|
Tạng Luật
Vinaya Pitaka
Tiểu Phẩm
Cullavagga
Tỳ khưu Indacanda
Nguyệt Thiên dịch
Mục lục |
01a |
01b |
02 |
03a |
03b |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 | 09 |
10 |
11 |
12
IX. CHƯƠNG ĐÌNH CHỈ GIỚI
BỔN PĀTIMOKKHA
(PĀTIMOKKHAṬṬHAPANAKKHANDHAKAṂ)
[447] Lúc bấy giờ, đức
Phật Thế Tôn ngự tại Sāvatthi, Pubbārāma (Đông Phương tự), ở tòa nhà dài
của người mẹ của Migāra
[1]
(Lộc Mẫu giảng đường). Vào lúc bấy giờ, nhằm ngày Uposatha (Bố
Tát) vào ngày mười lăm, đức Thế Tôn đang ngồi giữa hội chúng tỳ khưu.
Khi ấy trong lúc đêm khuya canh một đã tàn, đại đức Ānanda đã từ chỗ
ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay hướng về đức Thế Tôn,
và đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, đêm đã
khuya canh một đã tàn, hội chúng tỳ khưu ngồi đã lâu. Bạch ngài, xin đức
Thế Tôn tuyên đọc giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu.
Khi được nói như vậy,
đức Thế Tôn đã im lặng.
Đến lần thứ nhì, trong
lúc đêm khuya canh giữa đã tàn, đại đức Ānanda đã từ chỗ ngồi đứng dậy,
đắp thượng y một bên vai, chắp tay lên hướng về đức Thế Tôn, và đã nói
với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, đêm đã
khuya, canh giữa đã tàn, hội chúng tỳ khưu ngồi đã lâu. Bạch ngài, xin
đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu.
Đến lần thứ nhì, đức Thế
Tôn đã im lặng.
Đến lần thứ ba, trong
lúc đêm khuya canh cuối đã tàn, bình minh đã rạng, đêm lộ nét hân hoan
(nandimukhiyā rattiyā), đại đức Ānanda đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp
thượng y một bên vai, chắp tay lên hướng về đức Thế Tôn, và đã nói với
đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, đêm đã
khuya canh cuối đã tàn, bình minh đã rạng, đêm lộ nét hân hoan, hội
chúng tỳ khưu ngồi đã lâu. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn
Pātimokkha cho các tỳ khưu.
- Này Ānanda, hội chúng
không thanh tịnh.
[448] Khi ấy, đại đức
Mahāmoggallāna đã khởi ý điều này: “Liên quan đến nhân vật nào khiến
đức Thế Tôn đã nói như vầy: ‘Này Ānanda, hội chúng không thanh
tịnh’?” Sau đó, đại đức Mahāmoggallāna đã chăm chú dùng tâm quán xét
tâm của toàn thể hội chúng tỳ khưu. Và đại đức Mahāmoggallāna đã thấy
được nhân vật ấy là kẻ ác giới, ác pháp, sở hành bất tịnh và đáng nghi
ngờ, có hành động che giấu, phi sa-môn, giả mạo sa-môn, phi Phạm hạnh,
giả mạo Phạm hạnh, nội tâm thối nát, đầy phiền não, có bản chất dơ bẩn
đang ngồi giữa hội chúng tỳ khưu, sau khi thấy được đã đi đến gần nhân
vật ấy, sau khi đến gần đã nói với nhân vật ấy điều này:
- Này ông bạn, hãy đứng
dậy. Ngươi đã bị đức Thế Tôn nhìn thấy rồi. Ngươi không được cộng trú
với các tỳ khưu.
Mặc dầu được nói như
vậy, nhân vật ấy đã im lặng.
Đến lần thứ nhì, đại đức
Mahāmoggallāna đã nói với nhân vật ấy điều này:
- Này ông bạn, hãy đứng
dậy. Ngươi đã bị đức Thế Tôn nhìn thấy rồi. Ngươi không được cộng trú
với các tỳ khưu.
Đến lần thứ nhì, nhân
vật ấy đã im lặng.
Đến lần thứ ba, đại đức
Mahāmoggallāna đã nói với nhân vật ấy điều này:
- Này ông bạn, hãy đứng
dậy. Ngươi đã bị đức Thế Tôn nhìn thấy rồi. Ngươi không được cộng trú
với các tỳ khưu.
Đến lần thứ ba, nhân vật
ấy đã im lặng.
Khi ấy, đại đức
Mahāmoggallāna đã nắm lấy nhân vật ấy ở cánh tay đẩy ra bên ngoài cánh
cửa của cổng ra vào, gài chốt cửa lại, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn,
sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, nhân vật ấy
đã bị con đẩy ra ngoài rồi; hội chúng được thanh tịnh. Bạch ngài, xin
đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu.
- Này Moggallāna, thật
kỳ lạ thay! Này Moggallāna thật khác thường thay! Gã rồ dại ấy lại chờ
cho đến lúc bị nắm lấy cánh tay.
[449] Sau đó, đức Thế
Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, đây
là tám pháp kỳ diệu phi thường trong biển cả, sau khi xem xét kỷ lưỡng
những pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả. Tám điều ấy là gì?
Này các tỳ khưu, biển cả
sâu xuống dần dần, có độ dốc xuống dần dần, có sự lõm xuống dần dần,
không có vực sâu một cách đột ngột. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả sâu
xuống dần dần, có độ dốc xuống dần dần, có sự lõm xuống dần dần, không
có vực sâu một cách đột ngột, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi
thường thứ nhất trong biển cả, sau khi xem xét kỷ lưỡng pháp ấy các
A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
[450] Này các tỳ khưu,
còn có điều này nữa, biển cả có bản chất ổn định, không tràn qua khỏi
bờ. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả có bản chất ổn định, không tràn qua
khỏi bờ, này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ hai
trong biển cả, sau khi xem xét kỷ lưỡng pháp ấy các A-tu-la thỏa thích
trong biển cả.
[451] Này các tỳ khưu,
còn có điều này nữa, biển cả không sống chung với xác chết, nghĩa là khi
ở trong biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác chết ấy vào bờ và hất
lên trên đất liền. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả không sống chung với
xác chết, nghĩa là khi ở trong biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác
chết ấy vào bờ và hất lên trên đất liền, này các tỳ khưu, đây cũng là
pháp kỳ diệu phi thường thứ ba trong biển cả, sau khi xem xét kỷ lưỡng
pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
[452] Này các tỳ khưu,
còn có điều này nữa, các con sông lớn như là Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī,
Sarabhū, Mahī khi đã ra đến biển cả thì từ bỏ các tên họ trước đây và
hòa chung lại gọi là “Biển cả.” Này các tỳ khưu, sự việc các con
sông lớn như là Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī khi đã ra đến
biển cả thì từ bỏ các tên họ trước đây và hòa chung lại gọi là “Biển
cả,” này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ tư
trong biển cả, sau khi xem xét kỷ lưỡng pháp ấy các A-tu-la thỏa thích
trong biển cả.
[453] Này các tỳ khưu,
còn có điều này nữa, có các giòng nước ở trái đất đổ vào biển cả và các
trận mưa từ không trung rơi xuống, nhưng không vì điều ấy mà biển cả
được xem là vơi đi hoặc tràn đầy. Này các tỳ khưu, sự việc có các giòng
nước ở trái đất đổ vào biển cả và các trận mưa từ không trung rơi xuống
nhưng không vì điều ấy mà biển cả được xem là vơi đi hoặc tràn đầy, này
các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ năm trong biển cả,
sau khi xem xét kỷ lưỡng pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
[454] Này các tỳ khưu,
còn có điều này nữa, biển cả có một vị là vị của muối. Này các tỳ khưu,
sự việc biển cả chỉ có một vị là vị của muối, này các tỳ khưu, đây cũng
là pháp kỳ diệu phi thường thứ sáu trong biển cả, sau khi xem xét kỷ
lưỡng pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
[455] Này các tỳ khưu,
còn có điều này nữa, biển cả có nhiều vật quý, vô số vật quý. Ở đó, các
vật quý ấy như là ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc bích, xà cừ, đá quý, san
hô, bạc, vàng, ngọc ru-by, ngọc mắt mèo. Này các tỳ khưu, sự việc biển
cả có nhiều vật quý, vô số vật quý; ở đó, các vật quý ấy như là ngọc
trai, ngọc ma-ni, ngọc bích, xà cừ, đá quý, san hô, bạc, vàng, ngọc
ru-by, ngọc mắt mèo, này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi
thường thứ bảy trong biển cả, sau khi xem xét kỷ lưỡng pháp ấy các
A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
[456] Này các tỳ khưu,
còn có điều này nữa, biển cả là nơi cư trú của các chúng sanh to lớn. Ở
đó, các chúng sanh ấy là cá ông (timi), cá voi (timiṅgalo), cá ông voi
(timitimiṅgalo), cá ông khổng lồ, các A-tu-la, các loài rồng (nāga), các
Cán-thát-bà (gandhabba). Trong biển cả còn có những sinh vật lớn đến
trăm do tuần, những sinh vật lớn đến hai trăm do tuần, những sinh vật
lớn đến ba trăm do tuần, những sinh vật lớn đến bốn trăm do tuần, những
sinh vật lớn đến năm trăm do tuần. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả là
nơi cư trú của các chúng sanh to lớn; ở đó, các chúng sanh ấy là cá ông,
cá voi, cá ông voi, cá ông khổng lồ, các A-tu-la, các loài rồng, các
Cán-thát-bà. Trong biển cả còn có những sinh vật lớn đến trăm do tuần,
…(như trên)…, những sinh vật lớn đến năm trăm do tuần, này các tỳ khưu,
đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ tám trong biển cả, sau khi xem
xét kỷ lưỡng pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
[457] Này các tỳ khưu,
tương tợ như thế trong Pháp và Luật này có tám pháp kỳ diệu phi thường,
sau khi xem xét kỷ lưỡng những pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp
và Luật này. Tám điều ấy là gì?
Này các tỳ khưu, giống
như biển cả sâu xuống dần dần, có độ dốc xuống dần dần, có sự lõm xuống
dần dần, không có vực sâu một cách đột ngột, này các tỳ khưu, tương tợ
như thế trong Pháp và Luật này có sự học tập theo thứ lớp, có sự thực
hành theo thứ lớp, có sự tiến bộ theo thứ lớp, không có sự chứng ngộ đột
ngột nào khác. Này các tỳ khưu, sự việc trong Pháp và Luật này có sự học
tập theo thứ lớp, có sự thực hành theo thứ lớp, có sự tiến bộ theo thứ
lớp, không có sự chứng ngộ đột ngột nào khác, này các tỳ khưu, đây là
pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất trong Pháp và Luật này, sau khi xem xét
kỷ lưỡng pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.
[458] Này các tỳ khưu,
giống như biển cả có bản chất ổn định, không tràn qua khỏi bờ, này các
tỳ khưu, tương tợ như thế điều học nào đã được ta quy định cho các đệ
tử, các đệ tử của ta không vượt qua điều học ấy dù là nguyên nhân mạng
sống. Này các tỳ khưu, sự việc điều học nào đã được ta quy định cho các
đệ tử, các đệ tử của ta không vượt qua điều học ấy dù là nguyên nhân
mạng sống, này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ hai
trong Pháp và Luật này, sau khi xem xét kỷ lưỡng pháp ấy các tỳ khưu
thỏa thích trong Pháp và Luật này.
[459] Này các tỳ khưu,
giống như biển cả không sống chung với xác chết nghĩa là khi ở trong
biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác chết ấy vào bờ và hất lên trên
đất liền, này các tỳ khưu, tương tợ như thế nhân vật nào là kẻ ác giới,
ác pháp, sở hành bất tịnh và đáng nghi ngờ, có hành động che giấu, phi
sa-môn, giả mạo sa-môn, phi Phạm hạnh, giả mạo Phạm hạnh, nội tâm thối
nát, đầy phiền não, có bản chất dơ bẩn, hội chúng không sống chung với
kẻ ấy mà tức thời tụ hội lại loại trừ kẻ ấy ra; cho dù kẻ ấy ngồi giữa
hội chúng tỳ khưu nhưng kẻ ấy vẫn bị tách ly khỏi hội chúng và hội chúng
vẫn được tách ly với kẻ ấy. Này các tỳ khưu, sự việc nhân vật nào là kẻ
ác giới, ác pháp, sở hành bất tịnh và đáng nghi ngờ, có hành động che
giấu, phi sa-môn, giả mạo sa-môn, phi Phạm hạnh, giả mạo Phạm hạnh, nội
tâm thối nát, đầy phiền não, có bản chất dơ bẩn, hội chúng không sống
chung với nhân vật ấy mà tức thời tụ hội lại loại trừ kẻ ấy ra; cho dù
kẻ ấy ngồi giữa hội chúng tỳ khưu nhưng kẻ ấy vẫn bị tách ly khỏi hội
chúng và hội chúng vẫn được tách ly với kẻ ấy, này các tỳ khưu, đây cũng
là pháp kỳ diệu phi thường thứ ba trong Pháp và Luật này, sau khi xem
xét kỷ lưỡng pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.
[460] Này các tỳ khưu,
giống như các con sông lớn như là Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū,
Mahī khi đã ra đến biển cả thì từ bỏ các tên họ trước đây và hòa chung
lại gọi là “Biển cả,” này các tỳ khưu, tương tợ như thế bốn loại
giai cấp này là Khattiya (Sát-đế-lỵ), Brāhmaṇa
(Bà-la-môn), Vessa (Vệ-xá), và Sudda (Thủ-đà-la), khi họ
đã rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật được tuyên thuyết
bởi đức Như Lai thì từ bỏ các tên họ trước đây và hòa chung lại gọi là “Các
sa-môn Thích tử.” Này các tỳ khưu, sự việc bốn loại giai cấp này là
Khattiya (Sát-đế-lỵ), Brāhmaṇa (Bà-la-môn), Vessa
(Vệ-xá), và Sudda (Thủ-đà-la), khi họ đã rời nhà xuất gia sống
không nhà trong Pháp và Luật được tuyên thuyết bởi đức Như Lai thì từ bỏ
các tên họ trước đây và hòa chung lại gọi là “Các sa-môn Thích tử,”
này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ tư trong Pháp
và Luật này, sau khi xem xét kỷ lưỡng pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích
trong Pháp và Luật này.
[461] Này các tỳ khưu,
giống như các giòng nước ở trái đất đổ vào biển cả và các trận mưa từ
không trung rơi xuống, nhưng không vì điều ấy mà biển cả được xem là vơi
đi hoặc tràn đầy, này các tỳ khưu, tương tợ như thế cho dù nhiều vị tỳ
khưu Vô Dư Niết Bàn trong cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót, nhưng
không vì điều ấy mà cảnh giới Niết Bàn được xem là vơi đi hoặc tràn đầy.
Này các tỳ khưu, sự việc cho dù nhiều vị tỳ khưu Vô Dư Niết Bàn trong
cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót, nhưng không vì điều ấy mà cảnh giới
Niết Bàn được xem là vơi đi hoặc tràn đầy, này các tỳ khưu, đây cũng là
pháp kỳ diệu phi thường thứ năm trong Pháp và Luật này, sau khi xem xét
kỷ lưỡng pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.
[462] Này các tỳ khưu,
giống như biển cả có một vị là vị của muối, này các tỳ khưu, tương tợ
như thế Pháp và Luật này có một vị là vị của giải thoát. Này các tỳ
khưu, sự việc Pháp và Luật này có một vị là vị của giải thoát, này các
tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ sáu trong Pháp và Luật
này, sau khi xem xét kỷ lưỡng pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp
và Luật này.
[463] Này các tỳ khưu,
giống như biển cả có nhiều vật quý, vô số vật quý; ở đó, các vật quý ấy
như là ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc bích, xà cừ, đá quý, san hô, bạc,
vàng, ngọc ru-by, ngọc mắt mèo, này các tỳ khưu, tương tợ như thế Pháp
và Luật này có nhiều vật quý, vô số vật quý; ở đây, các vật quý ấy như
là Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Như Ý Túc, Năm Quyền, Năm Lực, Bảy
Pháp đưa đến Giác Ngộ, Thánh Đạo Tám Ngành. Này các tỳ khưu, sự việc
Pháp và Luật này có nhiều vật quý, vô số vật quý; ở đây, các vật quý ấy
như là Bốn Niệm Xứ, …(như trên)…, Thánh Đạo Tám Ngành, này các tỳ khưu,
đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ bảy trong Pháp và Luật này, sau
khi xem xét kỷ lưỡng pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật
này.
[464] Này các tỳ khưu,
giống như biển cả là nơi cư trú của các chúng sanh to lớn; ở đó, các
chúng sanh ấy là cá ông, ...(như trên)..., các A-tu-la, các loài rồng,
các Càn-thát-bà. Trong biển cả còn có những sinh vật lớn đến trăm do
tuần, những sinh vật lớn đến hai trăm do tuần, những sinh vật lớn đến ba
trăm do tuần, những sinh vật lớn đến bốn trăm do tuần, những sinh vật
lớn đến năm trăm do tuần. Này các tỳ khưu, tương tợ như thế Pháp và Luật
này là nơi cư trú của các chúng sanh vĩ đại; ở đây, các chúng sanh ấy là
vị Nhập Lưu, vị đang thực hành để chứng ngộ quả vị Nhập Lưu, vị Nhất
Lai, vị đang thực hành để chứng ngộ quả vị Nhất Lai, vị Bất Lai, vị đang
thực hành để chứng ngộ quả vị Bất Lai, vị A-la-hán, vị đang thực hành để
chứng ngộ quả vị A-la-hán. Này các tỳ khưu, sự việc Pháp và Luật này là
nơi cư trú của các chúng sanh vĩ đại; ở đây, các chúng sanh ấy là vị
Nhập Lưu, …(như trên)…, vị A-la-hán, vị đang thực hành để chứng ngộ quả
vị A-la-hán, này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ
tám trong Pháp và Luật này, sau khi xem xét kỷ lưỡng pháp ấy các tỳ khưu
thỏa thích trong Pháp và Luật này.
Này các tỳ khưu đây là
tám pháp kỳ diệu phi thường trong Pháp và Luật này, sau khi xem xét kỷ
lưỡng những pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.
[465] Sau đó, khi
đã hiểu ra sự việc ấy, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm
hứng này:
Nước mưa bị văng lại
ở vật đã che đậy.
Nước mưa không văng lại
ở vật được mở ra.
Do đó, hãy mở ra
vật đã được che đậy,
như vậy, ở vật ấy
nước mưa không văng lại.
[466] Sau đó, đức
Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, kể từ
hôm nay ta sẽ không tiến hành lễ Uposatha nào khác, ta sẽ không
tuyên đọc giới bổn nữa. Chính các ngươi, kể từ hôm nay các ngươi có thể
tiến hành lễ Uposatha, các ngươi có thể tụng đọc giới bổn
Pātimokkha. Này các tỳ khưu, sự việc này không hợp lý không có cơ sở
là việc đức Như Lai có thể tiến hành lễ Uposatha, có thể tuyên
đọc giới bổn Pātimokkha ở hội chúng không thanh tịnh. Này các tỳ
khưu, vị phạm tội không nên nghe giới bổn Pātimokkha; vị nào nghe
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, vị nào phạm tội
mà lắng nghe giới bổn Pātimokkha, ta cho phép đình chỉ giới bổn
Pātimokkha của vị ấy. Và này các tỳ khưu, nên đình chỉ như vầy:
Vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện
diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các
ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) là vị phạm
tội, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha
không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.” Giới bổn
Pātimokkha đã được đình chỉ.
[467] Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu nhóm Lục Sư chính là những vị phạm tội mà vẫn nghe giới bổn
Pātimokkha (nghĩ rằng): “Không ai biết chúng ta đâu!” Các
tỳ khưu trưởng lão biết được tâm của người khác nên báo cho các tỳ khưu
rằng:
- Này các đại đức, các
tỳ khưu nhóm Lục Sư tên (như vầy) và tên (như vầy) chính là những vị
phạm tội mà vẫn nghe giới bổn Pātimokkha (nghĩ rằng): “Không
ai biết chúng ta đâu!”
Các tỳ khưu nhóm Lục Sư
đã nghe rằng: “Nghe nói các tỳ khưu trưởng lão biết được tâm của
người khác nên báo cho các tỳ khưu rằng: ‘Này các đại đức, các tỳ khưu
nhóm Lục Sư tên (như vầy) và tên (như vầy) chính là những vị phạm tội mà
vẫn nghe giới bổn Pātimokkha (nghĩ rằng): ‘Không ai biết chúng ta đâu!’
” Các vị ấy (nghĩ rằng): “Trước hết, các tỳ khưu trong sạch sẽ
đình chỉ giới bổn Pātimokkha của chúng ta” nên ra tay trước đình chỉ
giới bổn Pātimokkha của các tỳ khưu trong sạch không phạm tội khi
không có cơ sở, không có nguyên nhân. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như
trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu
nhóm Lục Sư lại đình chỉ giới bổn Pātimokkha của các tỳ khưu
trong sạch không có phạm tội khi không có cơ sở, không có nguyên nhân?
Sau đó, các vị tỳ khưu
ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. …(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe
nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư đình chỉ giới bổn Pātimokkha của các
tỳ khưu trong sạch không có phạm tội khi không có cơ sở, không có nguyên
nhân, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng
vậy.
…(như trên)… Sau khi
khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, không
nên đình chỉ giới bổn Pātimokkha của các tỳ khưu trong sạch không
có phạm tội khi không có cơ sở, không có nguyên nhân; vị nào đình chỉ
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[468] Này các tỳ khưu,
một sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, một sự đúng Pháp;
hai sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, hai sự đúng Pháp;
ba sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, ba sự đúng Pháp; bốn
sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, bốn sự đúng Pháp; năm
sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, năm sự đúng Pháp; sáu
sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, sáu sự đúng Pháp; bảy
sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, bảy sự đúng Pháp; tám
sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, tám sự đúng Pháp; chín
sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, chín sự đúng Pháp; mười
sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, mười sự đúng Pháp.
[469] Thế nào là một sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Đây là một sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp.
[470] Thế nào là một sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về giới có nguyên cớ. Đây là một sự đình
chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
[471] Thế nào là hai sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ, vị đình chỉ
giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm không có nguyên
cớ. Đây là hai sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp.
[472] Thế nào là hai sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về giới có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm có nguyên cớ. Đây là hai
sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
[473] Thế nào là ba sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ, vị đình chỉ
giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm không có nguyên
cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến
không có nguyên cớ. Đây là ba sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai
Pháp.
[474] Thế nào là ba sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về giới có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm có nguyên cớ, vị đình chỉ
giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến có nguyên cớ. Đây
là ba sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
[475] Thế nào là bốn sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ, vị đình chỉ
giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm không có nguyên
cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến
không có nguyên cớ. Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư
hỏng về nuôi mạng không có nguyên cớ. Đây là bốn sự đình chỉ giới bổn
Pātimokkha sai Pháp.
[476] Thế nào là bốn sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về giới có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm có nguyên cớ, vị đình chỉ
giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến có nguyên cớ, vị
đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về nuôi mạng có
nguyên cớ. Đây là bốn sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
[477] Thế nào là năm sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với tội pārājika (bất cộng trụ) không có nguyên
cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội saṅghādisesa
(tăng tàng) không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha
với tội pācittiya (ưng đối trị) không có nguyên cớ, vị đình chỉ
giới bổn Pātimokkha với tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ)
không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội
dukkaṭa (tác ác) không có nguyên cớ. Đây là năm sự đình chỉ giới bổn
Pātimokkha sai Pháp.
[478] Thế nào là năm sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với tội pārājika (bất cộng trụ) có nguyên cớ, vị
đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội saṅghādisesa (tăng
tàng) có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội
pācittiya (ưng đối trị) có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ) có nguyên cớ,
vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội dukkaṭa (tác ác)
có nguyên cớ. Đây là năm sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng
Pháp.
[479] Thế nào là sáu sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa được thực hiện không có
nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới
đã được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha
với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị
đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã được
thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với
sự hư hỏng về tri kiến chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình
chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã được thực
hiện không có nguyên cớ. Đây là sáu sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha
sai Pháp.
[480] Thế nào là sáu sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa được thực hiện có nguyên cớ,
vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới đã được
thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư
hỏng về hạnh kiểm chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã được thực hiện có
nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri
kiến chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã được thực hiện có nguyên
cớ. Đây là sáu sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
[481] Thế nào là bảy sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với tội pārājika (bất cộng trụ) không có nguyên
cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội saṅghādisesa
(tăng tàng) không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha
với tội thullaccaya (trọng tội) không có nguyên cớ, vị đình chỉ
giới bổn Pātimokkha với tội pācittiya (ưng đối trị) không
có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội
pāṭidesanīya (ưng phát lộ) không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với tội dukkaṭa (tác ác) không có nguyên cớ, vị
đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội dubbhāsita (ác khẩu)
không có nguyên cớ. Đây là bảy sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha
sai Pháp.
[482] Thế nào là bảy sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với tội pārājika (bất cộng trụ) có nguyên cớ, vị
đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội saṅghādisesa (tăng
tàng) có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội
thullaccaya (trọng tội) có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với tội pācittiya (ưng đối trị) có nguyên cớ, vị
đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội pāṭidesanīya (ưng
phát lộ) có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội
dukkaṭa (tác ác) có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha
với tội dubbhāsita (ác khẩu) có nguyên cớ. Đây là bảy sự đình chỉ
giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
[483] Thế nào là tám sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa được thực hiện không có
nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới
đã được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha
với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị
đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã được
thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với
sự hư hỏng về tri kiến chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình
chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã được thực
hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự
hư hỏng về nuôi mạng chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ
giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về nuôi mạng đã được thực hiện
không có nguyên cớ. Đây là tám sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha
sai Pháp.
[484] Thế nào là tám sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa được thực hiện có nguyên cớ,
vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới đã được
thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư
hỏng về hạnh kiểm chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã được thực hiện có
nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri
kiến chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã được thực hiện có nguyên
cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về nuôi mạng
chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha
với sự hư hỏng về nuôi mạng đã được thực hiện có nguyên cớ. Đây là tám
sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
[485] Thế nào là chín sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa được thực hiện không có
nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới
đã được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha
với sự hư hỏng về giới đã được thực hiện và chưa được thực hiện không có
nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh
kiểm chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã được thực hiện không có
nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh
kiểm đã được thực hiện và chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị
đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến chưa được
thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với
sự hư hỏng về tri kiến đã được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ
giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã được thực hiện
và chưa được thực hiện không có nguyên cớ. Đây là chín sự đình chỉ giới
bổn Pātimokkha sai Pháp.
[486] Thế nào là chín sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn
Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa được thực hiện có nguyên cớ,
vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới đã được
thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư
hỏng về giới đã được thực hiện và chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị
đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa
được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với
sự hư hỏng về hạnh kiểm đã được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới
bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã được thực hiện và
chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha
với sự hư hỏng về tri kiến chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ
giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã được thực hiện
có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về
tri kiến đã được thực hiện và chưa được thực hiện có nguyên cớ. Đây là
chín sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
[487] Thế nào là mười sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị phạm tội pārājika
(bất cộng trụ) không ngồi trong tập thể đó, sự thảo luận về việc phạm
tội pārājika chưa được dứt điểm, vị đã xả bỏ sự học tập không
ngồi trong tập thể đó, sự thảo luận về (trường hợp) xả bỏ sự học tập
chưa được dứt điểm, vị phục tùng thỏa ước đúng Pháp (dhammikaṃ sāmaggiṃ
upeti), vị không bác bỏ thỏa ước đúng Pháp (na dhammikaṃ sāmaggiṃ
paccādiyati), sự thảo luận về việc bác bỏ thỏa ước đúng Pháp chưa được
dứt điểm, vị không bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới,
vị không bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm, vị
không bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến. Đây là
mười sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp.
[488] Thế nào là mười sự
đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị phạm tội pārājika
(bất cộng trụ) ngồi trong tập thể đó, sự thảo luận về việc phạm tội
pārājika đã được dứt điểm, vị đã xả bỏ sự học tập ngồi trong tập thể
đó, sự thảo luận về (trường hợp) xả bỏ sự học tập đã được dứt điểm, vị
không phục tùng thỏa ước đúng Pháp (dhammikaṃ sāmaggiṃ na upeti), vị bác
bỏ thỏa ước đúng Pháp (dhammikaṃ sāmaggiṃ paccādiyati), sự thảo luận về
việc bác bỏ thỏa ước đúng Pháp đã được dứt điểm, vị bị thấy bị nghe bị
nghi ngờ với sự hư hỏng về giới, vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự
hư hỏng về hạnh kiểm, vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về
tri kiến. Đây là mười sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
[489] Thế nào là vị phạm
tội pārājika (bất cộng trụ) ngồi trong tập thể đó?
Này các tỳ khưu, ở đây
sự phạm tội pārājika hiện hữu với những hình thức nào, với những
đặc tính nào, với những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu
(khác) đang phạm tội pārājika với những hình thức ấy, với những
đặc tính ấy, với những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị
tỳ khưu (khác) đang phạm tội pārājika nhưng lại có vị tỳ khưu
khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên
(như vầy) đã phạm tội pārājika!” Cho dù vị tỳ khưu không thấy vị tỳ
khưu (khác) đang phạm tội pārājika và cũng không có vị tỳ khưu
khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên
(như vầy) đã phạm tội pārājika!” nhưng chính vị tỳ khưu (phạm tội)
ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, tôi đã phạm tội pārājika!”
này các tỳ khưu, do được nghe điều ấy, do được thấy điều ấy, do nghi ngờ
điều ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười
bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên
giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Nhân vật tên (như vầy) đã phạm tội pārājika, tôi đình chỉ giới bổn
Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự
hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn
Pātimokkha là đúng Pháp.
[490] Khi giới bổn
Pātimokkha của vị tỳ khưu đã bị đình chỉ, (nếu) tập thể giải tán do
sự nguy hiểm nào đó trong mười sự nguy hiểm là sự nguy hiểm từ đức vua,
sự nguy hiểm vì trộm cướp, sự nguy hiểm vì hỏa hoạn, sự nguy hiểm vì
nước ngập, sự nguy hiểm vì loài người, sự nguy hiểm vì phi nhân, sự nguy
hiểm vì thú dữ, sự nguy hiểm vì rắn, sự nguy hiểm vì mạng sống, sự nguy
hiểm vì Phạm hạnh, này các tỳ khưu, tại trú xứ ấy hoặc trú xứ nào khác,
vị tỳ khưu (nguyên cáo) nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày
mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu
lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe
tôi. Sự thảo luận về tội pārājika của nhân vật tên (như vầy) chưa được
dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Nếu là thời điểm thích hợp
cho hội chúng, hội chúng nên quyết định sự việc này.”
Nếu việc ấy đạt được như
thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không đạt được, thì vào ngày
Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân
vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội
chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về tội pārājika của nhân vật tên
(như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Tôi đình
chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng
đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn
Pātimokkha là đúng Pháp.
[491] Thế nào là vị đã
xả bỏ sự học tập ngồi trong tập thể đó?
Này các tỳ khưu, ở đây
sự học tập được vị tỳ khưu xả bỏ với những hình thức nào, với những đặc
tính nào, với những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác)
đang xả bỏ sự học tập với những hình thức ấy, với những đặc tính ấy, với
những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác)
đang xả bỏ sự học tập nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị
tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã xả bỏ sự học
tập!” Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang xả bỏ
sự học tập và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu
rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã xả bỏ sự học tập!”
nhưng chính vị tỳ khưu (xả bỏ sự học tập) ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng:
“Này đại đức, tôi đã xả bỏ sự học tập!” này các tỳ khưu, do được
nghe điều ấy, do được thấy điều ấy, do nghi ngờ điều ấy, vị tỳ khưu nếu
muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong
sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) đã xả
bỏ sự học tập, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn
Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn
Pātimokkha là đúng Pháp.
[492] Khi giới bổn
Pātimokkha của vị tỳ khưu đã bị đình chỉ, (nếu) tập thể giải tán do
sự nguy hiểm nào đó trong mười sự nguy hiểm là sự nguy hiểm từ đức vua,
...(như trên)..., sự nguy hiểm vì Phạm hạnh, này các tỳ khưu, tại trú xứ
ấy hoặc trú xứ nào khác, vị tỳ khưu (nguyên cáo) nếu muốn thì vào ngày
Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân
vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội
chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về việc xả bỏ sự học tập của nhân
vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội
chúng, hội chúng nên quyết định sự việc này.”
Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là
tốt đẹp. Nếu không đạt được, thì vào ngày
Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân
vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội
chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về việc xả bỏ sự học tập của nhân
vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định.
Tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không
nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn
Pātimokkha là đúng Pháp.
[493] Thế nào là vị
không phục tùng thỏa ước đúng Pháp (dhammikaṃ sāmaggiṃ na upeti)?
Này các tỳ khưu, ở đây
việc không phục tùng thỏa ước đúng Pháp hiện hữu với những hình thức
nào, với những đặc tính nào, với những dấu hiệu nào, và vị tỳ khưu nhìn
thấy vị tỳ khưu khác không phục tùng thỏa ước đúng Pháp với những hình
thức ấy, với những đặc tính ấy, với những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu
không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) không phục tùng thỏa ước đúng Pháp
nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này
đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) không phục tùng thỏa ước đúng Pháp!”
Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) không phục tùng thỏa
ước đúng Pháp và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ
khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) không phục tùng
thỏa ước đúng Pháp!” nhưng chính vị tỳ khưu (không phục tùng) ấy đã
nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, tôi không phục tùng thỏa ước
đúng Pháp!” này các tỳ khưu, do được nghe điều ấy, do được thấy điều
ấy, do nghi ngờ điều ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha
là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có
thể nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy
lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) không phục tùng thỏa ước đúng
Pháp, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha
không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn
Pātimokkha là đúng Pháp.
[494] Thế nào là
vị bác bỏ thỏa ước đúng Pháp (dhammikaṃ sāmaggiṃ paccādiyati)?
Này các tỳ khưu, ở đây
việc bác bỏ thỏa ước đúng Pháp hiện hữư với những hình thức nào, với
những đặc tính nào, với những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ
khưu khác đang bác bỏ thỏa ước đúng Pháp với những hình thức ấy, với
những đặc tính ấy, với những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn
thấy vị tỳ khưu (khác) đang bác bỏ thỏa ước đúng Pháp nhưng lại có vị tỳ
khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu
tên (như vầy) bác bỏ thỏa ước đúng Pháp!” Cho dù vị tỳ khưu không
nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang bác bỏ thỏa ước đúng Pháp và cũng không
có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị
tỳ khưu tên (như vầy) bác bỏ thỏa ước đúng Pháp!” nhưng chính vị tỳ
khưu (bác bỏ thỏa ước) ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức,
tôi bác bỏ thỏa ước đúng Pháp!” Này các tỳ khưu, do được nghe điều
ấy, do được thấy điều ấy, do nghi ngờ điều ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì
vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện
diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các
ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) bác bỏ
thỏa ước đúng Pháp, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn
Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn
Pātimokkha là đúng Pháp.
[495] Khi giới bổn
Pātimokkha của vị tỳ khưu đã bị đình chỉ, (nếu) tập thể giải tán do
sự nguy hiểm nào đó trong mười sự nguy hiểm là sự nguy hiểm từ đức vua,
…(như trên)…, sự nguy hiểm vì Phạm hạnh. Này các tỳ khưu, tại trú xứ ấy
hoặc trú xứ nào khác, vị tỳ khưu (nguyên cáo) nếu muốn thì vào ngày
Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân
vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội
chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về việc bác bỏ thỏa ước đúng Pháp
của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được
quyết định. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên
quyết định sự việc ấy.”
Nếu sự việc ấy có thể
đạt được như vậy, sự việc ấy như thế là tốt đẹp. Nếu không thể đạt được,
thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự
hiện diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các
ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về việc bác bỏ thỏa
ước đúng Pháp của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy
chưa được quyết định. Tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới
bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn
Pātimokkha là đúng Pháp.
[496] Thế nào là vị bị
thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới?
Này các tỳ khưu, ở đây
vị tỳ khưu bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới do những
hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu
biết được vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng
về giới bởi những hình thức ấy, bởi những đặc tính ấy, bởi những dấu
hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không biết được vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị
nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới nhưng lại có vị tỳ khưu khác
(thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như
vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới!” Cho dù vị
tỳ khưu không biết được vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ
với sự hư hỏng về giới và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với
vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị
nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới!” nhưng chính vị tỳ khưu
(can phạm) ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, tôi bị thấy
bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới!” Này các tỳ khưu, do
được nghe điều ấy, do được thấy điều ấy, do nghi ngờ điều ấy, vị tỳ khưu
nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm,
trong sự hiện diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) bị
thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới, tôi đình chỉ giới bổn
Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự
hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn
Pātimokkha là đúng Pháp.
[497] Thế nào là vị bị
thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm?
Này các tỳ khưu, ở đây
vị tỳ khưu bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm do
những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ
khưu biết được vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư
hỏng về hạnh kiểm bởi những hình thức ấy, bởi những đặc tính ấy, bởi
những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không biết được vị tỳ khưu (khác)
bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm nhưng lại có vị
tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ
khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh
kiểm!” Cho dù vị tỳ khưu không biết được vị tỳ khưu (khác) bị thấy
bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm và cũng không có vị tỳ
khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu
tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm!”
nhưng chính vị tỳ khưu (can phạm) ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: “Này
đại đức, tôi bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm!”
Này các tỳ khưu, do được nghe điều ấy, do được thấy điều ấy, do nghi ngờ
điều ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười
bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên
giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Nhân vật tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về
hạnh kiểm, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn
Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn
Pātimokkha là đúng Pháp.
[498] Thế nào là vị bị
thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến?
Này các tỳ khưu, ở đây
vị tỳ khưu bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến do
những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ
khưu biết được vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư
hỏng về tri kiến bởi những hình thức ấy, bởi những đặc tính ấy, bởi
những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không biết được vị tỳ khưu (khác)
bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến nhưng lại có vị
tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ
khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri
kiến!” Cho dù vị tỳ khưu không biết được vị tỳ khưu (khác) bị thấy
bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến và cũng không có vị tỳ
khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu
tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến!”
nhưng chính vị tỳ khưu (can phạm) ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: “Này
đại đức, tôi bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến!”
Này các tỳ khưu, do được nghe điều ấy, do được thấy điều ấy, do nghi ngờ
điều ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười
bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên
giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Nhân vật tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri
kiến, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha
không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn
Pātimokkha là đúng Pháp.
Dứt tụng phẩm thứ nhất.
[499] Khi ấy, đại
đức Upāli đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn
rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Upāli đã
nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, vị tỳ khưu
có ý muốn áp dụng sự hành xử (attādānaṃ ādātukāmena bhikkhunā) nên áp
dụng sự hành xử khi được hội đủ bao nhiêu điều kiện?
- Này Upāli, vị tỳ khưu
có ý muốn áp dụng sự hành xử nên áp dụng sự hành xử khi hội đủ năm điều
kiện:
Này Upāli, vị tỳ khưu có
ý muốn áp dụng sự hành xử nên quán xét như sau: “Việc ta có ý muốn áp
dụng sự hành xử này là đúng thời điểm để áp dụng sự hành xử này hay
không đúng (thời điểm)?” Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán
xét biết rõ như vầy: “Sái thời điểm để áp dụng sự hành xử này, không
phải đúng thời điểm.” Này Upāli, không nên áp dụng sự hành xử
ấy.
Này Upāli, nếu vị tỳ
khưu trong lúc quán xét biết rõ như vầy: “Đúng thời điểm để áp dụng
sự hành xử này, không phải sái thời điểm;” này Upāli, vị tỳ khưu ấy
nên quán xét thêm rằng: “Việc ta có ý muốn áp dụng sự hành xử này,
nhưng sự hành xử này là hợp lý hay không (hợp lý)?” Này Upāli, nếu
vị tỳ khưu trong lúc quán xét biết rõ như vầy: “Sự hành xử này là vô
lý, không hợp lý;” này Upāli, không nên áp dụng sự hành xử ấy.
Này Upāli, nếu vị tỳ
khưu trong lúc quán xét biết rõ như vầy: “Sự hành xử này là hợp lý,
không phải không hợp lý;”
này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm rằng: “Việc ta có ý muốn
áp dụng sự hành xử này, nhưng sự hành xử này có đem lại sự lợi ích hay
không (đem lại sự lợi ích)?” Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc
quán xét biết rõ như vầy: “Sự hành xử này đem lại sự vô ích, không
đem lại sự lợi ích;” này Upāli, không nên áp dụng sự hành xử ấy.
Này Upāli, nếu vị tỳ
khưu trong lúc quán xét biết rõ như vầy: “Sự hành xử này đem lại sự
lợi ích, không phải đem lại sự vô ích;” này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên
quán xét thêm rằng: “Trong khi áp dụng sự hành xử này, ta sẽ đạt được
các tỳ khưu cùng tri kiến cùng quan điểm ở trong nhóm theo đúng Pháp
theo đúng Luật hay sẽ không (đạt được)?” Này Upāli, nếu vị tỳ khưu
trong lúc quán xét biết rõ như vầy: “Trong khi áp dụng sự hành xử
này, ta sẽ không đạt được các tỳ khưu cùng tri kiến cùng quan điểm ở
trong nhóm theo đúng Pháp theo đúng Luật;” này Upāli, không nên áp
dụng sự hành xử ấy.
Này Upāli, nếu vị tỳ
khưu trong lúc quán xét biết rõ như vầy: “Trong khi áp dụng sự hành
xử này, ta sẽ đạt được các tỳ khưu cùng tri kiến cùng quan điểm ở trong
nhóm theo đúng Pháp, theo đúng Luật;” này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên
quán xét thêm rằng: “Khi sự hành xử này của ta được thừa nhận, do
nguyên nhân ấy sẽ xảy ra sự tranh cãi, cãi cọ, xung đột, tranh luận cho
hội chúng, (sẽ xảy ra) sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội
chúng, sự phân loại trong hội chúng, sự đa dạng trong hội chúng hay sẽ
không xảy ra?” Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét biết rõ
như vầy: “Khi sự hành xử này của ta được thừa nhận, do nguyên nhân ấy
sẽ xảy ra sự tranh cãi, cãi cọ, xung đột, tranh luận cho hội chúng, (sẽ
xảy ra) sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân loại
trong hội chúng, sự đa dạng trong hội chúng;” này Upāli, không nên
áp dụng sự hành xử ấy.
Này Upāli nếu vị tỳ khưu
trong lúc quán xét biết rõ như vầy: “Khi sự hành xử này của ta được
thừa nhận, do nguyên nhân ấy sẽ không xảy ra sự tranh cãi, cãi cọ, xung
đột, tranh luận cho hội chúng, (sẽ không xảy ra) sự chia rẽ hội chúng,
sự bất đồng trong hội chúng, sự phân loại trong hội chúng, sự đa dạng
trong hội chúng;” này Upāli, nên áp dụng sự hành xử ấy.
Này Upāli, sự hành xử
hội đủ năm điều kiện như thế được áp dụng sẽ không đem lại sự ân hận sau
này.
[500] - Bạch
ngài, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét
bản thân (ajjhattaṃ) bao nhiêu pháp rồi mới nên khiển trách vị khác?
- Này Upāli, vị tỳ khưu
nguyên cáo có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét bản thân năm pháp
rồi mới nên khiển trách vị khác.
Này Upāli, vị tỳ khưu
nguyên cáo có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét như vầy: “Ta có
sở hành về thân trong sạch không? Ta có hội đủ sở hành về thân trong
sạch, không sai sót, không lỗi lầm không? Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay
không (được tìm thấy)?” Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không có sở hành
về thân trong sạch, không hội đủ sở hành về thân trong sạch, không sai
sót, không lỗi lầm, có những người nói với vị ấy rằng: “Này, đến lúc
đại đức nên rèn luyện điều liên quan đến thân;” như thế là những
người nói về vị ấy.
[501] Này Upāli, còn có
điều khác nữa, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn khiển trách vị khác nên
quán xét như vầy: “Ta có sở hành về khẩu trong sạch không? Ta có hội
đủ sở hành về khẩu trong sạch, không sai sót, không lỗi lầm không? Pháp
ấy được tìm thấy ở ta hay không (được tìm thấy)?” Này Upāli, nếu vị
tỳ khưu không có sở hành về khẩu trong sạch, không hội đủ sở hành về
khẩu trong sạch, không sai sót, không lỗi lầm, có những người nói với vị
ấy rằng: “Này, đến lúc đại đức nên rèn luyện điều liên quan đến khẩu;”
như thế là những người nói về vị ấy.
[502] Này Upāli, còn có
điều khác nữa, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn khiển trách vị khác nên
quán xét như vầy: “Tâm từ của ta tức là tâm không ác cảm đối với các
vị đồng Phạm hạnh có hiện khởi không?Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay
không (được tìm thấy)?” Này Upāli, nếu tâm từ của vị tỳ khưu là tâm
không ác cảm đối với các vị đồng Phạm hạnh không có hiện khởi, có những
người nói với vị ấy rằng: “Này, đến lúc đại đức nên thể hiện tâm từ
đến các vị đồng Phạm hạnh;” như thế là những người nói về vị
ấy.
[503] Này Upāli, còn có
điều khác nữa, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn khiển trách vị khác nên
quán xét như vầy: “Ta có phải là vị nghe nhiều, là vị ghi nhớ được
điều đã nghe, có sự tích lũy điều đã nghe không? Những Pháp nào có sự
tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối, tuyên
thuyết về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy
đủ, có sự thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự,
các Pháp có hình thức tương tợ như thế có được ta nghe nhiều, có được
ghi nhớ, có được tích lũy bằng cách đọc lại, có được dụng tâm quán xét,
có được thâm nhập bằng tri kiến không?Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay
không (được tìm thấy)?” Này Upāli,
nếu vị tỳ khưu không phải là vị nghe nhiều, không phải là vị ghi nhớ
được điều đã nghe, không có tích lũy điều đã nghe. Những Pháp nào có sự
tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối, tuyên
thuyết về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ, có sự
thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự,
các Pháp có hình thức tương tợ như thế không
được vị ấy nghe nhiều, không được ghi nhớ, không được tích lũy bằng cách
đọc lại, không được dụng tâm quán xét, không được thâm nhập bằng tri
kiến, có những người nói với vị ấy rằng: “Này, đến lúc đại đức nên
học tập kinh điển;” như thế là những người nói về vị ấy.
[504] Này Upāli, còn có
điều khác nữa, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn khiển trách vị khác nên
quán xét như vầy: “Hai bộ giới bổn Pātimokkha có được truyền lại đến
ta một cách chi tiết, khéo được phân tích, khéo được áp dụng, khéo được
xác định theo từng điều học hoặc từng từ ngữ không?Pháp ấy được tìm thấy
ở ta hay không (được tìm thấy)?” Này Upāli, nếu hai bộ giới bổn
Pātimokkha không được truyền lại đến vị tỳ khưu một cách chi tiết,
không khéo được phân tích, không khéo được áp dụng, không khéo được xác
định theo từng điều học hoặc từng từ ngữ, khi được hỏi như vầy: “Này
đại đức, điều này đã được đức Thế Tôn nói ở đâu?” mà không đáp được,
có những người nói với vị ấy rằng: “Này, đến lúc đại đức nên học tập
về Luật;” như thế là những người nói về vị ấy.
Này Upāli, vị tỳ khưu
nguyên cáo có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét bản thân năm pháp
này rồi mới nên khiển trách vị khác.
[505] - Bạch ngài, vị tỳ
khưu nguyên cáo có ý muốn khiển trách vị khác nên chuẩn bị bản thân
(ajjhattaṃ upaṭṭhāpetvā) bao nhiêu pháp rồi mới nên khiển trách vị khác?
- Này Upāli, vị tỳ khưu
nguyên cáo có ý muốn khiển trách vị khác nên chuẩn bị bản thân năm pháp
rồi mới nên khiển trách vị khác: “Ta sẽ nói hợp thời, không phải sái
thời; ta sẽ nói với sự thật, không phải với sự sai trái; ta sẽ nói với
sự mềm mỏng, không phải bằng cách thô lỗ; ta sẽ nói có liên hệ đến lợi
ích, không phải không liên hệ đến lợi ích; ta sẽ nói với tâm từ, không
phải với nội tâm có sân hận.”
Này Upāli, vị tỳ khưu
nguyên cáo có ý muốn khiển trách vị khác nên chuẩn bị bản thân năm pháp
này rồi mới nên khiển trách vị khác.
[506] -
Bạch ngài, sự ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách không
đúng Pháp với bao nhiêu hình thức?
- Này Upāli, sự ân hận
sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách không đúng Pháp với năm hình
thức. (Ai đó có thể nói rằng): “Đại đức khiển trách sái thời, không
hợp thời, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách
với sự sai trái, không phải với sự thật, thế là đủ để đưa đến sự ân hận
cho ngài. Đại đức khiển trách bằng cách thô lỗ, không phải với sự
mềm mỏng, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách
không liên hệ đến lợi ích, không phải có liên hệ đến lợi ích, thế là đủ
để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách với nội tâm có sân
hận, không phải với tâm từ, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài.”
Này Upāli, sự ân hận sẽ
được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách không đúng Pháp với năm hình
thức này. Lý do của điều ấy là gì? Là vì không có vị tỳ khưu nào khác có
thể nghĩ đến là nên khiển trách với việc sai trái như thế.
[507] - Bạch ngài, sự
không có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách không đúng
Pháp với bao nhiêu hình thức?
- Này Upāli, sự không có
ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách không đúng Pháp với
năm hình thức. (Ai đó có thể nói rằng): “Đại đức bị khiển trách sái
thời, không hợp thời, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại
đức bị khiển trách với sự sai trái, không phải với sự thật, thế là đủ để
không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách bằng cách thô
lỗ, không phải với sự mềm mỏng, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho
ngài. Đại đức bị khiển trách không liên hệ đến lợi ích, không phải có
liên hệ đến lợi ích, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại
đức bị khiển trách bởi nội tâm có sân hận, không phải bởi tâm từ, thế là
đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài.”
Này Upāli, sự không có
ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách không đúng Pháp với
năm hình thức này.
[508] - Bạch ngài, sự
không có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách đúng Pháp với
bao nhiêu hình thức?
- Này Upāli, sự không có
ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách đúng Pháp với năm hình
thức. (Ai đó có thể nói rằng): “Đại đức khiển trách hợp thời, không
sái thời, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển
trách với sự thật, không phải với sự sai trái, thế là đủ để không đưa
đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách với sự mềm mỏng, không phải
bằng cách thô lỗ, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức
khiển trách có liên hệ đến lợi ích, không phải không liên hệ đến lợi
ích, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách
với tâm từ, không phải với nội tâm có sân hận, thế là đủ để không đưa
đến sự ân hận cho ngài.”
Này Upāli, sự không có
ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách đúng Pháp với năm hình
thức này. Lý do của điều ấy là gì? Là vì cũng có vị tỳ khưu khác sẽ nghĩ
đến nên khiển trách với sự thật như thế.
[509] - Bạch ngài, sự có
ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách đúng Pháp với bao
nhiêu hình thức?
- Này Upāli, sự có ân
hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách đúng Pháp với năm hình
thức. (Ai đó có thể nói rằng): “Đại đức bị khiển trách hợp thời,
không sái thời, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị
khiển trách với sự thật, không phải với sự sai trái, thế là đủ để đưa
đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách với sự mềm mỏng, không
phải bằng cách thô lỗ, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức
bị khiển trách có liên hệ đến lợi ích, không phải không liên hệ đến lợi
ích, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách bởi
từ tâm, không phải bởi nội tâm có sân hận, thế là đủ để đưa đến sự ân
hận cho ngài.”
Này Upāli, sự có ân hận
sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách đúng Pháp với năm hình
thức này.
[510] - Bạch ngài, vị tỳ
khưu nguyên cáo có ý muốn khiển trách vị khác nên tác ý nội tâm bao
nhiêu pháp rồi mới nên khiển trách vị khác?
- Này Upāli, vị tỳ khưu
nguyên cáo có ý muốn khiển trách vị khác nên tác ý nội tâm năm pháp rồi
mới nên khiển trách vị khác: lòng bi mẫn, sự tầm cầu lợi ích, lòng
thương xót, sự thoát khỏi tội, sự tôn trọng Luật.
Này Upāli, vị tỳ khưu
nguyên cáo có ý muốn khiển trách vị khác nên tác ý nội tâm năm pháp này
rồi mới nên khiển trách vị khác.
[511] - Bạch ngài, vị tỳ
khưu bị khiển trách nên an trú trong bao nhiêu pháp?
- Này Upāli, vị tỳ khưu
bị khiển trách nên an trú trong hai pháp: chân thật và không nổi giận.
Dứt tụng phẩm thứ nhì.
Dứt
Chương Đình Chỉ Giới Bổn Pātimokkha là chương thứ chín.
Trong chương này có ba mươi sự việc, hai tụng
phẩm.
*******
Tóm lược chương này:
[512]
Trong ngày lễ Bố Tát,
cho đến lần thứ ba
ác tỳ khưu không ra
cũng đã bị kéo ra
bởi Moggallāna.
Diệu kỳ trong Pháp Phật:
điều học theo thứ lớp
ổn định, không vượt qua,
hội chúng chê xác thối,
các sông bỏ (tên gọi)
và trôi chảy, Niết Bàn
chỉ một vị giải thoát,
Pháp và Luật có nhiều
thú lớn, tám Thánh Nhân,
Ngài đã dùng ví dụ
biển cả để phô bày
tính chất của Giáo Pháp.
Giới bổn ngày Bố Tát,
“Không ai biết chúng ta!”
vì sửa chữa, chúng hủy
một, hai, ba, bốn, năm,
sáu, bảy, tám, chín, mười:
Giới, hạnh kiểm, tri kiến,
nuôi mạng là bốn phần,
bất cộng trụ, tăng tàng
ưng đối trị, phát lộ,
tác ác thuộc năm phần.
Hư hỏng giới, hạnh kiểm,
chưa làm và đã làm,
theo cách này sáu phần.
Bất cộng trụ, tăng tàng,
trọng tội, ưng đối trị,
ưng phát lộ, tác ác,
và lời nói sái quấy.
Hư hỏng giới, hạnh kiểm,
tri kiến, nuôi mạng sai.
tám điều làm, chưa làm.
Giới, hạnh kiểm, tri kiến,
chưa làm, và đã làm,
đã làm và chưa làm,
như vậy là chín cách
đã được đề cập đến,
theo phương pháp như thật.
Kẻ bị bất cộng trụ,
các chuyện còn chưa quyết,
vị hoàn tục giống y,
vị phục tùng, bác bỏ,
thảo luận sự bác bỏ.
Sự hư hỏng về giới
và hạnh kiểm, cũng vậy
sự hư hỏng tri kiến.
được thấy, nghe, nghi ngờ,
hãy biết rõ điều ấy,
cả thảy có mười cách.
Tỳ khưu thấy tỳ khưu,
vị khác nói điều ấy,
trong sạch, vị ấy khai
và đình chỉ giới bổn
Pātimokkha lại.
Giải tán vì nguy hiểm:
vua, cướp, lửa, và nước,
người, phi nhân, thú, rắn,
mạng sống và Phạm hạnh,
chỉ một điều của mười,
hoặc trong các điều khác.
Đúng Pháp và phi Pháp,
biết đường lối như vầy:
về thời gian, sự thật,
có liên hệ lợi ích,
ta sẽ đạt hoặc có,
thuộc thân, khẩu, từ tâm,
học nhiều, hai bộ phái,
đúng thời, theo sự thật,
lời mềm mỏng, lợi ích,
tâm từ, vị khiển trách
ân hận bởi phi Pháp
như thế sẽ xóa đi.
Với vị khi khiển trách
và vị bị khiển trách,
theo Pháp không ân hận,
vì bi mẫn, lợi ích,
thương xót, sự thoát tội,
vì tôn vinh (Giới Luật).
Hành động vị khiển trách
đấng Toàn Giác đã giảng,
còn vị bị khiển trách
chân thật, không sân hận.
[1]
Tức là nữ cư sĩ Visākhā.
-ooOoo-
Đầu trang |
Mục lục |
01a |
01b |
02 |
03a |
03b |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 | 09 |
10 |
11 |
12
|