đây, thế nào là
sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ?
- Việc gì thuộc về hội
chúng cần phải hoàn thành cần phải thực thi (tức là) hành sự với lời
công bố (apalokanakammaṃ),[7]
hành sự với lời đề nghị (ñattikammaṃ), hành sự với lời thông báo đến lần
thứ hai (ñattidutiyakammaṃ), hành sự với lời thông báo đến lần thứ tư
(ñatticatutthakammaṃ). Việc ấy được gọi là sự tranh tụng liên quan đến
nhiệm vụ.
[637] Nguyên nhân của sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi là gì?
- Có sáu nguyên nhân
tranh cãi là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi. Cũng
có ba nguyên nhân không tốt đẹp là nguyên nhân của sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi và cũng có ba nguyên nhân tốt đẹp là nguyên nhân của
sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi.
Sáu nguyên nhân tranh
cãi nào là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trở nên giận dữ có sự hằn học. Này các tỳ khưu, vị
tỳ khưu nào trở nên giận dữ, có sự hằn học, vị ấy sống không cung kính,
không phục tùng bậc Đạo Sư; vị ấy sống không cung kính, không phục tùng
Giáo Pháp; vị ấy sống không cung kính, không phục tùng hội chúng; vị ấy
có sự thực hành không trọn vẹn việc học tập. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu
nào sống không cung kính, không phục tùng bậc Đạo Sư, …(như trên)… Giáo
Pháp, …(như trên)… hội chúng…, có sự thực hành không trọn vẹn việc học
tập, vị ấy gây nên sự tranh cãi trong hội chúng. Đó là sự tranh cãi đem
lại sự không lợi ích cho nhiều người, đem lại sự không an lạc cho nhiều
người, đem lại sự không tấn hóa cho nhiều người, đem lại sự không lợi
ích và khổ đau cho chư thiên và nhân loại. Này các tỳ khưu, nếu các
ngươi nhận thức được nguyên nhân tranh cãi có hình thức như thế một cách
chủ quan và khách quan, này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy các ngươi
nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy.
Này các tỳ khưu, nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân tranh
cãi có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, này các tỳ
khưu, trong trường hợp ấy các ngươi nên thực hành để không đem lại sự hỗ
trợ trong tương lai cho chính nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy. Như thế
nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân
tranh cãi xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong tương lai.
[638] Này các tỳ khưu,
còn có điều khác nữa: Có vị tỳ khưu trở nên đạo đức giả và dối trá,
…(như trên)…, trở nên đố kỵ và bỏn xẻn, …(như trên)…, trở nên mưu mẹo và
xảo trá, …(như trên)…, trở nên ác dục và tà kiến, …(như trên)…, trở nên
chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi. Này các tỳ khưu, vị
tỳ khưu nào trở nên chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi,
vị ấy sống không cung kính, không phục tùng bậc Đạo Sư; vị ấy sống không
cung kính, không phục tùng Giáo Pháp; vị ấy sống không cung kính, không
phục tùng Hội chúng; vị ấy có sự thực hành không trọn vẹn việc học tập.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sống không cung kính, không phục tùng
bậc Đạo Sư, …(như trên)… Giáo Pháp, …(như trên)… Hội chúng…, có sự thực
hành không trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự tranh cãi trong hội
chúng. Đó là sự tranh cãi đem lại sự không lợi ích cho nhiều người, đem
lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn hóa cho nhiều
người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư thiên và nhân loại.
Này các tỳ khưu, nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân tranh cãi có
hình thức như thế một cách chủ quan và khách quan, này các tỳ khưu,
trong trường hợp ấy các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính
nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi không
nhận thức được nguyên nhân tranh cãi có hình thức như thế một cách chủ
quan hoặc khách quan, này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy các ngươi nên
thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong tương lai cho chính nguyên
nhân tranh cãi xấu xa ấy. Như thế nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy có
được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy không có được
sự hỗ trợ trong tương lai.
Sáu nguyên nhân tranh
cãi này là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi.
[639] Ba nguyên nhân
không tốt đẹp nào là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh
cãi?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu tranh cãi do tâm tham lam, tranh cãi do tâm xấu
xa, tranh cãi do tâm mê muội rằng: “Đây là Pháp,” hoặc “Đây
không phải là Pháp,” hoặc “Đây là Luật,” hoặc “Đây không
phải là Luật,” hoặc “Điều ấy đã được đấng Thiện Thệ thuyết giảng
và nói đến,” hoặc “Điều ấy đã không được đấng Thiện Thệ thuyết
giảng và nói đến,” hoặc “Điều ấy đã được đấng Thiện Thệ thực hành,”
hoặc “Điều ấy đã không được đấng Thiện Thệ thực hành,” hoặc “Điều
ấy đã được đấng Thiện Thệ quy định,” hoặc “Điều ấy đã không được
đấng Thiện Thệ quy định,” hoặc “Điều ấy là phạm tội,” hoặc “Điều
ấy là không phạm tội,” hoặc “Điều ấy là tội nhẹ,” hoặc “Điều
ấy là tội nặng,” hoặc “Tội còn dư sót,” hoặc “Tội không
còn dư sót,” hoặc “Tội xấu xa,” hoặc “Tội không xấu xa.”
Ba nguyên nhân không tốt
đẹp này là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi.
[640] Ba nguyên nhân tốt
đẹp nào là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu tranh cãi do tâm không tham lam, tranh cãi do tâm
không xấu xa, tranh cãi do tâm không mê muội rằng: “Đây là Pháp,”
hoặc “Đây không phải là Pháp,” …(như trên)… hoặc “Tội xấu xa,”
hoặc “Tội không xấu xa.”
Ba nguyên nhân tốt đẹp
này là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi.
[641] Nguyên nhân của sự
tranh tụng liên quan đến khiển trách là gì?
- Có sáu nguyên nhân
khiển trách là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách.
Cũng có ba nguyên nhân không tốt đẹp là nguyên nhân của sự tranh tụng
liên quan đến khiển trách, và cũng có ba nguyên nhân tốt đẹp là nguyên
nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách. Cơ thể (thân) cũng là
nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, và lời nói
(khẩu) cũng là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách.
[642] Sáu nguyên nhân
khiển trách nào là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển
trách?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu trở nên giận dữ có sự hằn học. Này các tỳ khưu, vị
tỳ khưu nào trở nên giận dữ, có sự hằn học, vị ấy sống không cung kính,
không phục tùng bậc Đạo Sư; vị ấy sống không cung kính, không phục tùng
Giáo Pháp; vị ấy sống không cung kính, không phục tùng Hội chúng; vị ấy
có sự thực hành không trọn vẹn việc học tập. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu
nào sống không cung kính, không phục tùng bậc Đạo Sư, …(như trên)… Giáo
Pháp, …(như trên)… Hội chúng…, có sự thực hành không trọn vẹn việc học
tập, vị ấy gây nên sự khiển trách trong hội chúng là sự khiển trách đem
lại sự không lợi ích cho nhiều người, đem lại sự không an lạc cho nhiều
người, đem lại sự không tấn hóa cho nhiều người, đem lại sự không lợi
ích và khổ đau cho chư thiên và nhân loại. Này các tỳ khưu, nếu các
ngươi nhận thức được nguyên nhân khiển trách có hình thức như thế một
cách chủ quan và khách quan, này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy các
ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân khiển trách xấu
xa ấy. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân
khiển trách có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, này
các tỳ khưu, trong trường hợp ấy các ngươi nên thực hành để không đem
lại sự hỗ trợ trong tương lai cho chính nguyên nhân khiển trách xấu xa
ấy. Như thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như
thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong
tương lai.
[643] Này các tỳ khưu,
còn có điều khác nữa: Có vị tỳ khưu trở nên đạo đức giả và dối trá,
…(như trên)…, trở nên đố kỵ và bỏn xẻn, …(như trên)…, trở nên mưu mẹo và
xảo trá, …(như trên)…, trở nên ác dục và tà kiến, …(như trên)…, trở nên
chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi. Này các tỳ khưu, vị
tỳ khưu nào trở nên chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi,
vị ấy sống không cung kính, không phục tùng bậc Đạo Sư; vị ấy sống không
cung kính, không phục tùng Giáo Pháp; vị ấy sống không cung kính, không
phục tùng Hội chúng; vị ấy có sự thực hành không trọn vẹn việc học tập.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sống không cung kính, không phục tùng
bậc Đạo Sư, …(như trên)… Giáo Pháp, …(như trên)… Hội chúng…, có sự thực
hành không trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự khiển trách trong hội
chúng là sự khiển trách đem lại sự không lợi ích cho nhiều người, đem
lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn hóa cho nhiều
người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư thiên và nhân loại.
Này các tỳ khưu, nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân khiển trách có
hình thức như thế một cách chủ quan và khách quan, này các tỳ khưu,
trong trường hợp ấy các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính
nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi không
nhận thức được nguyên nhân khiển trách có hình thức như thế một cách chủ
quan hoặc khách quan, này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy các ngươi nên
thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong tương lai cho chính nguyên
nhân khiển trách xấu xa ấy. Như thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy có
được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy không có
được sự hỗ trợ trong tương lai.
Sáu nguyên nhân khiển
trách này là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách.
[644] Ba nguyên nhân
không tốt đẹp nào là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển
trách?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu khiển trách vị tỳ khưu do tâm tham lam, khiển
trách do tâm xấu xa, khiển trách do tâm mê muội với sự hư hỏng về giới,
hoặc với sự hư hỏng về hạnh kiểm, hoặc với sự hư hỏng về tri kiến, hoặc
với sự hư hỏng về nuôi mạng.
Ba nguyên nhân không tốt
đẹp này là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách.
[645] Ba nguyên nhân tốt
đẹp nào là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu khiển trách vị tỳ khưu do tâm không tham lam,
khiển trách do tâm không xấu xa, khiển trách do tâm không mê muội với sự
hư hỏng về giới, với sự hư hỏng về hạnh kiểm, với sự hư hỏng về tri
kiến, hoặc với sự hư hỏng về nuôi mạng.
Ba nguyên nhân tốt đẹp
này là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách.
[646] Cơ thể (thân) như
thế nào là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách?
- Ở đây có vị có màu da
tối, có vóc dáng xấu xí, dị dạng (okoṭimako), nhiều bệnh: hoặc là chột
mắt, hoặc là chân bị tật, hoặc bị què, hoặc bị liệt nửa thân, các vị
khiển trách vị ấy về điều ấy. Cơ thể (thân) như thế ấy là nguyên nhân
của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách.
[647] Lời nói (khẩu) như
thế nào là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách?
- Ở đây có vị có giọng
nói khó (nghe), có tật cà lăm, có giọng nói khàn khàn, các vị khiển
trách vị ấy về điều ấy. Lời nói (khẩu) như thế ấy là nguyên nhân của sự
tranh tụng liên quan đến khiển trách.
[648] Nguyên nhân của sự
tranh tụng liên quan đến tội là gì?
- Sáu nguồn sanh tội là
nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tội. Có sự phạm tội sanh lên
do thân, không do khẩu không do ý. Có sự phạm tội sanh lên do khẩu,
không do thân không do ý. Có sự phạm tội sanh lên do thân và do khẩu,
không do ý. Có sự phạm tội sanh lên do thân và do ý, không do khẩu. Có
sự phạm tội sanh lên do khẩu và do ý, không do thân. Có sự phạm tội sanh
lên do thân, do khẩu, và do ý.
Sáu nguồn sanh tội này
là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tội.
[649] Nguyên nhân của sự
tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ là gì?
- Có một nguyên nhân của
sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ là: Hội chúng.
[650] Sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi là tốt, là xấu, (hay) là không tốt không xấu?
- Sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi có thể là tốt, có thể là xấu, có thể là không tốt
không xấu.
[651] Ở đây, sự tranh
tụng liên quan đến tranh cãi nào là xấu?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu tranh cãi do tâm bất thiện: “Đây là Pháp,”
hoặc “Đây không phải là Pháp,” …(như trên)… “Tội xấu xa,”
hoặc “Tội không xấu xa.” Trong trường hợp ấy, việc nào là sự xung
đột, gây gỗ, tranh luận, tranh cãi, nhiều quan điểm, khác quan điểm, cãi
vã là thói thường của sự nóng nảy; việc ấy tức là sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi được gọi là xấu.
[652] Ở đây, sự tranh
tụng liên quan đến tranh cãi nào là tốt?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu tranh cãi do tâm thiện: “Đây là Pháp,”
hoặc “Đây không phải là Pháp,” …(như trên)… hoặc “Tội xấu xa,”
hoặc “Tội không xấu xa.” Trong trường hợp ấy, việc nào là sự xung
đột, gây gỗ, tranh luận, tranh cãi, nhiều quan điểm, khác quan điểm, cãi
vã là thói thường của sự nóng nảy; việc ấy tức là sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi được gọi là tốt.
[653] Ở đây, sự tranh
tụng liên quan đến tranh cãi nào là không tốt không xấu?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu tranh cãi do tâm vô ký: “Đây là Pháp,”
hoặc “Đây không phải là Pháp,” …(như trên)… hoặc “Tội xấu xa,”
hoặc “Tội không xấu xa.” Trong trường hợp ấy, việc nào là sự xung
đột, gây gỗ, tranh luận, tranh cãi, nhiều quan điểm, khác quan điểm, cãi
vã là thói thường của sự nóng nảy; việc ấy tức là sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi được gọi là không tốt không xấu.
[654] Sự tranh tụng liên
quan đến khiển trách là tốt, là xấu, (hay) là không tốt không xấu?
- Sự tranh tụng liên
quan đến khiển trách có thể là tốt, có thể là xấu, có thể là không tốt
không xấu.
[655] Ở đây, sự tranh
tụng liên quan đến khiển trách nào là xấu?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu do tâm bất thiện khiển trách vị tỳ khưu với sự hư
hỏng về giới, hoặc với sự hư hỏng về hạnh kiểm, hoặc với sự hư hỏng về
tri kiến, hoặc với sự hư hỏng về nuôi mạng. Trong trường hợp ấy, việc
nào là sự khiển trách, sự xoi mói, sự buộc tội, sự chỉ trích, sự moi
móc, sự xúi giục, sự khích động; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan
đến khiển trách được gọi là xấu.
[656] Ở đây, sự tranh
tụng liên quan đến khiển trách nào là tốt?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu do tâm thiện khiển trách vị tỳ khưu với sự hư
hỏng về giới, với sự hư hỏng về hạnh kiểm, với sự hư hỏng về tri kiến,
hoặc với sự hư hỏng về nuôi mạng. Trong trường hợp ấy, việc nào là sự
khiển trách, sự xoi mói, sự buộc tội, sự chỉ trích, sự moi móc, sự xúi
giục, sự khích động; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến khiển
trách được gọi là tốt.
[657] Ở đây, sự tranh
tụng liên quan đến khiển trách nào là không tốt không xấu?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu do tâm vô ký khiển trách vị tỳ khưu với sự hư
hỏng về giới, với sự hư hỏng về hạnh kiểm, với sự hư hỏng về tri kiến,
hoặc với sự hư hỏng về nuôi mạng. Trong trường hợp ấy, việc nào là sự
khiển trách, sự xoi mói, sự buộc tội, sự chỉ trích, sự moi móc, sự xúi
giục, sự khích động; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến khiển
trách được gọi là không tốt không xấu.
[658] Sự tranh tụng liên
quan đến tội là tốt, là xấu, (hay) là không tốt không xấu?
- Sự tranh tụng liên
quan đến tội có thể là xấu, có thể là không tốt không xấu, không có sự
tranh tụng liên quan đến tội là tốt.
[659] Ở đây, sự tranh
tụng liên quan đến tội nào là xấu?
- Này các tỳ khưu, việc
(vị tỳ khưu) có sự vi phạm trong khi nhận biết, trong khi nhận thức rõ,
đã cố ý, rồi vượt qua; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến tội
được gọi là xấu.
Ở đây, sự tranh tụng
liên quan đến tội nào là không tốt không xấu?
- Này các tỳ khưu, việc
(vị tỳ khưu) có sự vi phạm trong khi không nhận biết, trong khi không
nhận thức rõ, đã không cố ý, rồi không vượt qua; việc ấy tức là sự tranh
tụng liên quan đến tội được gọi là không tốt không xấu.
[660] Sự tranh tụng liên
quan đến nhiệm vụ là tốt, là xấu, (hay) là không tốt không xấu?
- Sự tranh tụng liên
quan đến nhiệm vụ có thể là tốt, có thể là xấu, có thể là không tốt
không xấu.
[661] Ở đây, sự tranh
tụng liên quan đến nhiệm vụ nào là xấu?
- Việc hội chúng thực
thi hành sự với lời công bố, hành sự với lời đề nghị, hành sự với lời
thông báo đến lần thứ hai, hành sự với lời thông báo đến lần thứ tư với
tâm bất thiện; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được
gọi là xấu.
[662] Ở đây, sự tranh
tụng liên quan đến nhiệm vụ nào là tốt?
- Việc hội chúng thực
thi hành sự với lời công bố, hành sự với lời đề nghị, hành sự với lời
thông báo đến lần thứ hai, hành sự với lời thông báo đến lần thứ tư với
tâm thiện; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được gọi
là tốt.
[663] Ở đây, sự tranh
tụng liên quan đến nhiệm vụ nào là không tốt không xấu?
- Việc hội chúng thực
thi hành sự với lời công bố, hành sự với lời đề nghị, hành sự với lời
thông báo đến lần thứ hai, hành sự với lời thông báo đến lần thứ tư với
tâm vô ký; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được gọi
là không tốt không xấu.
[664] (Một việc có thể)
là sự tranh cãi (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, là sự
tranh cãi không là sự tranh tụng, là sự tranh tụng không là sự tranh
cãi, vừa là sự tranh tụng vừa là sự tranh cãi (hay không)?
- (Một việc) có thể là
sự tranh cãi (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, có thể là
sự tranh cãi không là sự tranh tụng, có thể là sự tranh tụng không là sự
tranh cãi, có thể vừa là sự tranh tụng vừa là sự tranh cãi.
[665] Ở đây, việc nào là
sự tranh cãi (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu tranh cãi rằng: “Đây là Pháp,” hoặc “Đây
không phải là Pháp,” …(như trên)… hoặc “Tội xấu xa,” hoặc “Tội
không xấu xa.” Trong trường hợp ấy, việc nào là sự xung đột, gây gỗ,
tranh luận, tranh cãi, nhiều quan điểm, khác quan điểm, cãi vã là thói
thường của sự nóng nảy; việc ấy là sự tranh cãi (hoặc là) sự tranh tụng
liên quan đến tranh cãi.
Ở đây, việc nào là sự
tranh cãi không là sự tranh tụng?
- Mẹ tranh cãi với con
trai, con trai tranh cãi với mẹ, cha tranh cãi với con trai, con trai
tranh cãi với cha, anh em trai tranh cãi với anh em trai, anh em trai
tranh cãi với chị em gái, chị em gái tranh cãi với anh em trai, bạn bè
tranh cãi với bạn bè; việc ấy là sự tranh cãi không là sự tranh tụng.
Ở đây, việc nào là sự
tranh tụng không là sự tranh cãi?
- Sự tranh tụng liên
quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, sự tranh tụng
liên quan đến nhiệm vụ; việc ấy là sự tranh tụng không là sự tranh cãi.
Ở đây, việc nào vừa là
sự tranh tụng vừa là sự tranh cãi?
- Sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi vừa là sự tranh tụng vừa là sự tranh cãi.
[666] (Một việc có thể)
là sự khiển trách (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, là
sự khiển trách không là sự tranh tụng, là sự tranh tụng không là sự
khiển trách, vừa là sự tranh tụng vừa là sự khiển trách (hay không)?
- (Một việc) có thể là
sự khiển trách (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, có thể
là sự khiển trách không là sự tranh tụng, có thể là sự tranh tụng không
là sự khiển trách, có thể vừa là sự tranh tụng vừa là sự khiển trách.
[667] Ở đây, việc nào là
sự khiển trách (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến khiển trách?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu khiển trách vị tỳ khưu với sự hư hỏng về giới,
hoặc với sự hư hỏng về hạnh kiểm, hoặc với sự hư hỏng về tri kiến, hoặc
với sự hư hỏng về nuôi mạng. Trong trường hợp ấy, việc nào là sự khiển
trách, sự xoi mói, sự buộc tội, sự chỉ trích, sự moi móc, sự xúi giục,
sự khích động; việc ấy là sự khiển trách (hoặc là) sự tranh tụng liên
quan đến khiển trách.
Ở đây, việc nào là sự
khiển trách nào không là sự tranh tụng?
- Mẹ khiển trách con
trai, con trai khiển trách mẹ, cha khiển trách con trai, con trai khiển
trách cha, anh em trai khiển trách anh em trai, anh em trai khiển trách
chị em gái, chị em gái khiển trách anh em trai, bạn bè khiển trách bạn
bè; việc ấy là sự khiển trách không là sự tranh tụng.
Ở đây, việc nào là sự
tranh tụng không là sự khiển trách?
- Sự tranh tụng liên
quan đến tội, sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi; việc ấy là sự tranh tụng không là sự khiển trách.
Ở đây, việc nào vừa là
sự tranh tụng vừa là sự khiển trách?
- Sự tranh tụng liên
quan đến khiển trách vừa là sự tranh tụng vừa là sự khiển trách.
[668] (Một việc có thể)
là sự phạm tội (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến tội, là sự phạm tội
không là sự tranh tụng, là sự tranh tụng không là sự phạm tội, vừa là sự
tranh tụng vừa là sự phạm tội (hay không)?
- (Một việc) có thể là
sự phạm tội (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến tội, có thể là sự phạm
tội không là sự tranh tụng, có thể là sự tranh tụng không là sự phạm
tội, có thể vừa là sự tranh tụng vừa là sự phạm tội.
[669] Ở đây, việc nào là
sự phạm tội (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến tội?
- Năm nhóm tội là sự
tranh tụng liên quan đến tội, và bảy nhóm tội là sự tranh tụng liên quan
đến tội; việc ấy là sự phạm tội (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến
tội.
Ở đây, việc nào là
āpatti (sự phạm tội) không là sự tranh tụng?
- Quả vị Nhập Lưu
(Sotāpatti), sự thành đạt (samāpatti) (đây là nghệ thuật chơi chữ với từ
āpatti); việc ấy là āpatti (sự phạm tội) không là sự tranh
tụng.
Ở đây, việc nào là sự
tranh tụng không là sự phạm tội?
- Sự tranh tụng liên
quan đến nhiệm vụ, sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng
liên quan đến khiển trách; việc ấy là sự tranh tụng không là sự phạm
tội.
Ở đây, việc nào vừa là
sự tranh tụng vừa là sự phạm tội?
- Sự tranh tụng liên
quan đến tội vừa là sự tranh tụng vừa là sự phạm tội.
[670] (Một việc có thể)
là nhiệm vụ (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, là nhiệm vụ
không là sự tranh tụng, là sự tranh tụng không là nhiệm vụ, vừa là sự
tranh tụng vừa là nhiệm vụ (hay không)?
- (Một việc) có thể là
nhiệm vụ (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, có thể là nhiệm
vụ không là sự tranh tụng, có thể là sự tranh tụng không là nhiệm vụ, có
thể vừa là sự tranh tụng vừa là nhiệm vụ.
[671] Ở đây, việc nào là
nhiệm vụ (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ?
- Này các tỳ khưu, việc
nào thuộc về hội chúng cần phải hoàn thành, cần phải thực thi (tức là)
hành sự với lời công bố, hành sự với lời đề nghị, hành sự với lời thông
báo đến lần thứ hai, hành sự với lời thông báo đến lần thứ tư; việc ấy
là nhiệm vụ (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Ở đây, việc nào là nhiệm
vụ không là sự tranh tụng?
- Nhiệm vụ của thầy giáo
thọ, nhiệm vụ của thầy tế độ, nhiệm vụ của các vị chung thầy tế độ,
nhiệm vụ của các vị chung thầy giáo thọ; việc ấy là nhiệm vụ không là sự
tranh tụng.
Ở đây, việc nào là sự
tranh tụng không là nhiệm vụ?
- Sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh
tụng liên quan đến tội; việc ấy là sự tranh tụng không là nhiệm vụ.
Ở đây, việc nào vừa là
sự tranh tụng vừa là nhiệm vụ?
- Sự tranh tụng liên
quan đến nhiệm vụ vừa là sự tranh tụng vừa là nhiệm vụ.
9. CHỈ ĐỊNH CÁCH DÀN
XẾP MỘT SỰ TRANH TỤNG:
[672] Sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi được lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi được lắng dịu bởi hai cách dàn xếp: bằng cách hành xử
Luật với sự hiện diện và bằng cách thuận theo số đông.
Nếu sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi không áp dụng được một cách dàn xếp là thuận theo số
đông, thì có thể được lắng dịu bằng một cách dàn xếp là cách hành xử
Luật với sự hiện diện hay không?
- Nên trả lời rằng: “Có
thể.”
Như vậy là thế nào?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu tranh cãi: “Đây là Pháp,” hoặc “Đây
không phải là Pháp,” hoặc “Đây là Luật,” hoặc “Đây không
phải là Luật,” hoặc “Điều ấy đã được đấng Thiện Thệ thuyết giảng
và nói đến,” hoặc “Điều ấy đã không được đấng Thiện Thệ thuyết
giảng và nói đến,” hoặc “Điều ấy đã được đấng Thiện Thệ thực hành,”
hoặc “Điều ấy đã không được đấng Thiện Thệ thực hành,” hoặc “Điều
ấy đã được đấng Thiện Thệ quy định,” hoặc “Điều ấy đã không được
đấng Thiện Thệ quy định,” hoặc “Điều ấy là phạm tội,” hoặc “Điều
ấy là không phạm tội,” hoặc “Điều ấy là tội nhẹ,” hoặc “Điều
ấy là tội nặng,” hoặc “Tội còn dư sót,” hoặc “Tội không
còn dư sót,” hoặc “Tội xấu xa,” hoặc “Tội không xấu xa.”
Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy có thể giải quyết sự tranh tụng ấy,
này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết.
Được giải quyết nhờ vào
điều gì?
- Nhờ vào cách hành xử
Luật với sự hiện diện.
Và ở đây, điều gì là ở
trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?
- Sự hiện diện của hội
chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của
nhân sự.
Và ở đây, sự hiện diện
của hội chúng là gì?
- Các tỳ khưu theo số
lượng cần thiết cho hành sự đã đi đến, sự tùy thuận của các vị xứng đáng
gởi sự tùy thuận đã được đem lại, trong khi hiện diện các vị không phản
đối; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của hội chúng.
Và ở đây, sự hiện diện
của Pháp, sự hiện diện của Luật là gì?
- Với Pháp nào, với Luật
nào, với lời giảng dạy nào của bậc Đạo Sư, sự tranh tụng ấy được giải
quyết; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của Pháp, là sự hiện diện của
Luật.
Và ở đây, sự hiện diện
của nhân sự là gì?
- Vị tranh cãi, vị tranh
cãi với vị ấy, cả hai phe đối địch của sự kiện đều hiện diện; ở đây,
điều ấy là sự hiện diện của nhân sự.
Này các tỳ khưu, nếu có
vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm
tội pācittiya (ưng đối trị); (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị
phê phán phạm tội pācittiya.
[673] Này các tỳ khưu,
nếu các tỳ khưu ấy không thể giải quyết sự tranh tụng ấy tại trú xứ ấy,
này các tỳ khưu, các tỳ khưu ấy nên đi đến trú xứ có nhiều tỳ khưu hơn.
Này các tỳ khưu, trong lúc đang đi trên đường đến trú xứ kia, nếu các tỳ
khưu ấy có thể giải quyết sự tranh tụng ấy; này các tỳ khưu, điều ấy
được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết.
Được giải quyết nhờ vào
điều gì?
- Nhờ vào cách hành xử
Luật với sự hiện diện.
Và ở đây, điều gì là ở
trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?
- Sự hiện diện của hội
chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của
nhân sự.
Và ở đây, sự hiện diện
của hội chúng là gì?
- Các tỳ khưu theo số
lượng cần thiết cho hành sự đã đi đến, sự tùy thuận của các vị xứng đáng
gởi sự tùy thuận đã được đem lại, trong khi hiện diện các vị không phản
đối; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của hội chúng.
Và ở đây, sự hiện diện
của Pháp, sự hiện diện của Luật là gì?
- Với Pháp nào, với Luật
nào, với lời giảng dạy nào của bậc Đạo Sư sự tranh tụng ấy được giải
quyết; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của Pháp, là sự hiện diện của
Luật.
Và ở đây, sự hiện diện
của nhân sự là gì?
- Vị tranh cãi, vị tranh
cãi với vị ấy, cả hai phe đối địch của sự kiện đều hiện diện; ở đây,
điều ấy là sự hiện diện của nhân sự.
Này các tỳ khưu, nếu có
vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm
tội pācittiya (ưng đối trị); (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị
phê phán phạm tội pācittiya.
[674] Này các tỳ khưu,
trong lúc đang đi trên đường đến trú xứ kia, nếu các tỳ khưu ấy không
thể giải quyết sự tranh tụng ấy; này các tỳ khưu, sau khi đi đến trú xứ
kia, các tỳ khưu ấy nên nói các tỳ khưu thường trú như vầy: “Này các
đại đức, sự tranh tụng này đã sanh khởi như vầy, đã diễn tiến như vầy,
lành thay xin các đại đức hãy giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp
theo Luật theo lời dạy của bậc Đạo sư; như thế sự tranh tụng này có thể
được giải quyết tốt đẹp.” Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu thường
trú thâm niên hơn và các tỳ khưu đi đến là kém thâm niên, này các tỳ
khưu, các tỳ khưu thường trú nên nói với các tỳ khưu đi đến như vầy: “Này
các đại đức, các vị hãy sang một bên trong chốc lát để chúng tôi còn hội
ý.” Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu thường trú kém thâm niên và các
tỳ khưu đi đến là thâm niên hơn, này các tỳ khưu, các tỳ khưu thường trú
nên nói với các tỳ khưu đi đến như vầy: “Này các đại đức, như vậy thì
xin các vị hãy chờ tại đây trong chốc lát để chúng tôi còn hội ý.”
Này các tỳ khưu, nếu các
tỳ khưu thường trú trong lúc hội ý khởi lên như vầy: “Chúng ta không
thể giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp theo Luật theo lời dạy của
bậc Đạo sư được,” các tỳ khưu thường trú không nên nhận lãnh sự
tranh tụng ấy.
Này các tỳ khưu, nếu các
tỳ khưu thường trú trong lúc hội ý khởi lên như vầy: “Chúng ta có thể
giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp theo Luật theo lời dạy của bậc
Đạo sư;” này các tỳ khưu, các tỳ khưu thường trú ấy nên nói với các
tỳ khưu đi đến như vầy: “Này các đại đức, nếu các vị trình bày cho
chúng tôi sự tranh tụng này đã sanh khởi như thế nào đã diễn tiến như
thế nào, chúng tôi sẽ giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật,
theo lời dạy của bậc Đạo sư theo cách sẽ được giải quyết tốt đẹp; như
vậy chúng tôi sẽ nhận lãnh sự tranh tụng này. Này các đại đức, nếu các
vị không trình bày cho chúng tôi sự tranh tụng này đã sanh khởi như thế
nào đã diễn tiến như thế nào, chúng tôi sẽ giải quyết sự tranh tụng này
theo Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo sư theo cách sẽ không
được giải quyết tốt đẹp; như vậy chúng tôi sẽ không nhận lãnh sự tranh
tụng này.” Này các tỳ khưu, sau khi xem xét kỷ lưỡng như vậy, các tỳ
khưu thường trú nên nhận lãnh sự tranh tụng ấy.
Này các tỳ khưu, các tỳ
khưu đi đến ấy nên nói với các tỳ khưu thường trú như vầy: “Chúng tôi
sẽ trình bày cho các đại đức sự tranh tụng này đã sanh khởi như thế nào
đã diễn tiến như thế nào. Nếu các đại đức có thể giải quyết sự tranh
tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo sư trong giới
hạn chừng ấy hoặc chừng ấy (ettakena vā ettakena vā antarena), như thế
(sự tranh tụng) sẽ được giải quyết tốt đẹp; như vậy, chúng tôi sẽ giao
phó sự tranh tụng này cho các đại đức. Nếu các đại đức không thể giải
quyết sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo
sư trong giới hạn chừng ấy hoặc chừng ấy, như thế (sự tranh tụng) sẽ
không được giải quyết tốt đẹp; như vậy, chúng tôi sẽ không giao phó sự
tranh tụng này cho các đại đức, chính chúng tôi sẽ là người chủ trì sự
tranh tụng này.” Này các tỳ khưu, sau khi xem xét kỷ lưỡng như vậy,
các tỳ khưu đi đến nên giao phó sự tranh tụng ấy cho các tỳ khưu thường
trú.
Này các tỳ khưu, nếu các
tỳ khưu ấy có thể giải quyết sự tranh tụng ấy, này các tỳ khưu, điều ấy
được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết.
Được giải quyết nhờ vào
điều gì? - Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện. Và ở đây, điều gì
là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện? - Sự hiện diện của hội
chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của
nhân sự. …(như trên)…
Này các tỳ khưu, nếu có
vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm
tội pācittiya (ưng đối trị); (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị
phê phán phạm tội pācittiya.
[675] Này các tỳ khưu, trong khi các tỳ khưu ấy
phán xét sự tranh tụng ấy, nếu các lời bàn cãi bất tận được sanh khởi
nhưng không lời phát biểu nào có ý nghĩa; này các tỳ khưu, ta cho phép
giải quyết sự tranh tụng như thế ấy theo lối đại biểu (ubbāhikāya).
Theo lối đại biểu, cần chỉ định vị tỳ khưu hội đủ
mười điều kiện: Là vị có giới hạnh, sống thu thúc theo sự thu thúc của
giới bổn Pātimokkha, thành tựu về hạnh kiểm và hành xứ (ācāragocara),
thấy được sự nguy hiểm trong những tội lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và thực
hành theo các điều học; là vị nghe nhiều, nắm giữ và tích lũy các điều
đã được nghe, các pháp nào là tốt đẹp phần đầu, tốt đẹp phần giữa, tốt
đẹp phần cuối, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, giảng giải về
Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ, các pháp có hình thức
như thế được (vị ấy) nghe nhiều, ghi nhớ, ôn đọc ra lời, dùng trí quán
sát, dùng tri kiến phân tích; cả hai bộ giới bổn Pātimokkha đã
khéo được truyền thừa với chi tiết đến vị ấy, khéo được phân tích, khéo
được ứng dụng, khéo được xác định theo từng điều học, theo từng từ ngữ;
là vị tinh xảo về Luật không có bối rối; là vị có năng lực làm cho cả
hai phe đối địch của sự kiện phải tin tưởng, phải suy nghĩ lại, làm cho
hiểu được, làm cho thấy được, và làm cho hoan hỷ; khéo léo giải quyết sự
tranh tụng đã được diễn tiến; vị hiểu biết sự tranh tụng; hiểu biết
nguyên cớ của sự tranh tụng; hiểu biết sự chấm dứt của sự tranh tụng;
hiểu biết đường lối thực hành để chấm dứt sự tranh tụng. Này các tỳ
khưu, ta cho phép chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu hội đủ mười điều
kiện này.
[676] Và này các tỳ
khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau
khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm,
đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Trong khi chúng ta phán xét sự tranh tụng
này, các lời bàn cãi bất tận được sanh khởi nhưng không lời phát biểu
nào có ý nghĩa. Nếu là thời
điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như
vầy) và tên (như vầy) để giải quyết sự tranh tụng này theo lối đại biểu.
Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Trong khi chúng ta phán xét sự tranh tụng
này, các lời bàn cãi bất tận được sanh khởi nhưng không lời phát biểu
nào có ý nghĩa. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như
vầy) để giải quyết sự tranh tụng này theo lối đại biểu.
Đại đức nào đồng ý việc
chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như
vầy) để giải quyết sự tranh tụng này theo lối đại biểu xin im lặng; vị
nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như
vầy) và tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định để giải quyết sự tranh
tụng này theo lối đại biểu. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im
lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[677] Này các tỳ khưu,
nếu các tỳ khưu ấy có thể giải quyết sự tranh tụng ấy theo lối đại biểu,
này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết.
Được giải quyết nhờ vào
điều gì? - Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện. Và ở đây, điều gì
là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện? - Sự hiện diện của Pháp,
sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự. …(như trên)…
Này các tỳ khưu, nếu có
vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
[678] Này các tỳ khưu,
trong khi các tỳ khưu ấy đang phán xét sự tranh tụng ấy, nếu ở đó, có vị
tỳ khưu là Pháp sư nhưng kiến thức của chính vị ấy không được truyền
thừa, không biết sự phân tích về giới bổn, vị ấy trong khi không xem xét
ý nghĩa lại phủ nhận ý nghĩa ẩn sau các văn tự. Các tỳ khưu ấy cần được
thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch chư đại đức,
xin hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên (như vầy) là Pháp sư nhưng kiến
thức của chính vị ấy không được truyền thừa, không biết sự phân tích về
giới bổn, vị ấy trong khi không xem xét ý nghĩa lại phủ nhận ý nghĩa ẩn
sau các văn tự. Nếu là thời
điểm thích hợp cho chư đại đức, chúng ta nên loại ra vị tỳ khưu tên (như
vầy) và những người còn lại (chúng ta) sẽ giải quyết
sự tranh tụng này.”
Này các tỳ khưu, nếu các
tỳ khưu ấy sau khi loại vị tỳ khưu ấy ra có thể giải quyết sự tranh tụng
ấy; này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải
quyết.
Được giải quyết nhờ vào
điều gì? - Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện. Và ở đây, điều gì
là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện? - Sự hiện diện của Pháp,
sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự. …(như trên)…
Này các tỳ khưu, nếu có
vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
[679] Này các tỳ khưu,
trong khi các vị tỳ khưu ấy đang phán xét sự tranh tụng ấy, nếu ở đó, có
vị tỳ khưu là Pháp sư bởi vì kiến thức của vị ấy được truyền thừa
(nhưng) không biết sự phân tích về giới bổn, vị ấy trong khi không xem
xét ý nghĩa lại phủ nhận ý nghĩa ẩn sau các văn tự. Các tỳ khưu ấy cần
được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch chư đại đức,
xin hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên (như vầy) là Pháp sư bởi vì kiến
thức của vị ấy được truyền thừa (nhưng) không biết sự phân tích về giới
bổn, vị ấy trong khi không xem xét ý nghĩa lại phủ nhận ý nghĩa ẩn sau
các văn tự. Nếu là thời điểm
thích hợp cho chư đại đức, chúng ta nên loại ra vị tỳ khưu tên (như vầy)
và những người còn lại (chúng ta) sẽ giải quyết
sự tranh tụng này.”
Này các tỳ khưu, nếu các
tỳ khưu ấy sau khi loại vị tỳ khưu ấy ra có thể giải quyết sự tranh tụng
ấy; này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải
quyết.
Được giải quyết nhờ vào
điều gì? - Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện. Và ở đây, điều gì
là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện? - Sự hiện diện của Pháp,
sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự. …(như trên)…
Này các tỳ khưu, nếu có
vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
[680] Này các tỳ khưu,
nếu các tỳ khưu ấy không thể giải quyết sự tranh tụng ấy theo lối đại
biểu, này các tỳ khưu, các tỳ khưu ấy nên giao lại sự tranh tụng ấy cho
hội chúng:
- Bạch các ngài,
chúng tôi không thể giải quyết sự tranh tụng này theo lối đại biểu,
chính hội chúng hãy giải quyết sự tranh tụng này.
Này các tỳ khưu, ta cho
phép giải quyết thuận theo số đông sự tranh tụng có hình thức như thế.
Cần chỉ định vị phân phát thẻ (salākaggāhāpako) là vị tỳ khưu hội đủ năm
điều kiện: Vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi
phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị
chi phối bởi sự sợ hãi, và vị biết (thẻ) đã được nhận hay không được
nhận.
…(như trên)…
Tỳ khưu tên (như vầy)
đã được hội chúng chỉ định là vị phân phát thẻ. Sự việc được hội chúng
đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Vị tỳ khưu phân phát
thẻ ấy nên phân phát các thẻ. (Trường hợp) các tỳ khưu là các vị nói
đúng Pháp có (số lượng) nhiều hơn phát biểu (nên giải quyết) như thế nào
thì sự tranh tụng ấy nên được giải quyết như thế ấy. Này các tỳ khưu,
điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết.
Được giải quyết nhờ vào
điều gì?
- Nhờ vào cách hành xử
Luật với sự hiện diện và thuận theo số đông.
Và ở đây, điều gì là ở
trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?
- Sự hiện diện của hội
chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của
nhân sự.
Và ở đây, sự hiện diện
của hội chúng là gì? - Các tỳ khưu theo số lượng cần thiết cho hành sự
đã đi đến, sự tùy thuận của các vị xứng đáng gởi sự tùy thuận đã được
đem lại, trong khi hiện diện các vị không phản đối; ở đây, điều ấy là sự
hiện diện của hội chúng. Và ở đây, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện
của Luật là gì? - Với Pháp nào, với Luật nào, với lời giảng dạy nào của
bậc Đạo Sư sự tranh tụng ấy được giải quyết; ở đây điều ấy là sự hiện
diện của Pháp, là sự hiện diện của Luật. Và ở đây, sự hiện diện của nhân
sự là gì? - Vị tranh cãi, vị tranh cãi với vị ấy, cả hai phe đối địch
của sự kiện đều hiện diện; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của nhân sự.
Và ở đây, điều gì là
liên quan đến thuận theo số đông?
- Điều nào là sự thực
hiện, sự hành động, sự đạt đến, sự thỏa thuận, sự chấp nhận, sự không
phản đối thuộc về hành sự thuận theo số đông; ở đây điều ấy là liên quan
đến thuận theo số đông.
Này các tỳ khưu, nếu có
vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm
tội pācittiya (ưng đối trị); (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị
phê phán phạm tội pācittiya.
[681] Vào lúc bấy giờ, ở
Sāvatthi có sự tranh tụng đã sanh khởi như vầy, đã diễn tiến như vầy.
Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy không hài lòng với lối giải quyết tranh tụng
của hội chúng ở Sāvatthi và đã nghe rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia có
nhiều trưởng lão cư ngụ là các vị nghe nhiều, kinh điển
được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu
đề, là các bậc trí tuệ, có khả năng, thông minh, khiêm nhường, có hối
hận, ưa thích sự học tập. Nếu các trưởng lão
ấy có thể giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời
dạy của bậc Đạo sư, như vậy sự tranh tụng này sẽ được giải quyết tốt đẹp.”
Sau đó, các tỳ khưu ấy đã đi đến trú xứ ấy và đã nói với các trưởng lão
ấy điều này:
- Thưa các ngài, sự
tranh tụng này đã sanh khởi như vầy, đã diễn tiến như vầy. Thưa các
ngài, lành thay các trưởng lão hãy giải quyết sự tranh tụng này theo
Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo sư, như vậy sự tranh tụng này
sẽ được giải quyết tốt đẹp.
Khi ấy, các trưởng lão
ấy (nghĩ rằng): “Sự tranh tụng đã được hội chúng ở Sāvatthi giải
quyết như thế ấy là đã được giải quyết tốt đẹp” rồi đã giải quyết sự
tranh tụng ấy y như thế.
Sau đó, các tỳ khưu ấy
không hài lòng với lối giải quyết tranh tụng của hội chúng ở Sāvatthi,
không hài lòng với lối giải quyết tranh tụng của nhiều vị trưởng lão và
đã nghe rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia có ba vị trưởng lão cư ngụ…(như
trên)…có hai vị trưởng lão cư ngụ…(như trên)… có một vị trưởng lão cư
ngụ là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ
về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc trí tuệ, có khả
năng, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập.
Nếu trưởng lão ấy có thể giải quyết sự tranh
tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo sư, như vậy sự
tranh tụng này sẽ được giải quyết tốt đẹp.”
Sau đó, các tỳ khưu ấy đã đi đến trú xứ ấy và đã nói với vị trưởng lão
ấy điều này:
- Thưa ngài, sự tranh
tụng này đã sanh khởi như vầy, đã diễn tiến như vầy. Thưa ngài, lành
thay ngài trưởng lão hãy giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp, theo
Luật, theo lời dạy của bậc Đạo sư, như thế sự tranh tụng này sẽ được
giải quyết tốt đẹp.
Khi ấy, vị trưởng lão ấy
(nghĩ rằng): “Sự tranh tụng đã được hội chúng ở Sāvatthi giải quyết
như thế ấy, sự tranh tụng đã được nhiều vị trưởng lão giải quyết như thế
ấy, sự tranh tụng đã được ba vị trưởng lão giải quyết như thế ấy, sự
tranh tụng đã được hai vị trưởng lão giải quyết như thế ấy là đã được
giải quyết tốt đẹp” rồi đã giải quyết sự tranh tụng ấy y như thế.
Sau đó, các tỳ khưu ấy
không hài lòng với lối giải quyết tranh tụng của hội chúng ở Sāvatthi,
không hài lòng với lối giải quyết tranh tụng của nhiều vị trưởng lão,
không hài lòng với lối giải quyết tranh tụng của ba vị trưởng lão, không
hài lòng với lối giải quyết tranh tụng của hai vị trưởng lão, không hài
lòng với lối giải quyết tranh tụng của một vị trưởng lão nên đã đi đến
gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, sự
tranh tụng này đã được dứt điểm, đã được yên lặng, đã được giải quyết,
đã được giải quyết tốt đẹp. Này các tỳ khưu, vì sự nhận thức rõ ràng của
các tỳ khưu ấy, ta cho phép ba cách phân phát thẻ: lối kín đáo
(gūḷhakaṃ), sự nói nhỏ vào tai (sakaṇṇajappakaṃ), lối công khai
(vivaṭakaṃ).
Và này các tỳ khưu, thế
nào là cách phân phát thẻ theo lối kín đáo?
- Vị tỳ khưu phân phát
thẻ nên làm các thẻ khác nhau rồi đi đến gặp từng vị tỳ khưu một và nên
nói như vầy: “Thẻ này là cho vị nói như vầy, thẻ này là cho vị nói
như kia. Đại đức thích cái nào thì nhận cái ấy.” Khi giao nên nói
rằng: “Và chớ cho bất cứ ai thấy.” Nếu vị ấy biết rằng: “Các
vị nói sai Pháp là nhiều hơn,” nên thâu hồi lại (nói rằng): “(Các
thẻ) bị lấy lầm lẫn.” Nếu vị ấy biết rằng: “Các vị nói đúng Pháp
là nhiều hơn,” nên công bố rằng: “(Các thẻ) được nhận lấy tốt đẹp.”
Này các tỳ khưu, như vậy là cách phân phát thẻ theo lối kín đáo.
Và này các tỳ khưu, thế
nào là cách phân phát thẻ với sự nói nhỏ vào tai?
- Vị tỳ khưu phân phát
thẻ nên nói vào tai của từng vị tỳ khưu một rằng: “Thẻ này là cho vị
nói như vầy, thẻ này là cho vị nói như kia. Đại đức thích cái nào thì
nhận cái ấy.” Khi giao nên nói rằng: “Và chớ nói cho bất cứ ai.”
Nếu vị ấy biết rằng: “Các vị nói sai Pháp là nhiều hơn,” nên thâu
hồi lại (nói rằng): “(Các thẻ) bị lấy lầm lẫn.” Nếu vị ấy biết
rằng: “Các vị nói đúng Pháp là nhiều hơn,” nên công bố rằng: “(Các
thẻ) được nhận lấy tốt đẹp.” Này các tỳ khưu, như vậy là cách phân
phát thẻ với sự nói nhỏ vào tai.
Và này các tỳ khưu, thế
nào là cách phân phát thẻ theo lối công khai?
- Nếu vị ấy biết rằng: “Các
vị nói đúng Pháp là nhiều hơn,” chính nhờ vào sự quả quyết nên phân
phát (thẻ) bằng cách phân phát thẻ theo lối công khai. Này các tỳ khưu,
như vậy là cách phân phát thẻ theo lối công khai.
Này các tỳ khưu, đây là
ba cách phân phát thẻ.
[682] Sự tranh tụng liên
quan đến khiển trách được lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự tranh tụng liên
quan đến khiển trách được lắng dịu bởi bốn cách dàn xếp: bằng cách hành
xử Luật với sự hiện diện, bằng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, bằng
cách hành xử Luật khi không điên cuồng, và theo tội của vị ấy.
[683] Nếu sự tranh tụng
liên quan đến khiển trách không áp dụng được hai cách dàn xếp là cách
hành xử Luật khi không điên cuồng và theo tội của vị ấy thì có thể được
lắng dịu bằng hai cách dàn xếp là cách hành xử Luật với sự hiện diện và
cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ hay không?
- Nên trả lời rằng: “Có
thể.”
Như vậy là thế nào?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu bôi nhọ vị tỳ khưu với sự hư hỏng về giới không
có nguyên cớ. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu được thành tựu đầy đủ
về sự ghi nhớ, cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ nên được ban cho.
Và này các tỳ khưu, nên
ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng,
đắp thượng y một bên vai, …(như trên)…, và nên nói như vầy:
“Bạch các ngài, các
tỳ khưu bôi nhọ tôi với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Bạch các
ngài, là người được thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ, tôi đây cầu xin hội
chúng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ.”
Nên cầu xin đến lần thứ
nhì. Nên cầu xin đến lần thứ ba:
[684] Hội chúng cần được
thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu bôi nhọ vị tỳ khưu tên (như
vầy) với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Là người được thành tựu
đầy đủ về sự ghi nhớ, vị ấy cầu xin hội chúng cách hành xử Luật bằng sự
ghi nhớ. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho
cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến vị tỳ khưu tên (như vầy), là người
thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu bôi nhọ vị tỳ khưu tên (như
vầy) với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Là người thành tựu đầy
đủ về sự ghi nhớ, vị ấy cầu xin hội chúng cách hành xử Luật bằng sự ghi
nhớ. Hội chúng ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến vị tỳ khưu
tên (như vầy) là người thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ. Đại đức nào đồng
ý việc ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến vị tỳ khưu tên (như
vầy) là người thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ xin im lặng; vị nào không
đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ nhì: …(như trên)…
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ ba: …(như trên)…
Cách hành xử Luật
bằng sự ghi nhớ đã được hội chúng ban cho vị tỳ khưu tên (như vầy) là
người thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên
mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Này các tỳ khưu, điều ấy
được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào
điều gì?
- Nhờ vào cách hành xử
Luật với sự hiện diện và cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ.
Và ở đây, điều gì là ở
trong cách hành xử Luật với sự hiện diện? - Sự hiện diện của hội chúng,
sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự.
…(như trên)… Và ở đây, sự hiện diện của nhân sự là gì? - Vị khiển trách
và vị bị vị ấy khiển trách, cả hai phe đều hiện diện; ở đây, điều ấy là
sự hiện diện của nhân sự.
Và ở đây, điều gì là ở
trong cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ?
- Điều nào là sự thực
hiện, sự hành động, sự đạt đến, sự thỏa thuận, sự chấp nhận, sự không
phản đối thuộc về hành sự hành xử Luật bằng sự ghi nhớ; ở đây điều ấy là
ở trong cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ.
Này các tỳ khưu, nếu có
vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm
tội pācittiya (ưng đối trị); (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị
phê phán phạm tội pācittiya.
[685] Nếu sự tranh tụng
liên quan đến khiển trách không áp dụng được hai cách dàn xếp là cách
hành xử Luật bằng sự ghi nhớ và theo tội của vị ấy thì có thể được lắng
dịu bằng hai cách dàn xếp là cách hành xử Luật với sự hiện diện và cách
hành xử Luật khi không điên cuồng hay không?
- Nên trả lời rằng: “Có
thể.”
Như vậy là thế nào?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu bị điên, bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không
xứng là sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi vị ấy khi
bị điên, bị thay đổi tâm tính. Các tỳ khưu buộc tội vị ấy với tội đã
được thực hiện khi bị điên, bị thay đổi tâm tính: “Này đại đức, hãy
nhớ là có phạm tội như thế này không?” Vị ấy nói như vầy: “Này
các đại đức, tôi đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không
xứng là sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi tôi đây
khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Tôi không nhớ được điều ấy. Điều ấy
đã được làm bởi tôi khi điên cuồng.” Mặc dầu được vị ấy nói như vậy,
các vị vẫn khiển trách rằng: “Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội như
thế này không?”
Này các tỳ khưu, nên ban
cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến vị tỳ khưu ấy khi không
điên cuồng. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, vị
tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, …(như trên)…
và nên nói như vầy:
“Bạch các ngài, tôi
đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là sa-môn
bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị
thay đổi tâm tính. Các tỳ khưu khiển trách tôi với tội đã được thực hiện
khi bị điên, bị thay đổi tâm tính: ‘Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội
như thế này không?’ Tôi nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã bị điên,
đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là sa-môn bằng lời nói và
hành động đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm
tính. Tôi không nhớ được điều ấy. Điều ấy đã được làm bởi tôi khi điên
cuồng.’ Mặc dầu được vị ấy nói như vậy, các vị vẫn khiển trách rằng:
‘Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội như thế này không?’ Bạch các ngài,
giờ không điên cuồng tôi đây cầu xin hội chúng cách hành xử Luật khi
không điên cuồng.”
Nên cầu xin đến lần thứ
nhì. Nên cầu xin đến lần thứ ba:
[686] Hội chúng cần được
thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã bị điên, đã bị
thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là sa-môn bằng lời nói và hành
động đã được thực hiện bởi vị ấy khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Các
tỳ khưu đã khiển trách vị ấy với tội đã được thực hiện khi bị điên, bị
thay đổi tâm tính: ‘Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội như thế này
không?’ Vị ấy nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã bị điên, đã bị thay
đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là sa-môn bằng lời nói và hành động
đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Tôi
không nhớ được điều ấy. Điều ấy đã được làm bởi tôi khi điên cuồng.’ Mặc
dầu được vị ấy nói như vậy, các vị vẫn khiển trách rằng: ‘Này đại đức,
hãy nhớ là có phạm tội như thế này không?’ Giờ không điên cuồng, vị ấy
cầu xin hội chúng cách hành xử Luật khi không điên cuồng. Nếu là thời
điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho cách hành xử Luật
khi không điên cuồng đến vị tỳ khưu tên (như vầy) khi không điên cuồng.
Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã bị điên, đã
bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là sa-môn bằng lời nói và
hành động đã được thực hiện bởi vị ấy khi bị điên, bị thay đổi tâm tính.
Các tỳ khưu đã khiển trách vị ấy với tội đã được thực hiện khi bị điên,
bị thay đổi tâm tính: ‘Này đại đức, hãy nhớ là có phạm tội như thế này
không?’ Vị ấy nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã bị điên, đã bị thay
đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là sa-môn bằng lời nói và hành động
đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Tôi
không nhớ được điều ấy. Điều ấy đã được làm bởi tôi khi điên cuồng.’ Mặc
dầu được vị ấy nói như vậy, các vị vẫn khiển trách rằng: ‘Này đại đức,
hãy nhớ là có phạm tội như thế này không?’ Giờ không điên cuồng, vị ấy
cầu xin hội chúng cách hành xử Luật khi không điên cuồng. Hội chúng ban
cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến tỳ khưu tên (như vầy) khi
không điên cuồng. Đại đức nào đồng ý việc ban cho cách hành xử Luật khi
không điên cuồng đến tỳ khưu tên (như vầy) khi không điên cuồng xin im
lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ nhì: …(như trên)…
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ ba: …(như trên)…
Cách hành xử Luật khi
không điên cuồng đã được hội chúng ban cho tỳ khưu tên (như vầy) khi
không điên cuồng. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi
nhận sự việc này là như vậy.”
Này các tỳ khưu, điều ấy
được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào
điều gì?
- Nhờ vào cách hành xử
Luật với sự hiện diện và cách hành xử Luật khi không điên cuồng.
Và ở đây, điều gì là ở
trong cách hành xử Luật với sự hiện diện? - Sự hiện diện của hội chúng,
sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự.
…(như trên)…
Và ở đây, điều gì là ở
trong cách hành xử Luật khi không điên cuồng?
- Điều nào là sự thực
hiện, sự hành động, sự đạt đến, sự thỏa thuận, sự chấp nhận, sự không
phản đối thuộc về hành sự hành xử Luật khi không điên cuồng; ở đây điều
ấy là ở trong cách hành xử Luật khi không điên cuồng.
Này các tỳ khưu, nếu có
vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm
tội pācittiya (ưng đối trị); (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị
phê phán phạm tội pācittiya.
[687] Nếu sự tranh tụng
liên quan đến khiển trách không áp dụng được hai cách dàn xếp là cách
hành xử Luật bằng sự ghi nhớ và cách hành xử Luật khi không điên cuồng
thì có thể được lắng dịu bằng hai cách dàn xếp là cách hành xử Luật với
sự hiện diện và theo tội của vị ấy hay không?
- Nên trả lời rằng: “Có
thể.”
Như vậy là thế nào?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu buộc tội vị tỳ khưu (khác) giữa hội chúng với tội
nặng: “Đại đức có nhớ là đã phạm tội nặng như thế này, là tội
pārājika hoặc gần với tội pārājika không?” Vị ấy nói như vầy: “Này
đại đức, tôi không nhớ là đã phạm tội nặng như thế ấy, là tội pārājika
hoặc gần với tội pārājika.” Trong khi vị ấy chối từ, vị kia lại già
lý lẽ hơn nữa: “Này đại đức hãy suy xét thật kỹ lưỡng xem thử có nhớ
lại là đã phạm tội nặng như thế này, là tội pārājika hoặc gần với tội
pārājika không?” Vị ấy nói như vầy: “Này đại đức, tôi không nhớ
là đã phạm tội như thế ấy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika,
tôi chỉ nhớ là đã phạm tội nhỏ nhoi như thế ấy.” Trong khi vị ấy
chối từ, vị kia lại già lý lẽ hơn nữa: “Này đại đức, hãy suy xét thật
kỹ lưỡng xem thử có nhớ lại là đã phạm tội nặng như thế này, là tội
pārājika hoặc gần với tội pārājika không?” Vị ấy nói như vầy: “Này
đại đức, bởi vì khi đã phạm tội ấy, cho dầu là nhỏ nhoi tôi sẽ thú nhận
dầu không được hỏi đến. Khi đã phạm tội nặng như thế ấy, là tội pārājika
hoặc gần với tội pārājika, không lẽ tôi lại không thú nhận khi được hỏi
đến hay sao?” Vị kia nói như vầy: “Này đại đức, bởi vì khi đã
phạm tội ấy, mặc dù là nhỏ nhoi đại đức sẽ không thú nhận khi không được
hỏi đến. Thì khi đã phạm tội nặng như thế ấy, là tội pārājika hoặc gần
với tội pārājika, không lẽ đại đức lại thú nhận khi không được hỏi đến?
Này đại đức, hãy suy xét thật kỹ lưỡng xem thử có nhớ lại là đã phạm
tội nặng như thế này là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika không?”
Vị ấy nói như vầy: “Này đại đức, tôi nhớ ra là đã phạm tội như thế
ấy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika. Điều tôi nói rằng: ‘Tôi
không nhớ là đã phạm tội như thế ấy, là tội pārājika hoặc gần với tội
pārājika’ là nói đùa, là nói cho có nói.”
Này các tỳ khưu, hành sự
theo tội của vị ấy nên được ban cho tỳ khưu ấy.
[688] Và này các tỳ
khưu, nên thực thi như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu
có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) trong khi được
tra hỏi tội nặng giữa hội chúng đã phủ nhận rồi thừa nhận, đã thừa nhận
rồi phủ nhận, tránh né tội ấy bằng một tội khác, cố tình nói lời dối
trá. Nếu là thời điểm thích hợp
cho hội chúng, hội chúng nên thực thi hành sự theo tội của vị ấy đến tỳ
khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) trong khi được
tra hỏi tội nặng giữa hội chúng đã phủ nhận rồi thừa nhận, đã thừa nhận
rồi phủ nhận, tránh né tội ấy bằng một tội khác, cố tình nói lời dối
trá. Hội chúng thực thi hành sự theo tội của vị ấy đến tỳ khưu tên (như
vầy). Đại đức nào đồng ý việc thực thi hành sự theo tội của vị ấy đến tỳ
khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ nhì: …(như trên)…
Tôi xin thông báo sự
việc này lần thứ ba: …(như trên)…
Hành sự theo tội của
vị ấy đã được hội chúng thực thi đến tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được
hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Này các tỳ khưu, điều ấy
được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào
điều gì?
- Nhờ vào cách hành xử
Luật với sự hiện diện và theo tội của vị ấy.
Và ở đây, điều gì là ở
trong cách hành xử Luật với sự hiện diện? - Sự hiện diện của hội chúng,
sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự.
…(như trên)…
Và ở đây, điều gì là ở
trong (cách giải quyết) theo tội của vị ấy?
- Điều nào là sự thực
hiện, sự hành động, sự đạt đến, sự thỏa thuận, sự chấp nhận, sự không
phản đối thuộc về hành sự theo tội của vị ấy; ở đây điều ấy là ở trong
(cách giải quyết) theo tội của vị ấy.
Này các tỳ khưu, nếu có
vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm
tội pācittiya (ưng đối trị); (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị
phê phán phạm tội pācittiya.
[689] Sự tranh tụng liên
quan đến tội được lắng dịu bởi bao nhiêu cách cách dàn xếp?
- Sự tranh tụng liên
quan đến tội được lắng dịu bởi ba cách dàn xếp: bằng cách hành xử Luật
với sự hiện diện, bằng việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, và bằng
cách dùng cỏ che lấp.
[690] Nếu sự tranh tụng
liên quan đến tội không áp dụng được một cách dàn xếp là cách dùng cỏ
che lấp thì có thể được lắng dịu bằng hai cách dàn xếp là cách hành xử
Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận hay
không?
- Nên trả lời rằng: “Có
thể.”
Như vậy là thế nào?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp vị tỳ khưu phạm tội nhẹ. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên
đi đến gặp một vị tỳ khưu (khác), đắp thượng y một bên vai, rồi ngồi
chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:
- Thưa đại đức, tôi
đã phạm tội tên (như vầy), tôi xin trình tội ấy.
Vị kia nên nói rằng:
- Đại đức thấy được
(tội) không?
- Thưa có, tôi thấy
được.
- Đại đức hãy thu
thúc trong tương lai.
Này các tỳ khưu, điều ấy
được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào
điều gì?
- Nhờ vào cách hành xử
Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận.
Và ở đây, điều gì là ở
trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?
- Sự hiện diện của Pháp,
sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự. …(như trên)…
Và ở đây, sự hiện diện
của nhân sự là gì?
- Vị khai báo (tội) và
vị chứng minh vị ấy khai báo (tội), cả hai đều hiện diện; ở đây, điều ấy
là sự hiện diện của nhân sự.
Và ở đây, điều gì là ở
trong việc phán xử theo tội đã được thừa nhận?
- Điều nào là sự thực
hiện, sự hành động, sự đạt đến, sự thỏa thuận, sự chấp nhận, sự không
phản đối thuộc về hành sự phán xử theo tội đã được thừa nhận; ở đây điều
ấy là ở trong việc phán xử theo tội đã được thừa nhận.
Này các tỳ khưu, khi đã
được giải quyết như thế, nếu vị ghi nhận (tội) khơi lại sự tranh tụng,
vị khơi lại phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Nếu vị ấy chấp nhận như
thế, theo đó việc ấy là tốt đẹp. Nếu vị ấy không chấp nhận như thế, này
các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến gặp nhiều vị tỳ khưu, đắp thượng y
một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm
hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:
- Thưa các ngài, tôi
đã phạm tội tên (như vầy), tôi xin trình tội ấy.
Các vị tỳ khưu ấy cần
được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
- Bạch chư đại đức,
xin hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) nhớ được, bộc lộ ra,
nói ra bằng lời, trình ra sự phạm tội. Nếu là thời điểm thích hợp cho
chư đại đức, tôi nên ghi nhận tội của vị tỳ khưu tên (như vầy).
Vị ấy nên nói rằng:
- Đại đức thấy được
(tội) không?
- Thưa có, tôi thấy
được.
- Đại đức hãy thu
thúc trong tương lai.
Này các tỳ khưu, điều ấy
được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào
điều gì?
- Nhờ vào cách hành xử
Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận.
Và ở đây, điều gì là ở
trong cách hành xử Luật với sự hiện diện? - Sự hiện diện của Pháp, sự
hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự. …(như trên)… Và ở đây, sự
hiện diện của nhân sự là gì? - Vị khai báo (tội) và vị chứng minh vị ấy
khai báo (tội), cả hai đều hiện diện; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của
nhân sự.
Và ở đây, điều gì là ở
trong việc phán xử theo tội đã được thừa nhận?
- Điều nào là sự thực
hiện, sự hành động, sự đạt đến, sự thỏa thuận, sự chấp nhận, sự không
phản đối thuộc về hành sự phán xử theo tội đã được thừa nhận; ở đây điều
ấy là ở trong việc phán xử theo tội đã được thừa nhận.
Này các tỳ khưu, khi đã
được giải quyết như thế, nếu vị ghi nhận (tội) khơi lại sự tranh tụng,
vị khơi lại phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Nếu việc ấy đạt được như
thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu vị ấy không chấp nhận như thế, này
các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên
vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp
tay lại, và nên nói như vầy:
- Bạch các ngài, tôi
đã phạm tội tên (như vầy), tôi xin trình tội ấy.
Hội chúng cần được thông
báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
- Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) nhớ được, bộc
lộ ra, nói ra bằng lời, trình ra sự phạm tội. Nếu là thời điểm thích hợp
cho hội chúng, tôi nên ghi nhận tội của vị tỳ khưu tên (như vầy).
Vị ấy nên nói rằng:
- Đại đức thấy được
(tội) không?
-Thưa có, tôi thấy
được.
- Đại đức hãy thu
thúc trong tương lai.
Này các tỳ khưu, điều ấy
được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào
điều gì?
- Nhờ vào cách hành xử
Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận. Và ở
đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện? - Sự hiện
diện của hội chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự
hiện diện của nhân sự. …(như trên)…
Này các tỳ khưu, nếu có
vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm
tội pācittiya (ưng đối trị); (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị
phê phán phạm tội pācittiya.
[691] Nếu sự tranh tụng
liên quan đến tội không áp dụng được một cách dàn xếp là việc phán xử
theo tội đã được thừa nhận thì có thể được lắng dịu bằng hai cách dàn
xếp là cách hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp hay
không?
- Nên trả lời rằng: “Có
thể.”
Như vậy là thế nào?
- Này các tỳ khưu,
trường hợp các tỳ khưu trong khi sinh hoạt có nảy sinh các sự xung đột,
các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là sa-môn bằng
lời nói và hành động đã được thực hiện. Này các tỳ khưu, trong trường
hợp ấy nếu các tỳ khưu (nghĩ) như vầy: “Chúng ta trong khi sinh hoạt
có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, có nhiều
việc không xứng là sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện.
Nếu chúng ta giải quyết lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn
có thể đưa đến lủng củng nội bộ, đưa đến bất hòa nội bộ, và đưa đến chia
rẽ nữa.” Này các tỳ khưu, ta cho phép giải quyết sự tranh tụng có
hình thức như thế bằng cách dùng cỏ che lấp.
Và này các tỳ khưu, nên
giải quyết như vậy: Tất cả nên tụ họp lại một chỗ; sau khi tụ họp lại,
hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sinh hoạt có nảy sinh
các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng
là sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện. Nếu chúng ta giải
quyết lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến
lủng củng nội bộ, đưa đến bất hòa nội bộ, và đưa đến chia rẽ nữa.
Nếu là thời điểm thích hợp cho hội
chúng, hội chúng nên giải quyết sự tranh tụng này bằng cách dùng cỏ che
lấp, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có
liên quan đến cư sĩ.”
Một vị tỳ khưu có kinh
nghiệm, đủ năng lực trong số các tỳ khưu cùng thuộc về một phe nên thông
báo đến phe của mình rằng:
“Bạch chư đại đức,
xin hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sinh hoạt có nảy sinh các sự
xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là
sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện. Nếu chúng ta giải
quyết lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến
lủng củng nội bộ, đưa đến bất hòa nội bộ, và đưa đến chia rẽ nữa.
Nếu là thời điểm thích hợp cho chư
đại đức, tôi sẽ sám hối bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của
chính chư đại đức và tội của tôi vì sự lợi ích của chính chư đại đức và
vì sự lợi ích của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại
trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ.”
[692] Rồi một vị tỳ khưu
có kinh nghiệm, đủ năng lực trong số các tỳ khưu cùng thuộc về phe kia
nên thông báo đến phe của mình rằng:
“Bạch chư đại đức,
xin hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sinh hoạt có nảy sinh các sự
xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là
sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện. Nếu chúng ta giải
quyết lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến
lủng củng nội bộ, đưa đến bất hòa nội bộ, và đưa đến chia rẽ nữa.
Nếu là thời điểm thích hợp cho chư
đại đức, tôi sẽ sám hối bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của
chính chư đại đức và tội của tôi vì sự lợi ích của chính chư đại đức và
vì sự lợi ích của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại
trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ.”
[693] Sau đó, hội chúng
nên được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực trong số
các tỳ khưu cùng thuộc về một phe rằng:
“Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sinh hoạt có nảy sinh
các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng
là sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện. Nếu chúng ta giải
quyết lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến
lủng củng nội bộ, đưa đến bất hòa nội bộ, và đưa đến chia rẽ nữa.
Nếu là thời điểm thích hợp cho hội
chúng, tôi xin sám hối bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của
chính các đại đức này và tội của tôi vì sự lợi ích của chính các đại đức
này và vì sự lợi ích của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng,
ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sinh hoạt có nảy sinh
các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng
là sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện. Nếu chúng ta giải
quyết lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến
lủng củng nội bộ, đưa đến bất hòa nội bộ, và đưa đến chia rẽ nữa. Vì sự
lợi ích của chính các đại đức này và vì sự lợi ích của tôi, tôi xin sám
hối bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của chính các đại đức
này và tội của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ
trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Đại đức nào đồng ý việc sám hối bằng
cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng đối với các tội này của chúng tôi,
ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên
quan đến cư sĩ, xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Các tội này của chúng
tôi đã được sám hối bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng, ngoại trừ
trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư
sĩ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc
này là như vậy.”
Sau đó, hội chúng …(như
trên)… thuộc về phe kia rằng:
“...(như trên)...
tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Này các tỳ khưu, điều ấy
được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào
điều gì?
- Nhờ vào cách hành xử
Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Và ở đây, điều gì là ở
trong cách hành xử Luật với sự hiện diện? - Sự hiện diện của hội chúng,
sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự.
Và ở đây, sự hiện diện của hội chúng là gì? - Các tỳ khưu theo số lượng
cần thiết cho hành sự đã đi đến, sự tùy thuận của các vị xứng đáng gởi
sự tùy thuận đã được đem lại, trong khi hiện diện các vị không phản đối;
ở đây, điều ấy là sự hiện diện của hội chúng. Và ở đây, sự hiện diện của
Pháp, sự hiện diện của Luật là gì? - Với Pháp nào, với Luật nào, với lời
giảng dạy nào của bậc Đạo Sư sự tranh tụng ấy được giải quyết; ở đây
điều ấy là sự hiện diện của Pháp, là sự hiện diện của Luật. Và ở đây, sự
hiện diện của nhân sự là gì? - Vị khai báo (tội) và vị chứng minh vị ấy
khai báo (tội), cả hai đều hiện diện; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của
nhân sự.
Và ở đây, điều gì là ở
trong việc dùng cỏ che lấp?
- Điều nào là sự thực
hiện, sự hành động, sự đạt đến, sự thỏa thuận, sự chấp nhận, sự không
phản đối thuộc về hành sự dùng cỏ che lấp; ở đây điều ấy là ở trong việc
dùng cỏ che lấp.
Này các tỳ khưu, nếu có
vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm
tội pācittiya (ưng đối trị); (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị
phê phán phạm tội pācittiya.
[694] Sự tranh tụng liên
quan đến nhiệm vụ được lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự tranh tụng liên
quan đến nhiệm vụ được lắng dịu bởi một cách dàn xếp: bằng cách hành xử
Luật với sự hiện diện.
Dứt Chương Dàn Xếp là chương thứ tư.
*******
[1]
Hai vị này là các vị đứng đầu trong nhóm Lục Sư. Thứ tự được ngài
Buddhaghosa trình bày là hai vị Paṇḍuka và Lohitaka ở thành Sāvatthi,
hai vị Mettiya và Bhummajaka ở thành Rājagaha, hai vị Assaji và
Punabbasuka ở vùng núi Kīṭā.
[2]
Ngài Buddhaghosa giải thích cách hành xử
Luật bằng sự ghi nhớ này nên cho đến chính vị có các lậu hoặc đã được
đoạn diệt, không cho đến vị khác ngay cả vị Bất Lai (antamaso
anāgāminopi).
[3]
Na gatigataṃ hoti: Ngài Buddhaghosa giải thích rằng sự tranh
tụng ấy chưa được đưa đến hai ba trú xứ, chưa được phán xét tại nơi ấy
hoặc tại chính nơi kia.
[4]
Trường hợp tỳ khưu phạm tội pārājika và saṅghādisesa
(tức là bất cộng trụ và tăng tàng).
[5]
Năm nhóm tội là: pārājika, saṅghādisesa, nissaggiya
pācittiya, pācittiya, và dukkaṭa (tức là bất cộng
trụ, tăng tàng, ưng xả đối trị, ưng đối trị, và tác ác).
[6]
Thêm vào thullaccaya và dubbhāsita là bảy (tức là trọng
tội và ác khẩu)..
[7]
Hành sự công bố hành xử năm trường hợp: Sự phục hồi, sự đuổi đi, hành
sự cạo tóc (bhaṇḍukamma), hành phạt Brahma (Phạm Đàn), và hành
sự có sự khác biệt về tướng trạng là thứ năm (xem Tập Yếu -
Parivāra, chương XIX, [1354]).
-ooOoo-
Đầu trang |
Mục lục |
01a |
01b |
02 |
03a |
03b | 04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12
|