|
Tạng Luật
Vinayapitaka
Bộ Tập Yếu
Parivāra
Tỳ khưu Indacanda Nguyệt Thiên dịch
2004
Mục lục |
01a |
01b |
01c | 01d |
02a |
02b |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
18 |
19
I. MƯỜI SÁU PHẦN CHÍNH
thuộc
PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU (tt)
[244] Vị trong khi thực hiện việc đôi lứa vi phạm
bao nhiêu tội?
– Vị trong khi thực hiện việc đôi lứa vi phạm ba
tội: Vị thực hiện việc đôi lứa nơi thi thể chưa bị (thú) ăn phạm tội
pārājika. Vị thực hiện việc đôi lứa nơi thi thể đã bị (thú) ăn
nhiều phần phạm tội thullaccaya. Vị đưa dương vật vào miệng đã
được mở ra nhưng không bị va chạm phạm tội dukkaṭa. Vị trong
khi thực hiện việc đôi lứa vi phạm ba tội này.
[245] Vị trong khi lấy vật chưa được cho vi phạm
bao nhiêu tội?
– Vị trong khi lấy vật chưa được cho vi phạm ba
tội: Vị lấy theo lối trộm cắp vật chưa được cho trị giá năm māsaka
hoặc hơn năm māsaka phạm tội pārājika. Vị lấy theo lối
trộm cắp vật chưa được cho trị giá hơn một māsaka hoặc kém năm
māsaka phạm tội thullaccaya. Vị lấy theo lối trộm cắp
vật chưa được cho trị giá một māsaka hoặc kém một māsaka
phạm tội dukkaṭa. Vị trong khi lấy vật chưa được cho vi phạm ba
tội này.
[246] Vị trong khi cố ý đoạt lấy mạng sống con
người vi phạm bao nhiêu tội?
– Vị trong khi cố ý đoạt lấy mạng sống con người
vi phạm ba tội: Vị đào hố để bẩy người (nghĩ rằng): “Người rơi
xuống sẽ chết” phạm tội dukkaṭa. Khi đã bị rơi xuống, cảm
thọ khổ sanh khởi (ở nạn nhân) thì phạm tội thullaccaya. (Nạn
nhân) chết đi thì phạm tội pārājika. Vị trong khi cố ý đoạt lấy
mạng sống con người vi phạm ba tội này.
[247] Vị trong khi khoác lác về pháp thượng nhân
không có không thực chứng vi phạm bao nhiêu tội?
– Vị trong khi khoác lác về pháp thượng nhân
không có không thực chứng vi phạm ba tội: Vị có ước muốn xấu xa, bị
thúc giục bởi ước muốn, rồi khoác lác về pháp thượng nhân không có
không thực chứng phạm tội pārājika. Vị nói rằng: “Vị (tỳ
khưu) nào cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy là bậc
A-la-hán,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya;
(người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa. Vị trong khi
khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng vi phạm ba tội
này.
Dứt
bốn điều pārājika.
[248] Vị trong khi gắng sức và làm xuất ra tinh
dịch vi phạm bao nhiêu tội?
– Vị trong khi gắng sức và làm xuất ra tinh dịch
vi phạm ba tội: Vị có ý định, gắng sức, bị xuất ra phạm tội
saṅghādisesa. Vị có ý định, gắng sức, không bị xuất ra phạm tội
thullaccaya. Trong lúc tiến hành, phạm tội dukkaṭa.
[249] Vị trong khi thực hiện việc xúc chạm thân
thể với người nữ vi phạm ba tội: Vị sờ vào thân (người nữ) bằng thân
(vị ấy) phạm tội saṅghādisesa. Vị sờ vào vật được gắn liền với
thân (người nữ) bằng thân (vị ấy) phạm tội thullaccaya. Vị sờ
vào vật được gắn liền với thân (người nữ) bằng vật được gắn liền với
thân (vị ấy) phạm tội dukkaṭa.
[250] Vị trong khi nói với người nữ bằng những
lời dâm dật vi phạm ba tội: Vị nói lời ca ngợi, nói lời chê bai đề cập
đến đường tiêu, đường tiểu phạm tội saṅghādisesa. Vị nói lời ca
ngợi, nói lời chê bai đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở
xuống và từ đầu gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu phạm tội
thullaccaya. Vị nói lời ca ngợi, nói lời chê bai đề cập đến vật
gắn liền với thân phạm tội dukkaṭa.
[251] Vị trong khi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho
bản thân vi phạm ba tội: Vị ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân
trong sự hiện diện của người nữ phạm tội saṅghādisesa. Vị ca
ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người vô
căn phạm tội thullaccaya. Vị ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản
thân trong sự hiện diện của loài thú phạm tội dukkaṭa.
[252] Vị trong khi tiến hành việc mai mối vi phạm
ba tội: Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) phạm tội
saṅghādisesa. Vị nhận lời, thông báo, không đem lại (hồi báo) phạm
tội thullaccaya. Vị nhận lời, không thông báo, không đem lại
(hồi báo) phạm tội dukkaṭa.
[253] Vị trong khi tự xin (vật liệu) rồi bảo xây
dựng cốc liêu vi phạm ba tội: Vị bảo xây dựng, trong lúc tiến hành
phạm tội dukkaṭa. Còn cục (vữa tô) cuối cùng phạm tội
thullaccaya. Khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt vào phạm tội
saṅghādisesa.
[254] Vị trong khi bảo xây dựng trú xá lớn vi
phạm ba tội: Vị bảo xây dựng, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa.
Còn cục (vữa tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya. Khi cục (vữa
tô) ấy đã được đặt vào phạm tội saṅghādisesa.
[255] Vị trong khi bôi nhọ vị tỳ khưu về tội
pārājika không có nguyên cớ vi phạm ba tội: Vị khi chưa thỉnh ý
(để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội), phạm tội
dukkaṭa và tội saṅghādisesa. Sau khi đã thỉnh ý (để buộc
tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời
mắng nhiếc.[1]
[256] Vị sau khi nắm lấy sự kiện nào đó chỉ là
nhỏ nhặt thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt rồi trong khi
bôi nhọ vị tỳ khưu về tội pārājika vi phạm ba tội: Vị khi chưa
thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) phạm
tội dukkaṭa và tội saṅghādisesa. Sau khi đã thỉnh ý (để
buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội
nói lời mắng nhiếc.
[257] Vị tỳ khưu là người chia rẽ hội chúng trong
khi được nhắc nhở đến lần thứ ba vẫn không chịu dứt bỏ vi phạm ba tội:
Do lời đề nghị phạm tội dukkaṭa. Do hai lời thông báo của hành
sự phạm các tội thullaccaya. Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự,
phạm tội saṅghādisesa.
[258] Các tỳ khưu là những kẻ ủng hộ vị chia rẽ
(hội chúng) trong khi được nhắc nhở đến lần thứ ba vẫn không chịu dứt
bỏ vi phạm ba tội: Do lời đề nghị phạm tội dukkaṭa. Do hai lời
thông báo của hành sự phạm các tội thullaccaya. Khi chấm dứt
tuyên ngôn hành sự, phạm tội saṅghādisesa.
[259] Vị tỳ khưu khó dạy trong khi được nhắc nhở
đến lần thứ ba vẫn không chịu dứt bỏ vi phạm ba tội: Do lời đề nghị
phạm tội dukkaṭa. Do hai lời thông báo của hành sự phạm các tội
thullaccaya. Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự, phạm tội
saṅghādisesa.
[260] Vị tỳ khưu là người làm hư hỏng các gia
đình trong khi được nhắc nhở đến lần thứ ba vẫn không chịu dứt bỏ vi
phạm ba tội: Do lời đề nghị phạm tội dukkaṭa. Do hai lời thông
báo của hành sự phạm các tội thullaccaya. Khi chấm dứt tuyên
ngôn hành sự, phạm tội saṅghādisesa.
Dứt
mười ba điều saṅghādisesa.
[261] Vị trong khi vượt quá mười ngày về (việc
cất giữ) y phụ trội vi phạm một tội nissaggiya pācittiya.
[262] Vị trong khi xa lìa ba y một đêm vi phạm
một tội nissaggiya pācittiya.
[263] Vị sau khi thọ lãnh y ngoài hạn kỳ, trong
khi vượt quá một tháng vi phạm một tội nissaggiya pācittiya.
[264] Vị trong khi bảo tỳ khưu ni không phải là
thân quyến giặt y cũ dơ vi phạm hai tội: Vị bảo giặt, trong lúc tiến
hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã được giặt xong, phạm tội
nissaggiya pācittiya.
[265] Vị trong khi nhận lãnh y từ tay của tỳ khưu
ni không phải là thân quyến vi phạm hai tội: Vị nhận lấy, trong lúc
tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã nhận lấy, phạm tội
nissaggiya pācittiya.
[266] Vị trong khi yêu cầu nam gia chủ hoặc nữ
gia chủ không phải là thân quyến về y vi phạm hai tội: Vị yêu cầu,
trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã yêu cầu, phạm tội
nissaggiya pācittiya.
[267] Vị trong khi yêu cầu nam gia chủ hoặc nữ
gia chủ không phải là thân quyến về y vượt quá số lượng ấy vi phạm hai
tội: Vị yêu cầu, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã
yêu cầu, phạm tội nissaggiya pācittiya.
[268] Vị khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến
gặp người gia chủ không phải là thân quyến, trong khi đưa ra sự căn
dặn về y vi phạm hai tội: Vị đưa ra sự căn dặn, trong lúc tiến hành
phạm tội dukkaṭa. Khi đã đưa ra sự căn dặn, phạm tội
nissaggiya pācittiya.
[269] Vị khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến
gặp các gia chủ không phải là thân quyến, trong khi đưa ra sự căn dặn
về y vi phạm hai tội: Vị đưa ra sự căn dặn, trong lúc tiến hành phạm
tội dukkaṭa. Khi đã đưa ra sự căn dặn, phạm tội nissaggiya
pācittiya.
[270] Vị trong khi đạt được y bằng lời nhắc nhở
quá ba lần và bằng hành động đứng quá sáu lần vi phạm hai tội: Vị đạt
được (y), trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã đạt được
(y), phạm tội nissaggiya pācittiya.
Phần
Kaṭhina là phần thứ nhất.
[271] Vị trong khi bảo làm tấm trải nằm (ngọa cụ)
có trộn lẫn tơ tằm vi phạm hai tội: Vị bảo làm, trong lúc tiến hành
phạm tội dukkaṭa. Khi đã được làm xong, phạm tội nissaggiya
pācittiya.
[272] Vị trong khi bảo làm tấm trải nằm bằng lông
cừu thuần màu đen vi phạm hai tội: Vị bảo làm, trong lúc tiến hành
phạm tội dukkaṭa. Khi đã được làm xong, phạm tội nissaggiya
pācittiya.
[273] Vị trong khi bảo làm tấm trải nằm mới mà
không lấy một phần lông cừu màu trắng và một phần lông cừu màu nâu đỏ
vi phạm hai tội: Vị bảo làm, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa.
Khi đã được làm xong, phạm tội nissaggiya pācittiya.
[274] Vị trong khi bảo làm tấm trải nằm mỗi năm
vi phạm hai tội: Vị bảo làm, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa.
Khi đã được làm xong, phạm tội nissaggiya pācittiya.
[275] Vị trong khi bảo làm tấm lót ngồi (tọa cụ)
mới mà không lấy ở phần xung quanh của tấm trải nằm cũ một gang tay
của đức Thiện thệ vi phạm hai tội: Vị bảo làm, trong lúc tiến hành
phạm tội dukkaṭa. Khi đã được làm xong, phạm tội nissaggiya
pācittiya.
[276] Vị sau khi thọ lãnh các lông cừu, trong khi
mang đi quá ba do tuần vi phạm hai tội: Vị mang đi quá ba do tuần bước
thứ nhất phạm tội dukkaṭa. Mang đi quá bước thứ nhì phạm tội
nissaggiya pācittiya.
[277] Vị trong khi bảo tỳ khưu ni không phải là
thân quyến giặt các lông cừu vi phạm hai tội: Vị bảo giặt, trong lúc
tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã được giặt xong, phạm tội
nissaggiya pācittiya.
[278] Vị trong khi nhận lãnh vàng bạc vi phạm hai
tội: Vị cầm lấy, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã
cầm lấy, phạm tội nissaggiya pācittiya.
[279] Vị trong khi thực hiện việc trao đổi vàng
bạc dưới nhiều hình thức vi phạm hai tội: Vị thực hiện, trong lúc tiến
hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã thực hiện, phạm tội nissaggiya
pācittiya.
[280] Vị trong khi thực hiện việc mua bán dưới
nhiều hình thức vi phạm hai tội: Vị thực hiện, trong lúc tiến hành
phạm tội dukkaṭa. Khi đã thực hiện, phạm tội nissaggiya
pācittiya.
Phần
Tơ Tằm là phần thứ nhì.
[281] Vị trong khi vượt quá mười ngày về (việc
cất giữ) bình bát phụ trội vi phạm một tội nissaggiya
pācittiya.
[282] Vị trong khi sắm bình bát mới khác với bình
bát cũ chưa đủ năm miếng vá vi phạm hai tội: Vị sắm, trong lúc tiến
hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã sắm, phạm tội nissaggiya
pācittiya.
[283] Vị sau khi thọ lãnh các dược phẩm, trong
khi (cất giữ) vượt quá bảy ngày vi phạm một tội nissaggiya
pācittiya.
[284] Vị trong khi tìm kiếm y choàng tắm mưa khi
còn hơn một tháng của mùa nắng vi phạm hai tội: Vị tìm kiếm, trong lúc
tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã kiếm được, phạm tội
nissaggiya pācittiya.
[285] Vị sau khi tự mình cho y đến vị tỳ khưu rồi
nổi giận bất bình, trong khi giật lại vi phạm hai tội: Vị giật lại,
trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã giật lại, phạm tội
nissaggiya pācittiya.
[286] Vị sau khi tự mình yêu cầu chỉ sợi, trong
khi bảo các thợ dệt dệt thành y vi phạm hai tội: Vị bảo dệt, trong lúc
tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã được dệt xong, phạm tội
nissaggiya pācittiya.
[287] Vị khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến
các thợ dệt của gia chủ không phải là thân quyến, trong khi đưa ra sự
căn dặn về y vi phạm hai tội: Vị đưa ra sự căn dặn, trong lúc tiến
hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã đưa ra sự căn dặn, phạm tội
nissaggiya pācittiya.
[288] Vị sau khi thọ lãnh y đặc biệt, trong khi
(cất giữ) vượt quá thời hạn về y vi phạm một tội nissaggiya
pācittiya.
[289] Vị sau khi để lại một y nào đó của ba y ở
nơi xóm nhà, trong khi xa lìa quá sáu đêm vi phạm một tội
nissaggiya pācittiya.
[290] Vị dầu biết lợi lộc đã được khẳng định là
dâng cho hội chúng, trong khi thuyết phục dâng cho bản thân vi phạm
hai tội: Vị thuyết phục, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa.
Khi đã thuyết phục được, phạm tội nissaggiya pācittiya.
Phần
Bình Bát là phần thứ ba.
Dứt
ba mươi nissaggiya pācittiya.
[291] Vị trong khi cố tình nói lời dối trá vi
phạm bao nhiêu tội?
– Vị trong khi cố tình nói lời dối trá vi phạm
năm tội: Vị có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, rồi khoác
lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng phạm tội pārājika.
Vị bôi nhọ vị tỳ khưu về tội pārājika không có nguyên cớ phạm
tội saṅghādisesa. Vị nói rằng: “Vị (tỳ khưu) nào cư ngụ
trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy là bậc A-la-hán,” (người
nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không
hiểu được thì phạm tội dukkaṭa. Khi cố tình nói dối, phạm tội
pācittiya. Vị trong khi cố tình nói lời dối trá vi phạm năm tội
này.
[292] Vị trong khi mắng nhiếc vi phạm hai tội: Vị
mắng nhiếc người đã tu lên bậc trên phạm tội pācittiya. Vị mắng
nhiếc người chưa tu lên bậc trên phạm tội dukkaṭa.
[293] Vị trong khi tạo ra sự đâm thọc vi phạm hai
tội: Vị tạo ra sự đâm thọc đối với người đã tu lên bậc trên phạm tội
pācittiya. Vị tạo ra sự đâm thọc đối với người chưa tu lên bậc
trên phạm tội dukkaṭa.
[294] Vị trong khi dạy người chưa tu lên bậc trên
đọc Pháp theo từng câu vi phạm hai tội: Vị dạy đọc, trong lúc tiến
hành phạm tội dukkaṭa, theo mỗi một câu phạm tội pācittiya.
[295] Vị trong khi nằm chung chỗ ngụ với người
chưa tu lên bậc trên quá hai ba đêm vi phạm hai tội: Vị nằm xuống,
trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã nằm xuống, phạm
tội pācittiya.
[296] Vị trong khi nằm chung chỗ ngụ với người nữ
vi phạm hai tội: Vị nằm xuống, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa.
Khi đã nằm xuống, phạm tội pācittiya.
[297] Vị trong khi thuyết Pháp đến người nữ quá
năm hay sáu câu vi phạm hai tội: Vị thuyết giảng, trong lúc tiến hành
phạm tội dukkaṭa, theo mỗi một câu phạm tội pācittiya.
[298] Vị trong khi tuyên bố pháp thượng nhân đã
thực chứng đến người chưa tu lên bậc trên vi phạm hai tội: Vị tuyên
bố, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã tuyên bố, phạm
tội pācittiya.
[299] Vị trong khi công bố tội xấu xa của vị tỳ
khưu đến người chưa tu lên bậc trên vi phạm hai tội: Vị công bố, trong
lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã công bố, phạm tội
pācittiya.
[300] Vị trong khi đào đất vi phạm hai tội: Vị
đào, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa, theo từng nhát đào
phạm tội pācittiya.
Phần
Nói Dối là phần thứ nhất.
[301] Vị trong khi phá hoại thảo mộc vi phạm hai
tội: Vị phá hoại, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa, theo
từng hành động phá hoại phạm tội pācittiya.
[302] Vị trong khi phản kháng cách này hoặc cách
khác vi phạm hai tội: Khi tội nói tránh né chưa được phán quyết, vị
phản kháng cách này hoặc cách khác phạm tội dukkaṭa. Khi tội
nói tránh né đã được phán quyết, vị phản kháng cách này hoặc cách khác
phạm tội pācittiya.
[303] Vị trong khi phàn nàn vi phạm hai tội: Vị
phàn nàn, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã phàn
nàn, phạm tội pācittiya.
[304] Vị sau khi trải ra giường, hoặc ghế, hoặc
nệm, hoặc gối kê thuộc về hội chúng ở ngoài trời, rồi không thu dọn,
trong khi ra đi không thông báo vi phạm hai tội: Vị vượt qua chỗ rơi
của cục đất (được ném bởi người đàn ông có sức mạnh bậc trung) bước
thứ nhất phạm tội dukkaṭa. Vượt qua bước thứ nhì phạm tội
pācittiya.
[305] Vị sau khi trải ra chỗ nằm ở trong trú xá
thuộc về hội chúng, rồi không thu dọn, trong khi ra đi không thông báo
vi phạm hai tội: Vị vượt qua hàng rào bước thứ nhất phạm tội
dukkaṭa. Vượt qua bước thứ nhì phạm tội pācittiya.
[306] Ở trong trú xá thuộc về hội chúng, vị dầu
biết vẫn chen vào (chỗ) của vị tỳ khưu đã đến trước, trong khi nằm
xuống vi phạm hai tội: Vị nằm xuống, trong lúc tiến hành phạm tội
dukkaṭa. Khi đã nằm xuống, phạm tội pācittiya.
[307] Vị nổi giận, bất bình trong khi lôi kéo vị
tỳ khưu ra khỏi trú xá thuộc về hội chúng vi phạm hai tội: Vị lôi kéo
ra, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã bị lôi kéo ra,
phạm tội pācittiya.
[308] Vị trong khi ngồi lên trên chiếc giường
hoặc ghế loại có chân tháo rời được ở căn gác lầu trong trú xá của hội
chúng vi phạm hai tội: Vị ngồi lên, trong lúc tiến hành phạm tội
dukkaṭa. Khi đã ngồi lên, phạm tội pācittiya.
[309] Vị sau khi quyết định phương thức của việc
lợp mái hai ba lớp, trong khi quyết định vượt quá mức ấy vi phạm hai
tội: Vị quyết định, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi
đã quyết định, phạm tội pācittiya.
[310] Vị dầu biết nước có sinh vật trong khi tưới
lên cỏ hoặc đất sét vi phạm hai tội: Vị tưới, trong lúc tiến hành phạm
tội dukkaṭa. Khi đã tưới, phạm tội pācittiya.
Phần
Thảo Mộc là phần thứ nhì.
[311] Vị chưa được chỉ định trong khi giáo giới
các tỳ khưu ni vi phạm hai tội: Vị giáo giới, trong lúc tiến hành phạm
tội dukkaṭa. Khi đã giáo giới, phạm tội pācittiya.
[312] Vị trong khi giáo giới các tỳ khưu ni lúc
mặt trời đã lặn vi phạm hai tội: Vị giáo giới, trong lúc tiến hành
phạm tội dukkaṭa. Khi đã giáo giới, phạm tội pācittiya.
[313] Vị sau khi đi đến ni viện, trong khi giáo
giới các tỳ khưu ni vi phạm hai tội: Vị giáo giới, trong lúc tiến hành
phạm tội dukkaṭa. Khi đã giáo giới, phạm tội pācittiya.
[314] Vị trong khi phát ngôn rằng: “Các tỳ
khưu giáo giới các tỳ khưu ni vì nguyên nhân lợi lộc” vi phạm hai
tội: Vị phát ngôn, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã
phát ngôn, phạm tội pācittiya.
[315] Vị trong khi cho y đến tỳ khưu ni không
phải là thân quyến vi phạm hai tội: Vị cho, trong lúc tiến hành phạm
tội dukkaṭa. Khi đã cho, phạm tội pācittiya.
[316] Vị trong khi may y cho tỳ khưu ni không
phải là thân quyến vi phạm hai tội: Vị may, trong lúc tiến hành phạm
tội dukkaṭa, theo từng đường kim phạm tội pācittiya.
[317] Vị sau khi đã hẹn trước, trong khi đi chung
đường xa với tỳ khưu ni vi phạm hai tội: Vị thực hiện, trong lúc tiến
hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã thực hiện, phạm tội pācittiya.
[318] Vị sau khi đã hẹn trước, trong khi cùng lên
một chiếc thuyền với tỳ khưu ni vi phạm hai tội: Vị lên (thuyền),
trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã lên (thuyền), phạm
tội pācittiya.
[319] Vị dầu biết thức ăn được tỳ khưu ni môi
giới cho, trong khi thọ thực vi phạm hai tội: Vị (nghĩ rằng): “Ta
sẽ thọ thực” rồi thọ lãnh phạm tội dukkaṭa. Mỗi một lần
nuốt xuống phạm tội pācittiya.
[320] Vị trong khi cùng với tỳ khưu ni một nam
một nữ ngồi ở nơi kín đáo vi phạm hai tội: Vị ngồi xuống, trong lúc
tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã ngồi xuống, phạm tội
pācittiya.
Phần
Giáo Giới là phần thứ ba.
[321] Vị trong khi thọ thực ở phước xá vượt quá
mức ấy vi phạm hai tội: Vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ thọ thực” rồi
thọ lãnh phạm tội dukkaṭa. Mỗi một lần nuốt xuống phạm tội
pācittiya.
[322] Vị trong khi thọ dụng vật thực dâng chung
nhóm vi phạm hai tội: Vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ thọ thực” rồi thọ
lãnh phạm tội dukkaṭa. Mỗi một lần nuốt xuống phạm tội
pācittiya.
[323] Vị trong khi thọ dụng vật thực thỉnh sau vi
phạm hai tội: Vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ thọ thực” rồi thọ lãnh
phạm tội dukkaṭa. Mỗi một lần nuốt xuống phạm tội pācittiya.
[324] Vị sau khi đã thọ lãnh hai hoặc ba bình bát
đầy bánh ngọt, trong khi thọ lãnh quá mức ấy vi phạm hai tội: Vị thọ
lãnh, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã thọ lãnh,
phạm tội pācittiya.
[325] Vị thọ thực xong và đã từ chối (vật thực
dâng thêm), trong khi thọ dụng vật thực cứng hoặc vật thực mềm không
phải là đồ còn thừa vi phạm hai tội: Vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ thọ
thực” rồi thọ lãnh phạm tội dukkaṭa. Mỗi một lần nuốt xuống
phạm tội pācittiya.
[326] Vị trong khi yêu cầu vị tỳ khưu đã thọ thực
xong và đã từ chối (vật thực dâng thêm) nhận lãnh vật thực cứng hoặc
vật thực mềm không phải là đồ còn thừa vi phạm hai tội: Do lời nói của
vị ấy, vị kia (nghĩ rằng): “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ lãnh,
(vị nói) phạm tội dukkaṭa. Khi (vị kia) chấm dứt bữa ăn, (vị
nói) phạm tội pācittiya.
[327] Vị trong khi thọ dụng vật thực cứng hoặc
vật thực mềm vào lúc sái thời vi phạm hai tội: Vị (nghĩ rằng): “Ta
sẽ thọ thực” rồi thọ lãnh phạm tội dukkaṭa. Mỗi một lần
nuốt xuống phạm tội pācittiya.
[328] Vị trong khi thọ dụng vật thực cứng hoặc
vật thực mềm đã được tích trữ vi phạm hai tội: Vị (nghĩ rằng): “Ta
sẽ thọ thực” rồi thọ lãnh phạm tội dukkaṭa. Mỗi một lần
nuốt xuống phạm tội pācittiya.
[329] Vị sau khi yêu cầu các loại vật thực thượng
hạng cho nhu cầu của bản thân, trong khi thọ dụng vi phạm hai tội: Vị
(nghĩ rằng): “Ta sẽ thọ thực” rồi thọ lãnh phạm tội dukkaṭa.
Mỗi một lần nuốt xuống phạm tội pācittiya.
[330] Vị trong khi đưa thức ăn chưa được bố thí
vào miệng vi phạm hai tội: Vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ thọ thực” rồi
nhặt lấy phạm tội dukkaṭa. Mỗi một lần nuốt xuống phạm tội
pācittiya.
Phần
Vật Thực là phần thứ tư.
[331] Vị trong khi tự tay cho vật thực cứng hoặc
vật thực mềm đến đạo sĩ lõa thể, hoặc nam du sĩ ngoại đạo, hoặc nữ du
sĩ ngoại đạo vi phạm hai tội: Vị cho, trong lúc tiến hành phạm tội
dukkaṭa. Khi đã cho, phạm tội pācittiya.
[332] Vị (nói với) vị tỳ khưu rằng: “Này đại
đức, hãy đến. Chúng ta sẽ đi vào làng hoặc thị trấn để khất thực,”
sau khi bảo bố thí hoặc bảo đừng bố thí cho vị ấy, trong khi đuổi đi
vi phạm hai tội: Vị đuổi đi, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa.
Khi đã đuổi đi, phạm tội pācittiya.
[333] Vị sau khi đi vào nơi gia đình chỉ có cặp
vợ chồng, trong khi ngồi xuống vi phạm hai tội: Vị ngồi xuống, trong
lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã ngồi xuống, phạm tội
pācittiya.
[334] Vị trong khi cùng với người nữ ngồi xuống ở
chỗ ngồi kín đáo, được che khuất vi phạm hai tội: Vị ngồi xuống, trong
lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã ngồi xuống, phạm tội
pācittiya.
[335] Vị trong khi cùng với người nữ một nam một
nữ ngồi ở nơi kín đáo vi phạm hai tội: Vị ngồi xuống, trong lúc tiến
hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã ngồi xuống, phạm tội pācittiya.
[336] Vị đã được thỉnh mời, đã có bữa trai phạn,
trong khi đi đến các gia đình trước bữa ăn hoặc sau bữa ăn không có sự
thông báo đến vị tỳ khưu hiện diện vi phạm hai tội: Vị vượt qua ngưỡng
cửa bước thứ nhất phạm tội dukkaṭa. Vượt qua ngưỡng cửa bước
thứ nhì phạm tội pācittiya.
[337] Vị trong khi yêu cầu dược phẩm quá thời hạn
(thỉnh cầu) vi phạm hai tội: Vị yêu cầu, trong lúc tiến hành phạm tội
dukkaṭa. Khi đã yêu cầu, phạm tội pācittiya.
[338] Vị trong khi đi để xem quân đội động binh
vi phạm hai tội: Vị đi phạm tội dukkaṭa. Đứng tại chỗ ấy nhìn
xem phạm tội pācittiya.
[339] Vị trong khi cư ngụ ở nơi binh đội quá ba
đêm vi phạm hai tội: Vị cư ngụ, trong lúc tiến hành phạm tội
dukkaṭa. Khi đã cư ngụ, phạm tội pācittiya.
[340] Vị trong khi đi đến nơi tập trận vi phạm
hai tội: Vị đi phạm tội dukkaṭa. Đứng tại chỗ ấy nhìn xem phạm
tội pācittiya.
Phần
Đạo Sĩ Lõa Thể là phần thứ năm.
[341] Vị trong khi uống rượu mạnh vi phạm hai
tội: Vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ uống” rồi thọ lãnh phạm tội
dukkaṭa. Mỗi một lần nuốt xuống phạm tội pācittiya.
[342] Vị trong khi chọc cười vị tỳ khưu bằng cách
dùng ngón tay thọc lét vi phạm hai tội: Vị chọc cười, trong lúc tiến
hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã chọc cười, phạm tội pācittiya.
[343] Vị trong khi chơi giỡn ở trong nước vi phạm
hai tội: Vị chơi giỡn ở trong nước ngập dưới mắt cá chân phạm tội
dukkaṭa. Vị chơi giỡn ở trong nước ngập trên mắt cá chân phạm tội
pācittiya.
[344] Vị trong khi thể hiện sự không tôn trọng vi
phạm hai tội: Vị thể hiện, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa.
Khi đã thể hiện, phạm tội pācittiya.
[345] Vị trong khi làm vị tỳ khưu kinh sợ vi phạm
hai tội: Vị làm kinh sợ, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa.
Khi đã làm kinh sợ, phạm tội pācittiya.
[346] Vị sau khi tự mình đốt lên ngọn lửa, trong
khi sưởi ấm vi phạm hai tội: Vị tự mình đốt lửa, trong lúc tiến hành
phạm tội dukkaṭa. Khi đã đốt lửa, phạm tội pācittiya.
[347] Vị chưa đủ nửa tháng, trong khi tắm vi phạm
hai tội: Vị tắm, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã
hoàn tất việc tắm, phạm tội pācittiya.
[348] Vị khi chưa áp dụng cách hoại sắc nào đó
thuộc về ba cách hoại sắc, trong khi sử dụng y mới vi phạm hai tội: Vị
sử dụng, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã sử dụng,
phạm tội pācittiya.
[349] Vị sau khi đích thân chú nguyện dùng chung
y đến vị tỳ khưu hoặc đến vị tỳ khưu ni hoặc đến cô ni tu tập sự hoặc
đến vị sa di hoặc đến vị sa di ni, trong khi sử dụng khi chưa có sự xả
lời nguyện (của vị kia) vi phạm hai tội: Vị sử dụng, trong lúc tiến
hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã sử dụng, phạm tội pācittiya.
[350] Vị trong khi thu giấu bình bát hoặc y hoặc
tọa cụ hoặc ống đựng kim hoặc dây thắt lưng của vị tỳ khưu vi phạm hai
tội: Vị thu giấu, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã
thu giấu, phạm tội pācittiya.
Phần
Rượu và Chất Say là phần thứ sáu.
[351] Vị trong khi cố ý đoạt lấy mạng sống sinh
vật vi phạm bao nhiêu tội?
– Vị trong khi cố ý đoạt lấy mạng sống sinh vật
vi phạm bốn tội: Vị đào hố không xác định (đối tượng, nghĩ rằng): “Ai
rơi xuống sẽ chết” phạm tội dukkaṭa. Loài người sau khi rơi
xuống trong ấy và chết đi, (vị đào) phạm tội pārājika. Dạ-xoa
hoặc ngạ quỷ (peta) hoặc loài thú dạng người sau khi rơi xuống trong
ấy và chết đi, phạm tội thullaccaya. Loài thú sau khi rơi xuống
trong ấy và chết đi, phạm tội pācittiya. Vị trong khi cố ý đoạt
lấy mạng sống sinh vật vi phạm bốn tội này.
[352] Vị dầu biết nước có sinh vật trong khi sử
dụng vi phạm hai tội: Vị sử dụng, trong lúc tiến hành phạm tội
dukkaṭa. Khi đã sử dụng, phạm tội pācittiya.
[353] Vị dầu biết sự tranh tụng đã được giải
quyết đúng theo Pháp, trong khi khơi lại để làm hành sự lần nữa vi
phạm hai tội: Vị khơi lại, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa.
Khi đã khơi lại, phạm tội pācittiya.
[354] Vị biết tội xấu xa của vị tỳ khưu (khác),
trong khi che giấu vi phạm một tội pācittiya.
[355] Vị dầu biết người chưa đủ hai mươi tuổi,
trong khi cho tu lên bậc trên vi phạm hai tội: Vị cho tu lên bậc trên,
trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã cho tu lên bậc
trên, phạm tội pācittiya.
[356] Vị dầu biết rồi hẹn trước, trong khi đi
chung đường xa với đám người đạo tặc vi phạm hai tội: Vị thực hiện,
trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã thực hiện, phạm
tội pācittiya.
[357] Vị sau khi hẹn trước, trong khi đi chung
đường xa với người nữ vi phạm hai tội: Vị thực hiện, trong lúc tiến
hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã thực hiện, phạm tội pācittiya.
[358] Vị trong khi không dứt bỏ tà kiến ác với sự
nhắc nhở đến lần thứ ba vi phạm hai tội: Do lời đề nghị, phạm tội
dukkaṭa. Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự, phạm tội pācittiya.
[359] Vị dầu biết vị tỳ khưu là vị phát ngôn như
thế, là vị không thực hành thuận pháp và không dứt bỏ tà kiến ấy,
trong khi hưởng thụ chung vi phạm hai tội: Vị hưởng thụ chung, trong
lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã hưởng thụ chung, phạm
tội pācittiya.
[360] Vị dầu biết vị sa di đã bị trục xuất như
thế trong khi dụ dỗ vi phạm hai tội: Vị dụ dỗ, trong lúc tiến hành
phạm tội dukkaṭa. Khi đã dụ dỗ, phạm tội pācittiya.
Phần
Có Sinh Vật là phần thứ bảy.
[361] Vị tỳ khưu, khi được các tỳ khưu nhắc nhở
theo Pháp, trong khi nói rằng: “Này các đại đức, tôi sẽ không thực
hành điều học này cho đến khi nào tôi còn chưa hỏi vị tỳ khưu khác
kinh nghiệm rành rẽ về Luật” vi phạm hai tội: Vị nói, trong lúc
tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã nói, phạm tội pācittiya.
[362] Vị trong khi chê bai Luật vi phạm hai tội:
Vị chê bai, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã chê
bai, phạm tội pācittiya.
[363] Vị trong khi (giả vờ) ngu dốt vi phạm hai
tội: Khi sự ngu dốt chưa được khẳng định, vị (giả vờ) ngu dốt phạm tội
dukkaṭa. Khi sự ngu dốt đã được khẳng định, vị (giả vờ) ngu dốt
phạm tội pācittiya.
[364] Vị nổi giận bất bình trong khi tung cú đánh
vào vị tỳ khưu vi phạm hai tội: Vị đánh, trong lúc tiến hành phạm tội
dukkaṭa. Khi đã đánh, phạm tội pācittiya.
[365] Vị nổi giận bất bình trong khi giơ tay dọa
đánh vị tỳ khưu vi phạm hai tội: Vị giơ tay, trong lúc tiến hành phạm
tội dukkaṭa. Khi đã giơ tay, phạm tội pācittiya.
[366] Vị trong khi bôi nhọ vị tỳ khưu về tội
saṅghādisesa không có nguyên cớ vi phạm hai tội: Vị bôi nhọ, trong
lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã bôi nhọ, phạm tội
pācittiya.
[367] Vị trong khi cố ý gợi lên nỗi nghi hoặc ở
nơi vị tỳ khưu vi phạm hai tội: Vị gợi lên, trong lúc tiến hành phạm
tội dukkaṭa. Khi đã gợi lên, phạm tội pācittiya.
[368] Vị trong khi đứng lắng nghe các tỳ khưu
đang xảy ra sự xung đột, đang xảy ra sự cãi cọ, đang có sự tranh luận
vi phạm hai tội: Vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ nghe” rồi đi đến, phạm
tội dukkaṭa. Đứng tại chỗ ấy lắng nghe, phạm tội pācittiya.
[369] Vị sau khi trao ra sự tùy thuận cho những
hành sự đúng pháp, sau đó trong khi gây điều phê phán vi phạm hai tội:
Vị phê phán, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã phê
phán, phạm tội pācittiya.
[370] Trong khi lời quyết định đang được tuyên bố
ở hội chúng, vị sau khi không trao ra sự tùy thuận, rồi từ chỗ ngồi
đứng dậy, trong lúc bỏ đi vi phạm hai tội: Vị đang lìa khỏi hội chúng
một tầm tay phạm tội dukkaṭa. Khi đã lìa khỏi, phạm tội
pācittiya.
[371] Vị sau khi đã cùng với hội chúng hợp nhất
cho y, sau đó trong khi gây ra điều phê phán vi phạm hai tội: Vị phê
phán, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã phê phán,
phạm tội pācittiya.
[372] Vị dầu biết lợi lộc đã được khẳng định là
dâng đến hội chúng, trong khi thuyết phục dâng cho cá nhân vi phạm hai
tội: Vị thuyết phục, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi
đã thuyết phục, phạm tội pācittiya.
Phần
Theo Pháp là thứ tám.
[373] Vị trong khi đi vào hậu cung của đức vua
chưa được báo tin trước vi phạm hai tội: Vị vượt qua ngưỡng cửa bước
thứ nhất phạm tội dukkaṭa. Vượt qua bước thứ nhì phạm tội
pācittiya.
[374] Vị trong khi nhặt lên vật quý giá vi phạm
hai tội: Vị nhặt lấy, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi
đã nhặt lấy, phạm tội pācittiya.
[375] Vị trong khi đi vào làng lúc sái thời không
thông báo vị tỳ khưu hiện diện vi phạm hai tội: Vị vượt qua hàng rào
bước thứ nhất phạm tội dukkaṭa. Vượt qua bước thứ nhì phạm tội
pācittiya.
[376] Vị trong khi bảo làm ống đựng kim bằng
xương, hoặc bằng ngà, hoặc bằng sừng vi phạm hai tội: Vị bảo làm,
trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Khi đã được làm xong,
phạm tội pācittiya.
[377] Vị trong khi bảo làm giường hoặc ghế vượt
quá kích thước vi phạm hai tội: Vị bảo làm, trong lúc tiến hành phạm
tội dukkaṭa. Khi đã được làm xong, phạm tội pācittiya.
[378] Vị trong khi bảo làm giường hoặc ghế có độn
bông gòn vi phạm hai tội: Vị bảo làm, trong lúc tiến hành phạm tội
dukkaṭa. Khi đã được làm xong, phạm tội pācittiya.
[379] Vị trong khi bảo làm tọa cụ vượt quá kích
thước vi phạm hai tội: Vị bảo làm, trong lúc tiến hành phạm tội
dukkaṭa. Khi đã được làm xong, phạm tội pācittiya.
[380] Vị trong khi bảo làm y đắp ghẻ vượt quá
kích thước vi phạm hai tội: Vị bảo làm, trong lúc tiến hành phạm tội
dukkaṭa. Khi đã được làm xong, phạm tội pācittiya.
[381] Vị trong khi bảo làm vải choàng tắm mưa
vượt quá kích thước vi phạm hai tội: Vị bảo làm, trong lúc tiến hành
phạm tội dukkaṭa. Khi đã được làm xong, phạm tội pācittiya.
[382] Vị trong khi bảo làm y bằng kích thước y
của đức Thiện Thệ vi phạm bao nhiêu tội?
– Vị trong khi bảo làm y bằng kích thước y của
đức Thiện Thệ vi phạm hai tội: Vị bảo làm, trong lúc tiến hành phạm
tội dukkaṭa. Khi đã được làm xong, phạm tội pācittiya.
Vị trong khi bảo làm y bằng kích thước y của đức Thiện Thệ vi phạm hai
tội này.
Phần
Đức Vua là phần thứ chín.
Dứt
các phần nhỏ nhặt (khuddakā niṭṭhitā).
[383] Vị sau khi tự tay thọ lãnh vật thực cứng
hoặc vật thực mềm từ tay tỳ khưu ni không phải là thân quyến đã đi vào
xóm nhà, trong khi thọ thực vi phạm bao nhiêu tội?
– Vị sau khi tự tay thọ lãnh vật thực cứng hoặc
vật thực mềm từ tay tỳ khưu ni không phải là thân quyến đã đi vào xóm
nhà, trong khi thọ thực vi phạm hai tội: Vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ ăn”
rồi thọ lãnh phạm tội dukkaṭa. Mỗi một lần nuốt xuống phạm tội
pāṭidesanīya. Vị sau khi tự tay thọ lãnh vật thực cứng hoặc vật
thực mềm từ tay tỳ khưu ni không phải là thân quyến đã đi vào xóm nhà,
trong khi thọ thực vi phạm hai tội này.
[384] Vị sau khi không ngăn cản vị tỳ khưu ni
đang hướng dẫn sự phục vụ, trong khi thọ thực vi phạm hai tội: Vị
(nghĩ rằng): “Ta sẽ ăn” rồi thọ lãnh phạm tội dukkaṭa.
Mỗi một lần nuốt xuống phạm tội pāṭidesanīya.
[385] Vị sau khi tự tay thọ lãnh vật thực cứng
hoặc vật thực mềm ở các gia đình đã được công nhận là bậc Thánh hữu
học, trong khi thọ thực vi phạm hai tội: Vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ ăn”
rồi thọ lãnh phạm tội dukkaṭa. Mỗi một lần nuốt xuống phạm tội
pāṭidesanīya.
[386] Vị sau khi tự tay thọ lãnh vật thực cứng
hoặc vật thực mềm chưa được báo tin trước trong khuôn viên tu viện ở
những chỗ trú ngụ trong rừng, trong khi thọ thực vi phạm bao nhiêu
tội?
– Vị sau khi tự tay thọ lãnh vật thực cứng hoặc
vật thực mềm chưa được báo tin trước trong khuôn viên tu viện ở những
chỗ trú ngụ trong rừng, trong khi thọ thực vi phạm hai tội: Vị (nghĩ
rằng): “Ta sẽ ăn” rồi thọ lãnh phạm tội dukkaṭa. Mỗi một
lần nuốt xuống phạm tội pāṭidesanīya. Vị sau khi tự tay thọ
lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm chưa được báo tin trước trong
khuôn viên tu viện ở những chỗ trú ngụ trong rừng, trong khi thọ thực
vi phạm hai tội này.
Dứt
bốn điều pāṭidesanīya.
[387] Vị trong khi quấn y (nội) để lòng thòng
phía trước hoặc phía sau do không có sự tôn trọng vi phạm bao nhiêu
tội?
– Vị trong khi quấn y (nội) để lòng thòng phía
trước hoặc phía sau do không có sự tôn trọng vi phạm một tội
dukkaṭa. Vị trong khi quấn y (nội) để lòng thòng phía trước hoặc
phía sau do không có sự tôn trọng vi phạm một tội này.
[388] Vị trong khi trùm y (vai trái) để lòng
thòng phía trước hoặc phía sau do không có sự tôn trọng vi phạm một
tội dukkaṭa.
[389] Vị để hở thân trong khi đi ở nơi xóm nhà do
không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[390] Vị để hở thân trong khi ngồi ở nơi xóm nhà
do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[391] Vị múa máy tay hoặc chân trong khi đi ở nơi
xóm nhà do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[392] Vị múa máy tay hoặc chân trong khi ngồi ở
nơi xóm nhà do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[393] Vị nhìn chỗ này chỗ nọ trong khi đi ở nơi
xóm nhà do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[394] Vị nhìn chỗ này chỗ nọ trong khi ngồi ở nơi
xóm nhà do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[395] Vị trong khi đi ở nơi xóm nhà với sự vén y
lên do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[396] Vị trong khi ngồi ở nơi xóm nhà với sự vén
y lên do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
Phần
Tròn Đều là phần thứ nhất.
[397] Vị trong khi đi ở nơi xóm nhà với tiếng
cười vang do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[398] Vị trong khi ngồi ở nơi xóm nhà với tiếng
cười vang do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[399] Vị gây tiếng động ồn tiếng động lớn trong
khi đi ở nơi xóm nhà do không có sự tôn trọng vi phạm một tội
dukkaṭa.
[400] Vị gây tiếng động ồn tiếng động lớn trong
khi ngồi ở nơi xóm nhà do không có sự tôn trọng vi phạm một tội
dukkaṭa.
[401] Vị trong khi đi ở nơi xóm nhà với sự đung
đưa thân do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[402] Vị trong khi ngồi ở nơi xóm nhà với sự đung
đưa thân do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[403] Vị trong khi đi ở nơi xóm nhà với sự đung
đưa cánh tay do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[404] Vị trong khi ngồi ở nơi xóm nhà với sự đung
đưa cánh tay do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[405] Vị trong khi đi ở nơi xóm nhà với sự đung
đưa đầu do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[406] Vị trong khi ngồi ở nơi xóm nhà với sự đung
đưa đầu do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
Phần
Cười Vang là phần thứ nhì.
[407] Vị trong khi đi ở nơi xóm nhà với sự chống
nạnh do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[408] Vị trong khi ngồi ở nơi xóm nhà với sự
chống nạnh do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[409] Vị trong khi đi ở nơi xóm nhà với đầu trùm
lại do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[410] Vị trong khi ngồi ở nơi xóm nhà với đầu
trùm lại do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[411] Vị trong khi đi ở nơi xóm nhà với sự nhón
gót do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[412] Vị trong khi ngồi ôm đầu gối ở nơi xóm nhà
do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[413] Vị trong khi thọ lãnh đồ khất thực không
nghiêm trang do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[414] Vị nhìn chỗ này chỗ nọ trong khi thọ lãnh
đồ khất thực do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[415] Vị trong khi thọ lãnh quá nhiều súp do
không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[416] Vị trong khi thọ lãnh đồ khất thực được làm
vun đầy lên do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
Phần
Chống Nạnh là phần thứ ba.
[417] Vị trong khi thọ dụng đồ khất thực không
nghiêm trang do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[418] Vị nhìn chỗ này chỗ nọ trong khi thọ dụng
đồ khất thực do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[419] Vị lựa chọn món này món nọ trong khi thọ
dụng đồ khất thực do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[420] Vị trong khi thọ dụng quá nhiều xúp do
không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[421] Vị vun lên thành đống trong khi thọ dụng đồ
khất thực do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[422] Vị trong khi dùng cơm che kín xúp và thức
ăn do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[423] Vị không bị bệnh sau khi yêu cầu xúp và cơm
vì nhu cầu của bản thân, trong khi thọ thực do không có sự tôn trọng
vi phạm một tội dukkaṭa.
[424] Vị trong khi nhìn vào bình bát của các vị
khác với ý định tìm lỗi do không có sự tôn trọng vi phạm một tội
dukkaṭa.
[425] Vị trong khi làm vắt cơm lớn do không có sự
tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[426] Vị trong khi làm vắt cơm dài do không có sự
tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
Phần
Đồ Ăn Khất Thực là phần thứ tư.
[427] Vị trong khi há miệng ra khi vắt cơm chưa
được đưa đến do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[428] Vị trong khi đưa trọn bàn tay vào miệng
trong lúc thọ thực do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[429] Vị trong khi nói bằng miệng có vắt cơm do
không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[430] Vị trong khi thọ thực theo lối đưa thức ăn
(vào miệng) một cách liên tục do không có sự tôn trọng vi phạm một tội
dukkaṭa.
[431] Vị trong khi thọ thực theo lối cắn vắt cơm
từng chút một do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[432] Vị trong khi thọ thực theo lối làm phồng má
do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[433] Vị trong khi thọ thực có sự vung rảy bàn
tay do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[434] Vị trong khi thọ thực có sự làm rơi đổ cơm
do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[435] Vị trong khi thọ thực có sự le lưỡi do
không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[436] Vị trong khi thọ thực có làm tiếng chép
chép do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
Phần
Vắt Cơm là phần thứ năm.
[437] Vị trong khi thọ thực có làm tiếng sột sột
do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[438] Vị trong khi thọ thực có sự liếm tay do
không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[439] Vị trong khi thọ thực có sự nạo vét bình
bát do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[440] Vị trong khi thọ thực có sự liếm môi do
không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[441] Vị trong khi thọ lãnh tô nước uống bằng bàn
tay có dính thức ăn do không có sự tôn trọng vi phạm một tội
dukkaṭa.
[442] Vị trong khi đổ bỏ nước rửa bình bát có lẫn
cơm ở nơi xóm nhà do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[443] Vị trong khi thuyết Pháp đến người có dù ở
bàn tay do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[444] Vị trong khi thuyết Pháp đến người có gậy ở
bàn tay do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[445] Vị trong khi thuyết Pháp đến người có dao ở
bàn tay do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[446] Vị trong khi thuyết Pháp đến người có vũ
khí ở bàn tay do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
Phần
Tiếng Sột Sột là phần thứ sáu.
[447] Vị trong khi thuyết Pháp đến người có mang
giày do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[448] Vị trong khi thuyết Pháp đến người có mang
dép do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[449] Vị trong khi thuyết Pháp đến người ở trên
xe do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[450] Vị trong khi thuyết Pháp đến người đang nằm
do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[451] Vị trong khi thuyết Pháp đến người ngồi ôm
đầu gối do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[452] Vị trong khi thuyết Pháp đến người đội khăn
ở đầu do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[453] Vị trong khi thuyết Pháp đến người có đầu
được trùm lại do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[454] Vị ngồi ở nền đất trong khi thuyết Pháp đến
người ngồi trên chỗ ngồi do không có sự tôn trọng vi phạm một tội
dukkaṭa.
[455] Vị ngồi ở chỗ ngồi thấp trong khi thuyết
Pháp đến người ngồi trên chỗ ngồi cao do không có sự tôn trọng vi phạm
một tội dukkaṭa.
[456] Vị đứng trong khi thuyết Pháp đến người
đang ngồi do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[457] Vị đang đi phía sau trong khi thuyết Pháp
đến người đang đi ở phía trước do không có sự tôn trọng vi phạm một
tội dukkaṭa.
[458] Vị đang đi bên đường trong khi thuyết Pháp
đến người đang đi giữa đường do không có sự tôn trọng vi phạm một tội
dukkaṭa.
[459] Vị đứng trong khi đại tiện hoặc tiểu tiện
do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa.
[460] Vị trong khi đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc
khạc nhổ trên cỏ cây xanh do không có sự tôn trọng vi phạm một tội
dukkaṭa.
[461] Vị trong khi đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc
khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng vi phạm bao nhiêu
tội?
– Vị trong khi đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc
khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng vi phạm một tội
dukkaṭa. Vị trong khi đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào
trong nước do không có sự tôn trọng vi phạm một tội này.
Phần
Giày Dép là phần thứ bảy.
Dứt
bảy mươi lăm điều sekhiya.
Dứt
phần “Bao Nhiêu Tội” là phần thứ nhì.
[462] Các tội vi phạm của vị thực hiện việc đôi
lứa được phân chia theo bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng?
– Các tội vi phạm của vị thực hiện việc đôi lứa
được phân chia theo hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự
hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm.
...(như trên)...
Tội vi phạm của vị đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc
khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng được phân chia theo
bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng?
– Tội vi phạm của vị đại tiện, hoặc tiểu tiện,
hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng được phân chia
theo một sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng là sự hư hỏng về hạnh kiểm.
Dứt
phần “Sự Hư Hỏng” là phần thứ ba.
[463] Các tội vi phạm của vị thực hiện việc đôi
lứa được quy tụ vào bao nhiêu nhóm tội trong bảy nhóm tội?
– Các tội vi phạm của vị thực hiện việc đôi lứa
được quy tụ vào ba nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội
pārājika, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm
tội dukkaṭa.
...(như trên)...
Tội vi phạm của vị đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc
khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng được quy tụ vào bao
nhiêu nhóm tội trong bảy nhóm tội?
– Tội vi phạm của vị đại tiện, hoặc tiểu tiện,
hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng được quy tụ vào
một nhóm tội trong bảy nhóm tội là nhóm tội dukkaṭa.
Dứt
phần “Sự Quy Tụ” là phần thứ tư.
[464] Các tội vi phạm của vị thực hiện việc đôi
lứa được sanh lên do bao nhiêu nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh
tội?
– Các tội vi phạm của vị thực hiện việc đôi lứa
được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh
lên do thân và do ý, không do khẩu.
...(như trên)...
Tội vi phạm của vị đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc
khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng được sanh lên do bao
nhiêu nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội?
– Tội vi phạm của vị đại tiện, hoặc tiểu tiện,
hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng được sanh lên do
một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân và do
ý, không do khẩu.
Dứt
phần “Nguồn Sanh Tội” là phần thứ năm.
[465] Các tội vi phạm của vị thực hiện việc đôi
lứa là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng?
– Các tội vi phạm của vị thực hiện việc đôi lứa
là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng.
...(như trên)...
Tội vi phạm của vị đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc
khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng là sự tranh tụng nào
trong bốn sự tranh tụng?
– Tội vi phạm của vị đại tiện, hoặc tiểu tiện,
hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng là sự tranh tụng
liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng.
Dứt
phần “Sự Tranh Tụng” là phần thứ sáu.
[466] Các tội vi phạm của vị thực hiện việc đôi
lứa được giải quyết với bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
– Các tội vi phạm của vị thực hiện việc đôi lứa
được giải quyết với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là
hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa
nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
...(như trên)...
Tội vi phạm của vị đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc
khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng được giải quyết với
bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
– Tội vi phạm của vị đại tiện, hoặc tiểu tiện,
hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng được giải quyết
với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với
sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là
hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Dứt
phần “Dàn Xếp” là phần thứ bảy.
[467] Vị trong khi thực hiện việc đôi lứa vi phạm
bao nhiêu tội?
– Vị trong khi thực hiện việc đôi lứa vi phạm ba
tội: Vị thực hiện việc đôi lứa nơi thi thể chưa bị (thú) ăn phạm tội
pārājika. Vị thực hiện việc đôi lứa nơi thi thể đã bị (thú) ăn
nhiều phần phạm tội thullaccaya. Vị đưa dương vật vào miệng đã
được mở ra nhưng không bị va chạm phạm tội dukkaṭa. Vị trong
khi thực hiện việc đôi lứa vi phạm ba tội này.
Các tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư
hỏng trong bốn sự hư hỏng? Được quy tụ vào bao nhiêu nhóm tội trong
bảy nhóm tội? Được sanh lên do bao nhiêu nguồn sanh tội trong sáu
nguồn sanh tội? Là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng? Được
giải quyết với bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
– Các tội ấy được phân chia theo hai sự hư hỏng
trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư
hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ vào ba nhóm tội trong bảy nhóm tội: có
thể là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội thullaccaya,
có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội
trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân và do ý, không do khẩu.
Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được giải
quyết với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử
Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có
thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
...(như trên)...
Vị trong khi đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc
nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng vi phạm bao nhiêu tội?
– Vị trong khi đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc
khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng vi phạm một tội
dukkaṭa. Vị trong khi đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào
trong nước do không có sự tôn trọng vi phạm một tội này.
Tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư hỏng
trong bốn sự hư hỏng? Được quy tụ vào bao nhiêu nhóm tội trong bảy
nhóm tội? Được sanh lên do bao nhiêu nguồn sanh tội trong sáu nguồn
sanh tội? Là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng? Được giải
quyết với bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
– Tội ấy được phân chia theo một sự hư hỏng trong
bốn sự hư hỏng là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ vào một nhóm
tội trong bảy nhóm tội là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do
một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân và do
ý, không do khẩu. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự
tranh tụng. Được giải quyết với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn
xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội
đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách
dùng cỏ che lấp.
Dứt
phần “Tổng Hợp” là phần thứ tám.
Tám
Phần này được ghi lại cho công việc học tập.
Tóm lược phần này:
[468]
Quy
định ở nơi đâu,
và có bao nhiêu tội,
(chia theo) sự hư hỏng,
quy tụ vào (nhóm tội),
(trong sáu) nguồn sanh tội,
và các sự tranh tụng,
(bao nhiêu) cách dàn xếp,
và thêm phần tổng hợp.
*******
[469] Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng
Giác khi biết được, khi thấy được đã quy định điều pārājika vì
nguyên nhân của sự thực hiện việc đôi lứa tại đâu? Liên quan đến ai?
Về sự việc gì? ...(như trên)... Do ai truyền đạt lại?
Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác
khi biết được, khi thấy được đã quy định điều pārājika vì
nguyên nhân của sự thực hiện việc đôi lứa tại đâu? – Đã được quy định
tại thành Vesālī. Liên quan đến ai? – Liên quan đến Sudinna
Kalandaputta. Về sự việc gì? – Trong sự việc ấy, Sudinna Kalandaputta
đã thực hiện việc đôi lứa với người vợ cũ. Trong trường hợp ấy, có
điều quy định, có điều quy định thêm, có điều quy định khi (sự việc)
chưa xảy ra không? – Có một điều quy định, có hai điều quy định thêm,
không có điều quy định khi (sự việc) chưa xảy ra trong trường hợp ấy.
Là điều quy định (áp dụng) cho tất cả mọi nơi, (hay là) điều quy định
(áp dụng) cho khu vực? – Là điều quy định (áp dụng) cho tất cả mọi
nơi. Là điều quy định chung (cho tỳ khưu và tỳ khưu ni) hay là điều
quy định riêng? – Là điều quy định chung. Là điều quy định cho một
(hội chúng) hay là điều quy định cho cả hai (hội chúng tỳ khưu và tỳ
khưu ni)? – Là điều quy định cho cả hai. Được gồm chung vào phần nào,
được tính vào phần nào trong năm cách đọc tụng giới bổn Pātimokkha?
– Được gồm chung vào phần mở đầu, được tính vào phần mở đầu. Được đưa
ra đọc tụng với phần đọc tụng nào? – Được đưa ra đọc tụng với phần đọc
tụng thứ nhì. Là sự hư hỏng nào trong bốn điều hư hỏng? – Là sự hư
hỏng về giới. Thuộc về nhóm tội nào trong bảy nhóm tội? – Thuộc về
nhóm tội pārājika. Trong sáu nguồn sanh tội, điều ấy sanh lên
do bao nhiêu nguồn sanh tội? – Điều ấy sanh lên do một nguồn sanh tội
là sanh lên do thân và do ý, không do khẩu. ...(như trên)... Do ai
truyền đạt lại? – Được truyền đạt lại theo sự kế tục (của các vị
trưởng lão).
Các ngài Upāli,
và ngài Dāsaka,
cũng vậy Soṇaka,
và ngài Siggava,
Moggallīputta,
là vị đứng thứ năm,
các vị ấy truyền lại
ở Jambu huy hoàng.
Từ đó, Mahinda,
và ngài Iṭṭiya,
trưởng lão Uttiya,
và ngài Sambala,
...(như trên)...
Những vị hàng đầu ấy
có được đại trí tuệ
là những vị thông Luật
rành rẽ về đường lối
đã phổ biến Tạng Luật
ở trên hòn đảo (này)
tên Tambapaṇṇi.
[470] Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng
Giác khi biết được, khi thấy được đã quy định điều pārājika vì
nguyên nhân của việc lấy vật chưa được cho tại đâu? – Đã được quy định
tại thành Rājagaha. Liên quan đến ai? – Liên quan đến Dhaniya, con
trai người thợ gốm. Về sự việc gì? – Trong sự việc ấy, Dhaniya con
trai người thợ gốm đã lấy vật chưa được cho là các cây gỗ của đức vua.
– Có một điều quy định, có một điều quy định thêm, không có điều quy
định khi (sự việc) chưa xảy ra. – Trong sáu nguồn sanh tội, điều ấy
sanh lên do ba nguồn sanh tội: Có thể sanh lên do thân và do ý, không
do khẩu; có thể sanh lên do khẩu và do ý, không do thân; có thể sanh
lên do thân, do khẩu, và do ý. ...(như trên)...
[471] Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng
Giác khi biết được, khi thấy được đã quy định điều pārājika vì
nguyên nhân của việc đoạt lấy mạng sống con người tại đâu? – Đã được
quy định tại thành Vesālī. Liên quan đến ai? – Liên quan đến nhiều vị
tỳ khưu. Về sự việc gì? – Trong sự việc ấy, nhiều vị tỳ khưu đã đoạt
lấy mạng sống lẫn nhau. – Có một điều quy định, có một điều quy định
thêm, không có điều quy định khi (sự việc) chưa xảy ra. – Trong sáu
nguồn sanh tội, điều ấy sanh lên do ba nguồn sanh tội: Có thể sanh lên
do thân và do ý, không do khẩu; có thể sanh lên do khẩu và do ý, không
do thân; có thể sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. ...(như trên)...
[472] Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng
Giác khi biết được, khi thấy được đã quy định điều pārājika vì
nguyên nhân của việc khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực
chứng tại đâu? – Đã được quy định tại thành Vesālī. Liên quan đến ai?
– Liên quan đến các vị tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā. Về sự việc gì? –
Trong sự việc ấy, các vị tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā đã khen ngợi về
pháp thượng nhân của vị này vị nọ trước các cư sĩ. – Có một điều quy
định, có một điều quy định thêm. – Trong sáu nguồn sanh tội, điều ấy
sanh lên do ba nguồn sanh tội: Có thể sanh lên do thân và do ý, không
do khẩu; có thể sanh lên do khẩu và do ý, không do thân; có thể sanh
lên do thân, do khẩu, và do ý. ...(như trên)...
[473] Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng
Giác khi biết được, khi thấy được đã quy định điều pārājika vì
nguyên nhân của việc sau khi đã gắng sức rồi làm xuất ra tinh dịch tại
đâu? Liên quan đến ai? Về sự việc gì? ...(như trên)... Do ai truyền
đạt lại?
Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác
khi biết được, khi thấy được đã quy định điều pārājika vì
nguyên nhân của việc sau khi đã gắng sức rồi làm xuất ra tinh dịch tại
đâu? – Đã được quy định tại thành Sāvatthi. Liên quan đến ai? – Liên
quan đến đại đức Seyyasaka. Về sự việc gì? – Trong sự việc ấy, đại đức
Seyyasaka đã gắng sức bằng tay và làm xuất ra tinh dịch. Trong trường
hợp ấy, có điều quy định, có điều quy định thêm, có điều quy định khi
(sự việc) chưa xảy ra không? – Có một điều quy định, có một điều quy
định thêm, không có điều quy định khi (sự việc) chưa xảy ra trong
trường hợp ấy. Là điều quy định (áp dụng) cho tất cả mọi nơi, (hay là)
điều quy định (áp dụng) cho khu vực? – Là điều quy định (áp dụng) cho
tất cả mọi nơi. Là điều quy định chung (cho tỳ khưu và tỳ khưu ni) hay
là điều quy định riêng? – Là điều quy định riêng (cho tỳ khưu). Là
điều quy định cho một (hội chúng) hay là điều quy định cho cả hai (hội
chúng tỳ khưu và tỳ khưu ni)? – Là điều quy định cho một (hội chúng tỳ
khưu). (Điều ấy) được gồm chung vào phần nào, được tính vào phần nào
trong năm cách đọc tụng giới bổn Pātimokkha? – Được gồm chung vào phần
mở đầu, được tính vào phần mở đầu. Được đưa ra đọc tụng với phần đọc
tụng nào? – Được đưa ra đọc tụng với phần đọc tụng thứ ba. Là sự hư
hỏng nào trong bốn điều hư hỏng? – Là sự hư hỏng về giới. Thuộc về
nhóm tội nào trong bảy nhóm tội? – Thuộc về nhóm tội saṅghādisesa.
Trong sáu nguồn sanh tội, điều ấy sanh lên do bao nhiêu nguồn sanh
tội? – Điều ấy sanh lên do một nguồn sanh tội là sanh lên do thân và
do ý, không do khẩu. ...(như trên)... Do ai truyền đạt lại? – Được
truyền đạt lại theo sự kế tục (của các vị trưởng lão).
Các ngài Upāli,
và ngài Dāsaka,
cũng vậy Soṇaka,
và ngài Siggava,
Moggallīputta,
là vị đứng thứ năm,
các vị ấy truyền lại
ở Jambu huy hoàng.
Từ đó, Mahinda,
và ngài Iṭṭiya,
trưởng lão Uttiya,
và ngài Sambala,
...(như trên)...
Những vị hàng đầu ấy
có được đại trí tuệ
là những vị thông Luật
rành rẽ về đường lối
đã phổ biến Tạng Luật
ở trên hòn đảo (này)
tên Tambapaṇṇi.
[474] Điều saṅghādisesa vì nguyên nhân của
việc xúc chạm thân thể với người nữ đã được quy định tại đâu? – Đã
được quy định tại thành Sāvatthi. Liên quan đến ai? – Liên quan đến
đại đức Udāyi. Về sự việc gì? – Trong sự việc ấy, đại đức Udāyi đã
thực hiện việc xúc chạm thân thể với người nữ. – Có một điều quy định.
– Trong sáu nguồn sanh tội, điều ấy sanh lên do một nguồn sanh tội là
sanh lên do thân và do ý, không do khẩu. ...(như trên)...
[475] Điều saṅghādisesa vì nguyên nhân của
việc nói với người nữ bằng những lời dâm dật đã được quy định tại đâu?
– Đã được quy định tại thành Sāvatthi. Liên quan đến ai? – Liên quan
đến đại đức Udāyi. Về sự việc gì? – Trong sự việc ấy, đại đức Udāyi đã
nói với người nữ bằng những lời dâm dật. – Có một điều quy định. –
Trong sáu nguồn sanh tội, điều ấy sanh lên do ba nguồn sanh tội: Có
thể sanh lên do thân và do ý, không do khẩu; có thể sanh lên do khẩu
và do ý, không do thân; có thể sanh lên do thân, do khẩu, và do ý.
...(như trên)...
[476] Điều saṅghādisesa vì nguyên nhân của
việc nói lời ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện
diện của người nữ đã được quy định tại đâu? – Đã được quy định tại
thành Sāvatthi. Liên quan đến ai? – Liên quan đến đại đức Udāyi. Về sự
việc gì? – Trong sự việc ấy, đại đức Udāyi đã ca ngợi sự hầu hạ tình
dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ. – Có một điều quy
định. – Trong sáu nguồn sanh tội, điều ấy sanh lên do ba nguồn sanh
tội: ...(như trên)...
[477] Điều saṅghādisesa vì nguyên nhân của
việc tiến hành sự mai mối đã được quy định tại đâu? – Đã được quy định
tại thành Sāvatthi. Liên quan đến ai? – Liên quan đến đại đức Udāyi.
Về sự việc gì? – Trong sự việc ấy, đại đức Udāyi đã tiến hành việc mai
mối. – Có một điều quy định, có một điều quy định thêm. – Trong sáu
nguồn sanh tội, điều ấy sanh lên do sáu nguồn sanh tội: Có thể sanh
lên do thân, không do khẩu không do ý; có thể sanh lên do khẩu, không
do thân không do ý; có thể sanh lên do thân và do khẩu, không do ý; có
thể sanh lên do thân và do ý, không do khẩu; có thể sanh lên do khẩu
và do ý, không do thân; có thể sanh lên do thân, do khẩu, và do ý.
...(như trên)...
[478] Điều saṅghādisesa vì nguyên nhân của
việc bảo xây dựng cốc liêu do tự mình xin (vật liệu) đã được quy định
tại đâu? – Đã được quy định tại thành Āḷavī. Liên quan đến ai? – Liên
quan đến các tỳ khưu ở Āḷavī. Về sự việc gì? – Trong sự việc ấy, các
tỳ khưu ở Āḷavī đã bảo xây dựng cốc liêu do tự mình xin (vật liệu). –
Có một điều quy định. – Trong sáu nguồn sanh tội, điều ấy sanh lên do
sáu nguồn sanh tội: ...(như trên)...
[479] Điều saṅghādisesa vì nguyên nhân của
việc bảo xây dựng trú xá lớn đã được quy định tại đâu? – Đã được quy
định tại thành Kosambī. Liên quan đến ai? – Liên quan đến đại đức
Channa. Về sự việc gì? – Trong sự việc ấy, đại đức Channa trong khi
cho dọn sạch khu đất của trú xá đã bảo người đốn ngã cội cây nọ vốn
được dùng làm nơi thờ phượng. – Có một điều quy định. – Trong sáu
nguồn sanh tội, điều ấy sanh lên do sáu nguồn sanh tội: ...(như
trên)...
[480] Điều saṅghādisesa vì nguyên nhân của
việc bôi nhọ vị tỳ khưu về tội pārājika không có nguyên cớ đã
được quy định tại đâu? – Đã được quy định tại thành Rājagaha. Liên
quan đến ai? – Liên quan đến các vị tỳ khưu nhóm Mettiya và
Bhummajaka. Về sự việc gì? – Trong sự việc ấy, các vị tỳ khưu nhóm
Mettiya và Bhummajaka đã bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta về tội
pārājika không có nguyên cớ. – Có một điều quy định. – Trong sáu
nguồn sanh tội, điều ấy sanh lên do ba nguồn sanh tội: ...(như
trên)...
[481] Điều saṅghādisesa vì nguyên nhân của
việc bôi nhọ vị tỳ khưu về tội pārājika sau khi nắm lấy sự kiện
nào đó chỉ là nhỏ nhặt thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt
đã được quy định tại đâu? – Đã được quy định tại thành Rājagaha. Liên
quan đến ai? – Liên quan đến các vị tỳ khưu nhóm Mettiya và
Bhummajaka. Về sự việc gì? – Trong sự việc ấy, các vị tỳ khưu nhóm
Mettiya và Bhummajaka đã nắm lấy sự kiện nào đó chỉ là nhỏ nhặt thuộc
về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt rồi bôi nhọ đại đức Dabba
Mallaputta về tội pārājika. – Có một điều quy định. – Trong sáu
nguồn sanh tội, điều ấy sanh lên do ba nguồn sanh tội: ...(như
trên)...
[482] Điều saṅghādisesa vì nguyên nhân của
việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba của vị tỳ khưu
chia rẽ hội chúng đã được quy định tại đâu? – Đã được quy định tại
thành Rājagaha. Liên quan đến ai? – Liên quan đến Devadatta. Về sự
việc gì? – Trong sự việc ấy, Devadatta đã ra sức cho việc chia rẽ hội
chúng hợp nhất. – Có một điều quy định. – Trong sáu nguồn sanh tội,
điều ấy sanh lên do một nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu,
và do ý. ...(như trên)...
[483] Điều saṅghādisesa vì nguyên nhân của
việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba của các tỳ khưu
là những kẻ xu hướng theo vị chia rẽ (hội chúng) đã được quy định tại
đâu? – Đã được quy định tại thành Rājagaha. Liên quan đến ai? – Liên
quan đến nhiều vị tỳ khưu. Về sự việc gì? – Trong sự việc ấy, nhiều vị
tỳ khưu đã là những kẻ tuyên bố ly khai, những kẻ xu hướng theo
Devadatta là người đang ra sức cho việc chia rẽ hội chúng. – Có một
điều quy định. – Trong sáu nguồn sanh tội, điều ấy sanh lên do một
nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. ...(như trên)...
[484] Điều saṅghādisesa vì nguyên nhân của
việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba của vị tỳ khưu
khó dạy đã được quy định tại đâu? – Đã được quy định tại thành
Kosambī. Liên quan đến ai? – Liên quan đến đại đức Channa. Về sự việc
gì? – Trong sự việc ấy, đại đức Channa trong khi được các vị tỳ khưu
nói đúng theo Pháp đã tỏ ra ương ngạnh. – Có một điều quy định. –
Trong sáu nguồn sanh tội, điều ấy sanh lên do một nguồn sanh tội là
sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. ...(như trên)...
[485] Điều saṅghādisesa vì nguyên nhân của
việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba của vị tỳ khưu
làm hư hỏng các gia đình đã được quy định tại đâu? – Đã được quy định
tại thành Sāvatthi. Liên quan đến ai? – Liên quan đến các tỳ khưu nhóm
Assaji và Punabbasuka. Về sự việc gì? – Trong sự việc ấy, các tỳ khưu
nhóm Assaji và Punabbasuka khi được hội chúng thực thi hành sự xua
đuổi đã chê bai các tỳ khưu là có sự thiên vị vì thương, có sự thiên
vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi. – Có
một điều quy định. – Trong sáu nguồn sanh tội, điều ấy sanh lên do một
nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. ...(như trên)...
[486] Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng
Giác khi biết được, khi thấy được đã quy định điều dukkaṭa vì
nguyên nhân của hành động đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào
trong nước do không có sự tôn trọng đã được quy định tại đâu? – Đã
được quy định tại thành Sāvatthi. Liên quan đến ai? – Liên quan đến
các tỳ khưu nhóm Lục Sư. Về sự việc gì? – Trong sự việc ấy, các tỳ
khưu nhóm Lục Sư đã đại tiện, tiểu tiện, và khạc nhổ vào trong nước. –
Có một điều quy định, có một điều quy định thêm. – Trong sáu nguồn
sanh tội, điều ấy sanh lên do một nguồn sanh tội là sanh lên do thân
và do ý, không do khẩu. ...(như trên)...
Dứt
phần “Quy Định Tại Đâu” là phần thứ nhất.
[487] Vì nguyên nhân của sự thực hiện việc đôi
lứa vi phạm bao nhiêu tội?
– Vì nguyên nhân của sự thực hiện việc đôi lứa vi
phạm bốn tội: Vị thực hiện việc đôi lứa nơi thi thể chưa bị (thú) ăn
phạm tội pārājika. Vị thực hiện việc đôi lứa nơi thi thể đã bị
(thú) ăn nhiều phần phạm tội thullaccaya. Vị đưa dương vật vào
miệng đã được mở ra nhưng không bị va chạm phạm tội dukkaṭa.
Trong (trường hợp) gậy ngắn bằng nhựa cây phạm tội pācittiya.[2]
Vì nguyên nhân của sự thực hiện việc đôi lứa vi phạm bốn tội này.
[488] Vì nguyên nhân của việc lấy vật chưa được
cho vi phạm bao nhiêu tội?
– Vì nguyên nhân của việc lấy vật chưa được cho
vi phạm ba tội: Vị lấy theo lối trộm cắp vật chưa được cho trị giá năm
māsaka hoặc hơn năm māsaka phạm tội pārājika. Vị
lấy theo lối trộm cắp vật chưa được cho trị giá hơn một māsaka
hoặc kém năm māsaka phạm tội thullaccaya. Vị lấy theo
lối trộm cắp vật chưa được cho trị giá một māsaka hoặc kém một
māsaka phạm tội dukkaṭa. Vì nguyên nhân của việc lấy vật
chưa được cho vi phạm ba tội này.
[489] Vì nguyên nhân của việc đoạt lấy mạng sống
con người vi phạm bao nhiêu tội?
– Vì nguyên nhân của việc đoạt lấy mạng sống con
người vi phạm ba tội: Vị đào hố để bẩy người (nghĩ rằng): “Người
rơi xuống sẽ chết” phạm tội dukkaṭa. Khi đã bị rơi xuống,
cảm thọ khổ sanh khởi (ở nạn nhân) thì phạm tội thullaccaya.
(Nạn nhân) chết đi thì phạm tội pārājika. Vì nguyên nhân của sự
đoạt lấy mạng sống con người vi phạm ba tội này.
[490] Vì nguyên nhân của việc khoác lác về pháp
thượng nhân không có không thực chứng vi phạm bao nhiêu tội?
– Vì nguyên nhân của việc khoác lác về pháp
thượng nhân không có không thực chứng vi phạm ba tội: Vị có ước muốn
xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, rồi khoác lác về pháp thượng nhân
không có không thực chứng phạm tội pārājika. Vị nói rằng: “Vị
(tỳ khưu) nào cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy là bậc
A-la-hán,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya;
(người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa. Vì nguyên
nhân của sự khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng vi
phạm ba tội này.
[491] Vì nguyên nhân của việc sau khi đã gắng sức
rồi làm xuất ra tinh dịch vi phạm bao nhiêu tội?
– Vì nguyên nhân của việc sau khi đã gắng sức rồi
làm xuất ra tinh dịch vi phạm ba tội: Vị có ý định, gắng sức, bị xuất
ra phạm tội saṅghādisesa. Vị có ý định, gắng sức, không bị xuất
ra phạm tội thullaccaya. Trong lúc tiến hành, phạm tội
dukkaṭa. Vì nguyên nhân của việc sau khi đã gắng sức rồi làm xuất
ra tinh dịch vi phạm ba tội này
[492] Vì nguyên nhân của việc xúc chạm thân thể
vi phạm bao nhiêu tội?
– Vì nguyên nhân của việc xúc chạm thân thể vi
phạm năm tội: Vị tỳ khưu ni nhiễm dục vọng ưng thuận sự nắm lấy từ
xương đòn (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở lên của người nam nhiễm dục
vọng phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu sờ vào thân (người nữ) bằng
thân (vị ấy) phạm tội saṅghādisesa. Vị sờ vào vật được gắn liền
với thân (người nữ) bằng thân (vị ấy) phạm tội thullaccaya. Vị
sờ vào vật được gắn liền với thân (người nữ) bằng vật được gắn liền
với thân (vị ấy) phạm tội dukkaṭa. Vị thọc lét bằng ngón tay
phạm tội pācittiya. Vì nguyên nhân của việc xúc chạm thân thể
vi phạm năm tội này.
[493] Vì nguyên nhân của việc nói với người nữ
bằng những lời dâm dật vi phạm ba tội: Vị nói lời ca ngợi, nói lời chê
bai đề cập đến đường tiêu, đường tiểu phạm tội saṅghādisesa. Vị
nói lời ca ngợi, nói lời chê bai đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn
(ở cổ) trở xuống và từ đầu gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu
phạm tội thullaccaya. Vị nói lời ca ngợi, nói lời chê bai đề
cập đến vật gắn liền với thân phạm tội dukkaṭa.
[494] Vì nguyên nhân của việc nói lời ca ngợi sự
hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ vi phạm
ba tội: Vị ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện
của người nữ phạm tội saṅghādisesa. Vị ca ngợi sự hầu hạ tình
dục cho bản thân trong sự hiện diện của người vô căn phạm tội
thullaccaya. Vị ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự
hiện diện của loài thú phạm tội dukkaṭa.
[495] Vì nguyên nhân của việc tiến hành sự mai
mối vi phạm ba tội: Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) phạm tội
saṅghādisesa. Vị nhận lời, thông báo, không đem lại (hồi báo)
phạm tội thullaccaya. Vị nhận lời, không thông báo, không đem
lại (hồi báo) phạm tội dukkaṭa.
[496] Vì nguyên nhân của việc bảo xây dựng cốc
liêu do tự mình xin (vật liệu) vi phạm ba tội: Vị bảo xây dựng, trong
lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Còn cục (vữa tô) cuối cùng,
phạm tội thullaccaya. Khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt vào, phạm
tội saṅghādisesa.
[497] Vì nguyên nhân của việc bảo xây dựng trú xá
lớn vi phạm ba tội: Vị bảo xây dựng, trong lúc tiến hành phạm tội
dukkaṭa. Còn cục (vữa tô) cuối cùng, phạm tội thullaccaya.
Khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt vào, phạm tội saṅghādisesa.
[498] Vì nguyên nhân của việc bôi nhọ vị tỳ khưu
về tội pārājika không có nguyên cớ vi phạm ba tội: Vị khi chưa
thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) phạm
tội dukkaṭa và tội saṅghādisesa. Vị sau khi đã thỉnh ý
(để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm
tội nói lời mắng nhiếc.
[499] Vì nguyên nhân của việc bôi nhọ vị tỳ khưu
về tội pārājika sau khi nắm lấy sự kiện nào đó chỉ là nhỏ nhặt
thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt vi phạm ba tội: Vị khi
chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội)
phạm tội dukkaṭa và tội saṅghādisesa. Vị sau khi đã
thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì
phạm tội nói lời mắng nhiếc.
[500] Vì nguyên nhân của việc không chịu dứt bỏ
với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, vị tỳ khưu là người chia rẽ hội chúng
vi phạm ba tội: Do lời đề nghị phạm tội dukkaṭa. Do hai lời
thông báo của hành sự phạm các tội thullaccaya. Khi chấm dứt
tuyên ngôn hành sự, phạm tội saṅghādisesa.
[501] Vì nguyên nhân của việc không chịu dứt bỏ
với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, các vị tỳ khưu là những kẻ xu hướng
theo vị chia rẽ (hội chúng) vi phạm ba tội: Do lời đề nghị phạm tội
dukkaṭa. Do hai lời thông báo của hành sự phạm các tội
thullaccaya. Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự, phạm tội
saṅghādisesa.
[502] Vì nguyên nhân của việc không chịu dứt bỏ
với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, vị tỳ khưu khó dạy vi phạm ba tội: Do
lời đề nghị phạm tội dukkaṭa. Do hai lời thông báo của hành sự
phạm các tội thullaccaya. Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự, phạm
tội saṅghādisesa.
[503] Vì nguyên nhân của việc không chịu dứt bỏ
với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, vị tỳ khưu là người làm hư hỏng các
gia đình vi phạm ba tội: Do lời đề nghị phạm tội dukkaṭa. Do
hai lời thông báo của hành sự phạm các tội thullaccaya. Khi
chấm dứt tuyên ngôn hành sự, phạm tội saṅghādisesa.
...(như trên)...
[504] Vì nguyên nhân của hành động đại tiện, hoặc
tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng vi
phạm bao nhiêu tội?
– Vì nguyên nhân của hành động đại tiện, hoặc
tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng vi
phạm một tội dukkaṭa. Vì nguyên nhân của hành động đại tiện,
hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng
vi phạm một tội này.
Dứt
phần “Bao Nhiêu Tội” là phần thứ nhì.
[505] Các tội vi phạm vì nguyên nhân của sự thực
hiện việc đôi lứa được phân chia theo bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn
sự hư hỏng?
– Các tội vi phạm vì nguyên nhân của sự thực hiện
việc đôi lứa được phân chia theo hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng:
có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm.
...(như trên)...
Tội vi phạm vì nguyên nhân của hành động đại
tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn
trọng được phân chia theo bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng?
– Tội vi phạm vì nguyên nhân của hành động đại
tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn
trọng được phân chia theo một sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng là sự hư
hỏng về hạnh kiểm.
Dứt
phần “Sự Hư Hỏng” là phần thứ ba.
[506] Các tội vi phạm vì nguyên nhân của sự thực
hiện việc đôi lứa được quy tụ vào bao nhiêu nhóm tội trong bảy nhóm
tội?
– Các tội vi phạm vì nguyên nhân của sự thực hiện
việc đôi lứa được quy tụ vào bốn nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể
là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội thullaccaya, có
thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa.
...(như trên)...
Tội vi phạm vì nguyên nhân của hành động đại
tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn
trọng được quy tụ vào bao nhiêu nhóm tội trong bảy nhóm tội?
– Tội vi phạm vì nguyên nhân của hành động đại
tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn
trọng được quy tụ vào một nhóm tội trong bảy nhóm tội là nhóm tội
dukkaṭa.
Dứt
phần “Sự Quy Tụ” là phần thứ tư.
[507] Các tội vi phạm vì nguyên nhân của sự thực
hiện việc đôi lứa được sanh lên do bao nhiêu nguồn sanh tội trong sáu
nguồn sanh tội?
– Các tội vi phạm vì nguyên nhân của sự thực hiện
việc đôi lứa được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh
tội là sanh lên do thân và do ý, không do khẩu.
...(như trên)...
Tội vi phạm vì nguyên nhân của hành động đại
tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn
trọng được sanh lên do bao nhiêu nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh
tội?
– Tội vi phạm vì nguyên nhân của hành động đại
tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn
trọng được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là
sanh lên do thân và do ý, không do khẩu.
Dứt
phần “Nguồn Sanh Tội” là phần thứ năm.
[508] Các tội vi phạm vì nguyên nhân của sự thực
hiện việc đôi lứa là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng?
– Các tội vi phạm vì nguyên nhân của sự thực hiện
việc đôi lứa là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh
tụng.
...(như trên)...
Tội vi phạm vì nguyên nhân của hành động đại
tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn
trọng là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng?
– Tội vi phạm vì nguyên nhân của hành động đại
tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn
trọng là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng.
Dứt
phần “Sự Tranh Tụng” là phần thứ sáu.
[509] Các tội vi phạm vì nguyên nhân của sự thực
hiện việc đôi lứa được giải quyết với bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy
cách dàn xếp?
– Các tội vi phạm vì nguyên nhân của sự thực hiện
việc đôi lứa được giải quyết với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn
xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội
đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách
dùng cỏ che lấp.
...(như trên)...
Tội vi phạm vì nguyên nhân của hành động đại
tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn
trọng được giải quyết với bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn
xếp?
– Tội vi phạm vì nguyên nhân của hành động đại
tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn
trọng được giải quyết với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có
thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được
thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che
lấp.
Dứt
phần “Dàn Xếp” là phần thứ bảy.
[510] Các tội vi phạm vì nguyên nhân của sự thực
hiện việc đôi lứa vi phạm bao nhiêu tội? Vì nguyên nhân của sự thực
hiện việc đôi lứa vi phạm bốn tội: Vị thực hiện việc đôi lứa nơi thi
thể chưa bị (thú) ăn phạm tội pārājika. Vị thực hiện việc đôi
lứa nơi thi thể đã bị (thú) ăn nhiều phần phạm tội thullaccaya.
Vị đưa dương vật vào miệng đã được mở ra nhưng không bị va chạm phạm
tội dukkaṭa. Trong (trường hợp) gậy ngắn bằng nhựa cây phạm tội
pācittiya. Vì nguyên nhân của sự thực hiện việc đôi lứa vi phạm
bốn tội này.
Các tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư
hỏng trong bốn sự hư hỏng? Được quy tụ vào bao nhiêu nhóm tội trong
bảy nhóm tội? Được sanh lên do bao nhiêu nguồn sanh tội trong sáu
nguồn sanh tội? Là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng? Được
giải quyết với bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
– Các tội ấy được phân chia theo hai sự hư hỏng
trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư
hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ vào bốn nhóm tội trong bảy nhóm tội: có
thể là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội thullaccaya,
có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa.
Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh
lên do thân và do ý, không do khẩu. Là sự tranh tụng liên quan đến tội
trong bốn sự tranh tụng. Được giải quyết với ba cách dàn xếp trong bảy
cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử
theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và
cách dùng cỏ che lấp.
...(như trên)...
Vì nguyên nhân của hành động đại tiện, hoặc tiểu
tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng vi phạm
bao nhiêu tội?
– Vì nguyên nhân của hành động đại tiện, hoặc
tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng vi
phạm một tội dukkaṭa. Vì nguyên nhân của hành động đại tiện,
hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng
vi phạm một tội này.
Tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư hỏng
trong bốn sự hư hỏng? Được quy tụ vào bao nhiêu nhóm tội trong bảy
nhóm tội? Được sanh lên do bao nhiêu nguồn sanh tội trong sáu nguồn
sanh tội? Là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng? Được giải
quyết với bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
– Tội ấy được phân chia theo một sự hư hỏng trong
bốn sự hư hỏng là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ vào một nhóm
tội trong bảy nhóm tội là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do
một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân và do
ý, không do khẩu. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự
tranh tụng. Được giải quyết với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn
xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội
đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách
dùng cỏ che lấp.
Dứt
phần Tổng Hợp là phần thứ tám.
Dứt
tám phần về Nguyên Nhân.
Dứt
Mười Sáu Phần Chính thuộc Đại Phân Tích.
*******
[1]
Tức là tội pācittiya
(ưng đối trị) thứ 2.
[2]
Không rõ vì sao điều học của tỳ khưu ni lại được xếp vào ở đây là phần
thuộc về tỳ khưu?
-ooOoo-
Đầu trang |
Mục lục |
01a |
01b |
01c | 01d |
02a |
02b |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
18 |
19
|