|
Tạng Luật
Vinayapitaka
Bộ Tập Yếu
Parivāra
Tỳ khưu Indacanda Nguyệt Thiên dịch
2004
Mục lục |
01a |
01b |
01c |
01d |
02a |
02b |
03 | 04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
18 |
19
IV. (a) SỰ TRÙNG LẶP
LIÊN TỤC
PHẦN
CÂU HỎI BAO NHIÊU:
[841] Bao nhiêu loại tội vi phạm? Bao nhiêu nhóm
tội? Bao nhiêu sự việc đã được rèn luyện? Bao nhiêu sự không kính
trọng? Bao nhiêu sự kính trọng? Bao nhiêu sự việc đã được rèn luyện?
Bao nhiêu sự hư hỏng? Bao nhiêu nguồn sanh tội? Bao nhiêu nguyên nhân
tranh cãi? Bao nhiêu nguyên nhân khiển trách? Bao nhiêu pháp cần được
ghi nhớ? Bao nhiêu sự việc gây ra chia rẽ? Bao nhiêu sự tranh tụng?
Bao nhiêu cách dàn xếp?
[842] Năm loại tội. Năm nhóm tội. Năm sự việc đã
được rèn luyện. Bảy loại tội. Bảy nhóm tội. Bảy sự việc đã được rèn
luyện. Sáu sự không kính trọng. Sáu sự kính trọng. Sáu sự việc đã được
rèn luyện. Bốn sự hư hỏng. Sáu nguồn sanh tội. Sáu nguyên nhân tranh
cãi. Sáu nguyên nhân khiển trách. Sáu pháp cần được ghi nhớ. Mười tám
sự việc gây ra chia rẽ. Bốn sự tranh tụng. Bảy cách dàn xếp.
[843] Ở đây, năm loại tội là gì?
– Tội pārājika, tội saṅghādisesa,
tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, tội dukkaṭa. Đây
là năm loại tội.
[844] Ở đây, năm nhóm tội là gì?
– Nhóm tội pārājika, nhóm tội
saṅghādisesa, nhóm tội pācittiya, nhóm tội pāṭidesanīya,
nhóm tội dukkaṭa. Đây là năm nhóm tội.
[845] Ở đây, năm sự việc đã được rèn luyện là gì?
- Sự hạn
chế, sự khống chế, sự kềm chế, sự tránh xa, sự không làm, sự không
hành động, sự không vi phạm, sự không vượt qua lằn ranh, sự cắt đứt
mối liên hệ với năm nhóm tội. Đây là năm sự việc đã được rèn luyện.
[846] Ở đây, bảy loại tội là gì?
– Tội pārājika, tội saṅghādisesa,
tội thullaccaya, tội pācittiya, tội pāṭidesanīya,
tội dukkaṭa, tội dubbhāsita. Đây là bảy loại tội.
[847] Ở đây, bảy nhóm tội là gì?
– Nhóm tội pārājika, nhóm tội
saṅghādisesa, nhóm tội thullaccaya, nhóm tội pācittiya,
nhóm tội pāṭidesanīya, nhóm tội dukkaṭa, nhóm tội
dubbhāsita. Đây là bảy nhóm tội.
[848] Ở đây, bảy sự việc đã được rèn luyện là gì?
- Sự hạn
chế, sự khống chế, sự kềm chế, sự tránh xa, sự không làm, sự không
hành động, sự không vi phạm, sự không vượt qua lằn ranh, sự cắt đứt
mối liên hệ với bảy nhóm tội. Đây là bảy sự việc đã được rèn luyện.
[849] Ở đây, sáu sự không kính trọng là gì?
- Sự
không kính trọng đức Phật, sự không kính trọng Giáo Pháp, sự không
kính trọng hội chúng, sự không kính trọng việc học tập, sự không kính
trọng việc không biếng nhác, sự không kính trọng việc tiếp nhận
(paṭisanthāraṃ). Đây là sáu sự không kính trọng.
[850] Ở đây, sáu sự kính trọng là gì?
- Sự
kính trọng đức Phật, sự kính trọng Giáo Pháp, sự kính trọng hội chúng,
sự kính trọng việc học tập, sự kính trọng việc không biếng nhác, sự
kính trọng việc tiếp nhận. Đây là sáu sự kính trọng.
[851] Ở đây, sáu sự việc đã được rèn luyện là gì?
- Sự hạn
chế, sự khống chế, sự kềm chế, sự tránh xa, sự không làm, sự không
hành động, sự không vi phạm, sự không vượt qua lằn ranh, sự cắt đứt
mối liên hệ với sáu sự không kính trọng. Đây là sáu sự việc đã được
rèn luyện.
[852] Ở đây, bốn sự hư hỏng là gì?
– Sự hư hỏng về giới, sự hư hỏng về hạnh kiểm, sự
hư hỏng về tri kiến, sự hư hỏng về nuôi mạng. Đây là bốn sự hư hỏng.
[853] Ở đây, sáu nguồn sanh tội là gì?
– Có tội sanh lên do thân, không do khẩu không do
ý. Có tội sanh lên do khẩu, không do thân không do ý. Có tội sanh lên
do thân và do khẩu, không do ý. Có tội sanh lên do thân và do ý, không
do khẩu. Có tội sanh lên do khẩu và do ý, không do thân. Có tội sanh
lên do thân, do khẩu, và do ý. Đây là sáu nguồn sanh tội.
[854] Ở đây, sáu nguyên nhân tranh cãi là gì?
- Trong
trường hợp này, vị tỳ khưu trở nên giận dữ
có sự hằn học.
[1]
Vị tỳ khưu nào trở nên giận dữ, có sự hằn học, vị ấy sống không cung
kính, không phục tùng bậc Đạo Sư; vị ấy sống không cung kính, không
phục tùng Pháp; vị ấy sống không cung kính, không phục tùng hội chúng;
vị ấy có sự thực hành không trọn vẹn sự học tập. Này các tỳ khưu, vị
tỳ khưu nào sống không cung kính, không phục tùng bậc Đạo Sư, …(như
trên)… Pháp, …(như trên)… hội chúng, …(như trên)…, không có sự thực
hành trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự tranh cãi trong hội
chúng. Đó là sự tranh cãi đem lại sự không lợi ích cho nhiều người,
đem lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn hóa cho
nhiều người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư thiên và nhân
loại. Nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân tranh cãi có hình thức
như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, trong trường hợp ấy các
ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân tranh cãi xấu
xa ấy. Nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân tranh cãi có
hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, trong trường hợp
ấy các ngươi nên thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong tương lai
cho chính nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy. Như thế nguyên nhân tranh
cãi xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân tranh cãi xấu
xa ấy không có được sự hỗ trợ trong tương lai.
Còn có điều khác nữa,
vị tỳ khưu trở nên đạo đức giả và dối trá, …(như trên)…, trở nên đố kỵ
và bỏn xẻn, trở nên mưu mẹo và xảo trá, trở nên ác dục và tà kiến, trở
nên chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi. Vị tỳ khưu nào
trở nên chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi, vị ấy sống
không cung kính, không phục tùng bậc Đạo Sư; vị ấy sống không cung
kính, không phục tùng Pháp; vị ấy sống không cung kính, không phục
tùng hội chúng; vị ấy không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập. Này
các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sống không cung kính, không phục tùng bậc
Đạo Sư, …(như trên)… Pháp, …(như trên)… hội chúng, …(như trên)…, không
có sự thực hành trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự tranh cãi
trong hội chúng. Đó là sự tranh cãi đem lại sự không lợi ích cho nhiều
người, đem lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn
hóa cho nhiều người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư thiên
và nhân loại. Nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân tranh cãi có
hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, trong trường hợp
ấy các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân tranh
cãi xấu xa ấy. Nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân tranh
cãi có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, trong
trường hợp ấy các ngươi nên thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong
tương lai cho chính nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy. Như thế nguyên
nhân tranh cãi xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân
tranh cãi xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong tương lai. Đây là
sáu nguyên nhân tranh cãi.
[855] Ở đây, sáu nguyên nhân khiển trách là gì?
- Trong
trường hợp này, vị tỳ khưu trở nên giận dữ
có sự hằn học. Vị tỳ khưu nào trở nên giận dữ, có sự hằn học, vị ấy
sống không cung kính, không phục tùng bậc Đạo Sư; vị ấy sống không
cung kính, không phục tùng Pháp; vị ấy sống không cung kính, không
phục tùng hội chúng; vị ấy không có sự thực hành trọn vẹn việc học
tập. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sống không cung kính, không phục
tùng bậc Đạo Sư, …(như trên)… Pháp, …(như trên)… hội chúng, …(như
trên)…, không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự
khiển trách trong hội chúng. Đó là sự khiển trách đem lại sự không lợi
ích cho nhiều người, đem lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại
sự không tấn hóa cho nhiều người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau
cho chư thiên và nhân loại. Nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân
khiển trách có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan,
trong trường hợp ấy các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính
nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy. Nếu các ngươi không nhận thức được
nguyên nhân khiển trách có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc
khách quan, trong trường hợp ấy các ngươi nên thực hành để không đem
lại sự hỗ trợ trong tương lai cho chính nguyên nhân khiển trách xấu xa
ấy. Như thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như
thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong
tương lai.
Còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu trở nên đạo đức
giả và dối trá, …(như trên)…, trở nên đố kỵ và bỏn xẻn, trở nên mưu
mẹo và xảo trá, trở nên ác dục và tà kiến, trở nên chấp thủ một cách
lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi. Vị tỳ khưu nào trở nên chấp thủ một
cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi, vị ấy sống không cung kính,
không phục tùng bậc Đạo Sư; vị ấy sống không cung kính, không phục
tùng Pháp; vị ấy sống không cung kính, không phục tùng hội chúng; vị
ấy không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập. Này các tỳ khưu, vị tỳ
khưu nào sống không cung kính, không phục tùng bậc Đạo Sư, …(như
trên)… Pháp, …(như trên)… hội chúng, …(như trên)…, không có sự thực
hành trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự khiển trách trong hội
chúng. Đó là sự khiển trách đem lại sự không lợi ích cho nhiều người,
đem lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn hóa cho
nhiều người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư thiên và nhân
loại. Nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân khiển trách có hình
thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, trong trường hợp ấy
các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân khiển trách
xấu xa ấy. Nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân khiển trách
có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, trong trường
hợp ấy các ngươi nên thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong tương
lai cho chính nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy. Như thế nguyên nhân
khiển trách xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân khiển
trách xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong tương lai. Đây là sáu
nguyên nhân khiển trách.
[856] Ở đây, sáu pháp cần được ghi nhớ là gì?
- Trong
trường hợp này, sự thân thiện của vị tỳ khưu qua thân nghiệp đối với
các vị đồng Phạm hạnh được thể hiện một cách công khai hoặc kín đáo;
đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự thương mến, tạo sự kính
trọng, đưa đến sự gắn bó, sự không tranh cãi, sự hòa hợp, sự nhất thể.
Còn có điều khác nữa, sự thân thiện của vị tỳ
khưu qua khẩu nghiệp đối với các vị đồng Phạm hạnh được thể hiện một
cách công khai hoặc kín đáo; đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự
thương mến, tạo sự kính trọng, đưa đến sự gắn bó, sự không tranh cãi,
sự hòa hợp, sự nhất thể.
Còn có điều khác nữa, sự thân thiện của vị tỳ
khưu qua ý nghiệp đối với các vị đồng Phạm hạnh được thể hiện một cách
công khai hoặc kín đáo; đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự
thương mến, tạo sự kính trọng, đưa đến sự gắn bó, sự không tranh cãi,
sự hòa hợp, sự nhất thể.
Còn có điều khác nữa, những lợi lộc nào đúng
pháp, đạt được hợp pháp, ngay cả vật được đặt vào trong bình bát, vị
tỳ khưu có sự hoan hỷ chia xẻ đồng đều các lợi lộc có hình thức như
thế, có sự hoan hỷ trong việc dùng chung với các vị đồng Phạm hạnh có
giới đức; đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự thương mến, tạo sự
kính trọng, đưa đến sự gắn bó, sự không tranh cãi, sự hòa hợp, sự nhất
thể.
Còn có điều khác nữa, những giới nào không bị bể
vỡ, không bị sứt mẻ, không lấm nhơ, không khuyết điểm, được tự tại,
được các bậc trí ngợi khen, không hoen ố, đưa đến thiền định, vị tỳ
khưu cùng với các vị đồng Phạm hạnh sống thực hành về giới theo các
giới có hình thức như thế một cách công khai hoặc kín đáo; đây cũng là
pháp cần được ghi nhớ, tạo sự thương mến, tạo sự kính trọng, đưa đến
sự gắn bó, sự không tranh cãi, sự hòa hợp, sự nhất thể.
Còn có điều khác nữa, tri kiến nào thuộc bậc
Thánh, đưa đến giải thoát, đưa đến sự hoàn toàn diệt tận khổ đau cho
người thực hành theo điều ấy, vị tỳ khưu cùng với các vị đồng Phạm
hạnh sống thực hành về tri kiến theo tri kiến có hình thức như thế một
cách công khai hoặc kín đáo; đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự
thương mến, tạo sự kính trọng, đưa đến sự gắn bó, sự không tranh cãi,
sự hòa hợp, sự nhất thể. Đây là sáu pháp cần được ghi nhớ.
[857] Ở đây, mười tám sự việc gây ra chia rẽ là
gì?
- Trường
hợp vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là “Pháp;”[2]
tuyên bố Pháp là: “Phi Pháp;” tuyên bố phi Luật là: “Luật;”
tuyên bố Luật là: “Phi Luật;” tuyên bố điều đã không được
giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: “Điều đã được giảng, đã
được nói bởi đức Như Lai;” tuyên bố điều đã được giảng, đã được
nói bởi đức Như Lai là: “Điều đã không được giảng, không được nói
bởi đức Như Lai;” tuyên bố điều không được thực hành bởi đức Như
Lai là: “Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai;” tuyên bố điều
được thực hành bởi đức Như Lai là: “Điều đã không được thực hành
bởi đức Như Lai;” tuyên bố điều không được quy định bởi đức Như
Lai là: “Điều đã được quy định bởi đức Như Lai;” tuyên bố điều
được quy định bởi đức Như Lai là: “Điều đã không được quy định bởi
đức Như Lai;” tuyên bố phạm tội là: “Vô tội;” tuyên bố vô
tội là: “Phạm tội;” tuyên bố tội nhẹ là: “Tội nặng;”
tuyên bố tội nặng là: “Tội nhẹ;” tuyên bố tội còn dư sót được
là: “Tội không còn dư sót;” tuyên bố tội không còn dư sót là: “Tội
còn dư sót;” tuyên bố tội xấu xa là: “Tội không xấu xa;”
tuyên bố tội không xấu xa là: “Tội xấu xa.” Đây là mười tám sự
việc gây ra chia rẽ.
[858] Ở đây, bốn sự tranh tụng là gì?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển
trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, sự tranh tụng liên quan đến
nhiệm vụ. Đây là bốn sự tranh tụng.
[859] Ở đây, bảy cách dàn xếp là gì?
- Hành
xử Luật với sự hiện diện, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật
khi không điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, thuận
theo số đông, theo tội của vị ấy, cách dùng cỏ che lấp. Đây là bảy
cách dàn xếp.
Dứt
phần Câu Hỏi Bao Nhiêu.
Tóm lược phần này:
[860]
Tội
vi phạm, nhóm tội,
việc đã được rèn luyện,
lại nhóm bảy (về tội),
việc đã được rèn luyện,
và sự không kính trọng,
kính trọng, và nguyên nhân,
lại nữa được rèn luyện,
hư hỏng, nguồn sanh tội,
sự tranh cãi, khiển trách,
cần ghi nhớ, chia rẽ,
sự tranh tụng, dàn xếp
bảy cách đã nói đến;
đây là mười bảy câu.
*******
HAI
MƯƠI PHẦN:
[861] Do nguồn sanh tội thứ nhất,[3]
có thể phạm tội pārājika? -
Nên nói rằng: “Không thể.” Có thể phạm tội saṅghādisesa?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội thullaccaya?
- Nên nói rằng: “Có thể.” Có thể phạm tội pācittiya?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội pāṭidesanīya?
- Nên nói rằng: “Có thể.” Có thể phạm tội dukkaṭa?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội dubbhāsita? -
Nên nói rằng: “Không thể.”
[862] Do nguồn sanh tội thứ nhì, có thể phạm tội
pārājika? - Nên nói
rằng: “Không thể.” Có thể phạm tội saṅghādisesa?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội thullaccaya?
- Nên nói rằng: “Có thể.” Có thể phạm tội pācittiya?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội pāṭidesanīya?
- Nên nói rằng: “Không thể.” Có thể phạm tội dukkaṭa?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội dubbhāsita? -
Nên nói rằng: “Không thể.”
[863] Do nguồn sanh tội thứ ba, có thể phạm tội
pārājika? - Nên nói
rằng: “Không thể.” Có thể phạm tội saṅghādisesa?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội thullaccaya?
- Nên nói rằng: “Có thể.” Có thể phạm tội pācittiya?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội pāṭidesanīya?
- Nên nói rằng: “Có thể.” Có thể phạm tội dukkaṭa?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội dubbhāsita? -
Nên nói rằng: “Không thể.”
[864] Do nguồn sanh tội thứ tư, có thể phạm tội
pārājika? - Nên nói
rằng: “Có thể.” Có thể phạm tội saṅghādisesa?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội thullaccaya?
- Nên nói rằng: “Có thể.” Có thể phạm tội pācittiya?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội pāṭidesanīya?
- Nên nói rằng: “Có thể.” Có thể phạm tội dukkaṭa?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội dubbhāsita? -
Nên nói rằng: “Không thể.”
[865] Do nguồn sanh tội thứ năm, có thể phạm tội
pārājika? - Nên nói
rằng: “Có thể.” Có thể phạm tội saṅghādisesa?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội thullaccaya?
- Nên nói rằng: “Có thể.” Có thể phạm tội pācittiya?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội pāṭidesanīya?
- Nên nói rằng: “Không thể.” Có thể phạm tội dukkaṭa?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội dubbhāsita? -
Nên nói rằng: “Có thể.”
[866] Do nguồn sanh tội thứ sáu, có thể phạm tội
pārājika? - Nên nói
rằng: “Có thể.” Có thể phạm tội saṅghādisesa?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội thullaccaya?
- Nên nói rằng: “Có thể.” Có thể phạm tội pācittiya?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội pāṭidesanīya?
- Nên nói rằng: “Có thể.” Có thể phạm tội dukkaṭa?
- Nên nói rằng: “Có thể.”
Có thể phạm tội dubbhāsita? -
Nên nói rằng: “Không thể.”
Dứt
phần Sáu Nguồn Sanh Tội là phần thứ nhất.
[867] Do nguồn sanh tội thứ nhất vi phạm bao
nhiêu loại tội?
- Do
nguồn sanh tội thứ nhất vi phạm năm loại tội: Vị tỳ khưu nghĩ rằng
được phép, rồi tự xin (vật liệu) và xây dựng cốc liêu ở khu đất không
được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có
khoảng trống xung quanh, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa.
Còn cục (vữa tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya. Khi cục (vữa
tô) ấy đã được đặt vào phạm tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu nghĩ
rằng được phép, rồi thọ dụng vật thực vào lúc sái thời phạm tội
pācittiya. Vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, tự tay nhận lãnh vật
thực cứng hoặc vật thực mềm từ tay tỳ khưu ni không phải là thân quyến
đã đi vào xóm nhà, rồi thọ dụng phạm tội pāṭidesanīya. Do nguồn
sanh tội thứ nhất vi phạm năm loại tội này.
Các tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư
hỏng trong bốn sự hư hỏng? Được quy tụ vào bao nhiêu nhóm tội trong
bảy nhóm tội? Được sanh lên do bao nhiêu nguồn sanh tội trong sáu
nguồn sanh tội? Là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng? Được
giải quyết với bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
- Các
tội ấy được phân chia theo hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể
là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ
vào năm nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội
saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là
nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội pāṭidesanīya, có
thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội
trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, không do khẩu không do
ý. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được
giải quyết với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành
xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận,
có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
[868] Do nguồn sanh tội thứ nhì vi phạm bao nhiêu
loại tội?
- Do
nguồn sanh tội thứ nhì vi phạm bốn loại tội: Vị tỳ khưu nghĩ rằng được
phép, rồi chỉ thị rằng: “Các người hãy xây dựng cốc liêu cho tôi.”
Họ xây dựng cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá
kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh,
trong lúc tiến hành (vị tỳ khưu) phạm tội dukkaṭa. Còn cục (vữa
tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya. Khi cục (vữa tô) ấy đã được
đặt vào phạm tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép,
rồi dạy người chưa tu lên bậc trên đọc Pháp theo từng câu phạm
tội pācittiya. Do nguồn sanh tội thứ nhì vi phạm bốn loại tội
này.
Các tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư
hỏng trong bốn sự hư hỏng? ...(như trên)... Được giải quyết với bao
nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
- Các
tội ấy được phân chia theo hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể
là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ
vào bốn nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội
saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là
nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được
sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do
khẩu, không do thân không do ý. Là sự tranh tụng liên quan đến tội
trong bốn sự tranh tụng. Được giải quyết với ba cách dàn xếp trong bảy
cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử
theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và
cách dùng cỏ che lấp.
[869] Do nguồn sanh tội thứ ba vi phạm bao nhiêu
loại tội?
- Do
nguồn sanh tội thứ ba vi phạm năm loại tội: Vị tỳ khưu nghĩ rằng được
phép, rồi sắp xếp và xây dựng cốc liêu ở khu đất không được xác định,
vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung
quanh, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Còn cục (vữa tô)
cuối cùng phạm tội thullaccaya. Khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt
vào phạm tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, yêu
cầu các loại vật thực thượng hạng cho nhu cầu của bản thân, rồi thọ
dụng phạm tội pācittiya. Vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, không
ngăn cản vị tỳ khưu ni đang hướng dẫn sự phục vụ, rồi thọ thực phạm
tội pāṭidesanīya. Do nguồn sanh tội thứ ba vi phạm năm loại tội
này.
Các tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư
hỏng trong bốn sự hư hỏng? ...(như trên)... Được giải quyết với bao
nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
- Các
tội ấy được phân chia theo hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể
là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ
vào năm nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội
saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là
nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội pāṭidesanīya, có
thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội
trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân và do khẩu, không do ý.
Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được giải
quyết với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử
Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có
thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
[870] Do nguồn sanh tội thứ tư vi phạm bao nhiêu
loại tội?
- Do
nguồn sanh tội thứ tư vi phạm sáu loại tội: Vị tỳ khưu thực hiện việc
đôi lứa phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu nghĩ rằng không được
phép, rồi tự xin (vật liệu) và xây dựng cốc liêu ở khu đất không được
xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng
trống xung quanh, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Còn cục
(vữa tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya. Khi cục (vữa tô) ấy đã
được đặt vào phạm tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu nghĩ rằng không
được phép, rồi thọ dụng vật thực vào lúc sái thời phạm tội
pācittiya. Vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, tự tay nhận lãnh
vật thực cứng hoặc vật thực mềm từ tay tỳ khưu ni không phải là thân
quyến đã đi vào xóm nhà, rồi thọ dụng phạm tội pāṭidesanīya. Do
nguồn sanh tội thứ tư vi phạm sáu loại tội này.
Các tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư
hỏng trong bốn sự hư hỏng? ...(như trên)... Được giải quyết với bao
nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
- Các
tội ấy được phân chia theo hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể
là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ
vào sáu nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika,
có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội
thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm
tội pāṭidesanīya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh
lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân
và do ý, không do khẩu. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn
sự tranh tụng. Được giải quyết với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn
xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội
đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách
dùng cỏ che lấp.
[871] Do nguồn sanh tội thứ năm vi phạm bao nhiêu
loại tội?
- Do
nguồn sanh tội thứ năm vi phạm sáu loại tội: Vị tỳ khưu có ước muốn
xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, rồi khoác lác về pháp thượng nhân
không có không thực chứng phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu nghĩ
rằng không được phép, rồi chỉ thị rằng: “Các người hãy xây dựng cốc
liêu cho tôi.” Họ xây dựng cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được
xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng
trống xung quanh, trong lúc tiến hành (vị tỳ khưu) phạm tội dukkaṭa.
Còn cục (vữa tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya. Khi cục (vữa
tô) ấy đã được đặt vào phạm tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu nghĩ
rằng không được phép, rồi dạy người chưa tu lên bậc trên đọc Pháp theo
từng câu phạm tội pācittiya. Vị không có ý định chửi
rủa, không có ý định khinh bỉ, không có ý định hạ nhục, có ý muốn đùa
giỡn rồi nói vị thấp kém theo sự thấp kém phạm tội dubbhāsita.
Do nguồn sanh tội thứ năm vi phạm sáu loại tội này.
Các tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư
hỏng trong bốn sự hư hỏng? ...(như trên)... Được giải quyết với bao
nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
- Các
tội ấy được phân chia theo hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể
là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ
vào sáu nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika,
có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội
thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm
tội dukkaṭa, có thể là nhóm tội dubbhāsita. Được sanh
lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do khẩu
và do ý, không do thân. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn
sự tranh tụng. Được giải quyết với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn
xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội
đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách
dùng cỏ che lấp.
[872] Do nguồn sanh tội thứ sáu vi phạm bao nhiêu
loại tội?
- Do
nguồn sanh tội thứ sáu vi phạm sáu loại tội: Vị tỳ khưu tính toán rồi
lấy trộm gói đồ phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu nghĩ rằng không
được phép, rồi sắp xếp và xây dựng cốc liêu ở khu đất không được xác
định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống
xung quanh, trong lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Còn cục (vữa
tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya. Khi cục (vữa tô) ấy đã được
đặt vào phạm tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu nghĩ rằng không được
phép, rồi yêu cầu các loại vật thực thượng hạng cho nhu cầu của bản
thân, và thọ dụng phạm tội pācittiya. Vị tỳ khưu nghĩ rằng
không được phép, rồi không ngăn cản vị tỳ khưu ni đang hướng dẫn sự
phục vụ, và thọ thực phạm tội pāṭidesanīya. Do nguồn sanh tội
thứ sáu vi phạm sáu loại tội này.
Các tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư
hỏng trong bốn sự hư hỏng? Được quy tụ vào bao nhiêu nhóm tội trong
bảy nhóm tội? Được sanh lên do bao nhiêu nguồn sanh tội trong sáu
nguồn sanh tội? Là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng? Được
giải quyết với bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
- Các
tội ấy được phân chia theo hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể
là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ
vào sáu nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika,
có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội
thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm
tội pāṭidesanīya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh
lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do
thân, do khẩu, và do ý. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn
sự tranh tụng. Được giải quyết với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn
xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội
đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách
dùng cỏ che lấp.
Dứt
phần Bao Nhiêu Tội do Sáu Nguồn Sanh Tội là phần thứ nhì.
[873]
Bậc
hiểu biết vô biên
hiểu biết sự xuất ly
vì lợi ích thế gian
giảng các nguồn sanh tội
có liên hệ đến thân.
Tôi hỏi: “Bao nhiêu tội
sanh lên vì nhân ấy?
Hãy nói lên lời giải,
này vị rành Phân Tích.”
- Bậc hiểu biết vô biên
hiểu biết sự xuất ly
vì lợi ích thế gian
giảng các nguồn sanh tội
có liên hệ đến thân.
Tôi đáp: “Có năm tội
sanh lên vì nhân ấy
là câu đáp cho ngài,
này vị rành Phân Tích.”
Bậc hiểu biết vô biên
hiểu biết sự xuất ly
vì lợi ích thế gian
giảng các nguồn sanh tội
có liên hệ đến khẩu.
Tôi hỏi: “Bao nhiêu tội
sanh lên vì nhân ấy?
Hãy nói lên lời giải,
này vị rành Phân Tích.”
- Bậc hiểu biết vô biên
hiểu biết sự xuất ly
vì lợi ích thế gian
giảng các nguồn sanh tội
có liên hệ đến khẩu.
Tôi đáp: “Có bốn tội
sanh lên vì nhân ấy,
là câu đáp cho ngài,
này vị rành Phân Tích.”
Bậc hiểu biết vô biên
hiểu biết sự xuất ly
vì lợi ích thế gian
giảng các nguồn sanh tội
có liên hệ thân khẩu.
Tôi hỏi: “Bao nhiêu tội
sanh lên vì nhân ấy?
Hãy nói lên lời giải,
này vị rành Phân Tích.”
- Bậc hiểu biết vô biên
hiểu biết sự xuất ly
vì lợi ích thế gian
giảng các nguồn sanh tội
có liên hệ thân khẩu.
Tôi đáp: “Có năm tội
sanh lên vì nhân ấy,
là câu đáp cho ngài,
này vị rành Phân Tích.”
Bậc hiểu biết vô biên
hiểu biết sự xuất ly
vì lợi ích thế gian
giảng các nguồn sanh tội
có liên hệ thân ý.
Tôi hỏi: “Bao nhiêu tội
sanh lên vì nhân ấy?
Hãy nói lên lời giải,
này vị rành Phân Tích.”
- Bậc hiểu biết vô biên
hiểu biết sự xuất ly
vì lợi ích thế gian
giảng các nguồn sanh tội
có liên hệ thân ý.
Tôi đáp: “Có sáu tội
sanh lên vì nhân ấy
là câu đáp cho ngài,
này vị rành Phân Tích.”
Bậc hiểu biết vô biên
hiểu biết sự xuất ly
vì lợi ích thế gian
giảng các nguồn sanh tội
có liên hệ khẩu ý.
Tôi hỏi: “Bao nhiêu tội
sanh lên vì nhân ấy?
Hãy nói lên lời giải,
này vị rành Phân Tích.”
- Bậc hiểu biết vô biên
hiểu biết sự xuất ly
vì lợi ích thế gian
giảng các nguồn sanh tội
có liên hệ khẩu ý.
Này vị rành Phân Tích,
Tôi đáp: “Có sáu tội
sanh lên vì nhân ấy
là câu đáp cho ngài,
này vị rành Phân Tích.”
Bậc hiểu biết vô biên
hiểu biết sự xuất ly
vì lợi ích thế gian
giảng các nguồn sanh tội
liên hệ thân khẩu ý.
Tôi hỏi: “Bao nhiêu tội
sanh lên vì nhân ấy?
Hãy nói lên lời giải,
này vị rành Phân Tích.”
- Bậc hiểu biết vô biên
hiểu biết sự xuất ly
vì lợi ích thế gian
giảng các nguồn sanh tội
liên hệ thân khẩu ý.
Tôi đáp: “Có sáu tội
sanh lên vì nhân ấy
là câu đáp cho ngài,
này vị rành Phân Tích.”
Dứt
Bài Kệ về Nguồn Sanh Tội là phần thứ ba.
[874] Do duyên hư hỏng về giới vi phạm bao nhiêu
loại tội?
– Do duyên hư hỏng về giới vi phạm bốn loại tội:
Vị tỳ khưu ni biết mà che giấu tội pārājika (của tỳ khưu ni
khác) phạm tội pārājika. Có sự hoài nghi rồi che giấu phạm tội
thullaccaya. Vị tỳ khưu che giấu tội saṅghādisesa phạm
tội pācittiya. Vị che giấu tội xấu xa của bản thân phạm tội
dukkaṭa. Do duyên hư hỏng về giới vi phạm bốn loại tội này.
Các tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư
hỏng trong bốn sự hư hỏng? ...(như trên)... Được giải quyết với bao
nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
- Các
tội ấy được phân chia theo hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể
là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ
vào bốn nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika,
có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya,
có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội
trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự
tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được giải quyết
với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với
sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là
hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
[875] Do duyên hư hỏng về hạnh kiểm vi phạm bao
nhiêu loại tội?
– Do duyên hư hỏng về hạnh kiểm vi phạm một loại
tội: Vị che giấu sự hư hỏng về hạnh kiểm phạm tội dukkaṭa. Do
duyên hư hỏng về hạnh kiểm vi phạm một loại tội này.
Tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư hỏng
trong bốn sự hư hỏng? ...(như trên)... Được giải quyết với bao nhiêu
cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
- Tội ấy
được phân chia theo một sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng là sự hư hỏng
về hạnh kiểm. Được quy tụ vào một nhóm tội trong bảy nhóm tội là nhóm
tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu
nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự tranh tụng
liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được giải quyết với ba cách
dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện
diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử
Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
[876] Do duyên hư hỏng về tri kiến vi phạm bao
nhiêu loại tội?
– Do duyên hư hỏng về tri kiến vi phạm hai loại
tội: Vị không dứt bỏ tà kiến ác với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, do lời
đề nghị phạm tội dukkaṭa. Do hai lời thông báo của hành sự phạm
các tội dukkaṭa. Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự phạm tội
pācittiya. Do duyên hư hỏng về tri kiến vi phạm hai loại tội này.
Các tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư
hỏng trong bốn sự hư hỏng? ...(như trên)... Được giải quyết với bao
nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
- Các
tội ấy được phân chia theo một sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng là sự
hư hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ vào hai nhóm tội trong bảy nhóm tội:
có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa.
Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh
lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự tranh tụng liên quan đến tội
trong bốn sự tranh tụng. Được giải quyết với ba cách dàn xếp trong bảy
cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử
theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và
cách dùng cỏ che lấp.
[877] Do duyên hư hỏng về nuôi mạng vi phạm bao
nhiêu loại tội?
– Do duyên hư hỏng về nuôi mạng vi phạm sáu loại
tội: Vì nguyên nhân nuôi mạng vì lý do nuôi mạng, vị (tỳ khưu) có ước
muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, rồi khoác lác về pháp thượng
nhân không có không thực chứng phạm tội pārājika. Vì nguyên
nhân nuôi mạng vì lý do nuôi mạng, vị thực hành việc mai mối phạm tội
saṅghādisesa. Vì nguyên nhân nuôi mạng vì lý do nuôi mạng, vị
nói rằng: “Vị (tỳ khưu) nào cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ
khưu ấy là bậc A-la-hán;” (người nghe) hiểu được phạm tội
thullaccaya. Vì nguyên nhân nuôi mạng vì lý do nuôi mạng, vị tỳ
khưu yêu cầu các loại vật thực thượng hạng cho nhu cầu của bản thân
rồi thọ dụng phạm tội pācittiya. Vì nguyên nhân nuôi mạng vì lý
do nuôi mạng, vị tỳ khưu ni yêu cầu các loại vật thực thượng hạng cho
nhu cầu của bản thân rồi thọ dụng phạm tội pāṭidesanīya. Vì
nguyên nhân nuôi mạng vì lý do nuôi mạng, vị tỳ khưu không bị bệnh yêu
cầu xúp và cơm cho nhu cầu của bản thân rồi thọ dụng phạm tội
dukkaṭa. Do duyên hư hỏng về nuôi mạng vi phạm sáu loại tội này.
Các tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư
hỏng trong bốn sự hư hỏng? ...(như trên)... Được giải quyết với bao
nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
- Các
tội ấy được phân chia theo hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể
là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ
vào sáu nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika,
có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội
thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm
tội pāṭidesanīya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh
lên do sáu nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội: có thể sanh lên do
thân, không do khẩu không do ý; có thể sanh lên do khẩu, không do thân
không do ý; có thể sanh lên do thân và do khẩu, không do ý; có thể
sanh lên do thân và do ý, không do khẩu; có thể sanh lên do khẩu và do
ý, không do thân; có thể sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự
tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được giải quyết
với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với
sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là
hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Dứt
phần Do Duyên Hư Hỏng là phần thứ tư.
[878] Do duyên tranh tụng liên quan đến tranh cãi
vi phạm bao nhiêu tội?
– Do duyên tranh tụng liên quan đến tranh cãi vi
phạm hai tội: Vị mắng nhiếc vị đã tu lên bậc trên phạm tội
pācittiya. Vị mắng nhiếc người chưa tu lên bậc trên phạm tội
dukkaṭa. Do duyên tranh tụng liên quan đến tranh cãi vi phạm hai
tội này.
Các tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư
hỏng trong bốn sự hư hỏng? ...(như trên)... Được giải quyết với bao
nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
- Các
tội ấy được phân chia theo một sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng là sự
hư hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ vào hai nhóm tội trong bảy nhóm tội:
có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa.
Được sanh lên do ba nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội: có thể
sanh lên do thân và do ý, không do khẩu; có thể sanh lên do khẩu và do
ý, không do thân; có thể sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự
tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được giải quyết
với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với
sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là
hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
[879] Do duyên tranh tụng liên quan đến khiển
trách vi phạm bao nhiêu tội?
– Do duyên tranh tụng liên quan đến khiển trách
vi phạm ba tội: Vị bôi nhọ vị tỳ khưu về tội pārājika không có
nguyên cớ phạm tội saṅghādisesa. Vị bôi nhọ vị tỳ khưu về tội
saṅghādisesa không có nguyên cớ phạm tội pācittiya. Vị
bôi nhọ vị tỳ khưu với sự hư hỏng về hạnh kiểm không có nguyên cớ phạm
tội dukkaṭa. Do duyên tranh tụng liên quan đến khiển trách vi
phạm ba tội này.
Các tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư
hỏng trong bốn sự hư hỏng? ...(như trên)... Được giải quyết với bao
nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
- Các
tội ấy được phân chia theo hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể
là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ
vào ba nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội saṅghādisesa,
có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa.
Được sanh lên do ba nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội: có thể
sanh lên do thân và do ý, không do khẩu; có thể sanh lên do khẩu và do
ý, không do thân; có thể sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự
tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được giải quyết
với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với
sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là
hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
[880] Do duyên tranh tụng liên quan đến tội vi
phạm bao nhiêu tội?
– Do duyên tranh tụng liên quan đến tội vi phạm
bốn tội: Vị tỳ khưu ni biết mà che giấu tội pārājika (của tỳ
khưu ni khác) phạm tội pārājika. Có sự hoài nghi rồi che giấu
phạm tội thullaccaya. Vị tỳ khưu che giấu tội saṅghādisesa
(của vị tỳ khưu khác) phạm tội pācittiya. Vị che giấu sự hư
hỏng về hạnh kiểm phạm tội dukkaṭa. Do duyên tranh tụng liên
quan đến tội vi phạm bốn tội này.
Các tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư
hỏng trong bốn sự hư hỏng? ...(như trên)... Được giải quyết với bao
nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
- Các
tội ấy được phân chia theo hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể
là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ
vào bốn nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika,
có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya,
có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội
trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự
tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được giải quyết
với ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với
sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là
hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
[881] Do duyên tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ
vi phạm bao nhiêu tội? Do duyên tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ vi
phạm năm tội: Vị tỳ khưu ni là người xu hướng theo kẻ bị phạt án treo
không chịu dứt bỏ với lời nhắc nhở đến lần thứ ba, do lời đề nghị phạm
tội dukkaṭa. Do hai lời thông báo của hành sự phạm các tội
thullaccaya. Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự phạm tội pārājika.
Các tỳ khưu là những người xu hướng theo kẻ chia rẽ (hội chúng) không
chịu dứt bỏ với lời nhắc nhở đến lần thứ ba phạm tội saṅghādisesa.
Vị không chịu dứt bỏ tà kiến ác với lời nhắc nhở đến lần thứ ba phạm
tội pācittiya. Do duyên tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ vi
phạm năm tội này.
Các tội ấy được phân chia theo bao nhiêu sự hư
hỏng trong bốn sự hư hỏng? ...(như trên)... Được giải quyết với bao
nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
- Các
tội ấy được phân chia theo hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể
là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được quy tụ
vào năm nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika,
có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội
thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm
tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu
nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự tranh tụng
liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được giải quyết với ba cách
dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện
diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử
Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
[882] Trừ ra bảy loại tội và bảy nhóm tội, các
tội còn lại được phân chia theo bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư
hỏng? Được quy tụ vào bao nhiêu nhóm tội trong bảy nhóm tội? Được sanh
lên do bao nhiêu nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội? Là sự tranh
tụng nào trong bốn sự tranh tụng? Được giải quyết với bao nhiêu cách
dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
- Trừ ra
bảy loại tội và bảy nhóm tội, các tội còn lại không được phân chia
theo sự hư hỏng nào trong bốn sự hư hỏng, không được quy tụ vào nhóm
tội nào trong bảy nhóm tội, không được sanh lên do nguồn sanh tội nào
trong sáu nguồn sanh tội, không là sự tranh tụng nào trong bốn sự
tranh tụng, không được giải quyết với cách dàn xếp nào trong bảy cách
dàn xếp.
Nguyên nhân của điều ấy là gì?
- Trừ ra
bảy loại tội và bảy nhóm tội, các tội khác không có.
Dứt
phần Do Duyên Tranh Tụng là phần thứ năm.
Dứt
Sự Trùng Lặp Liên Tục.
Tóm lược phần này:
[883]
Câu
hỏi về bao nhiêu
các nguồn gốc sanh tội,
và cũng y như thế
bao nhiêu tội vi phạm,
(kệ)các nguồn sanh tội,
và các điều hư hỏng,
cũng tương tợ như thế
về các sự tranh tụng.
*******
IV. (b) PHÂN TÍCH CÁCH
DÀN XẾP:
[884] Điều gì là phần đi trước (pubbaṅgamaṃ) của
sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi? Có bao nhiêu cơ sở (ṭhānaṃ)? Có
bao nhiêu sự việc (vatthu)? Có bao nhiêu nền tảng (bhūmi)? Có bao
nhiêu nhân tố (hetu)? Có bao nhiêu nguyên nhân (mūlaṃ)? Vị tranh cãi
theo bao nhiêu cách thức? Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi được
lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
Điều gì là phần đi trước của sự tranh tụng liên
quan đến khiển trách? Có bao nhiêu cơ sở? Có bao nhiêu sự việc? Có bao
nhiêu nền tảng? Có bao nhiêu nhân tố? Có bao nhiêu nguyên nhân? Vị
khiển trách theo bao nhiêu cách thức? Sự tranh tụng liên quan đến
khiển trách được lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
Điều gì là phần đi trước của sự tranh tụng liên
quan đến tội? Có bao nhiêu cơ sở? Có bao nhiêu sự việc? Có bao nhiêu
nền tảng? Có bao nhiêu nhân tố? Có bao nhiêu nguyên nhân? Vị vi phạm
tội theo bao nhiêu cách thức? Sự tranh tụng liên quan đến tội được
lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
Điều gì là phần đi trước của sự tranh tụng liên
quan đến nhiệm vụ? Có bao nhiêu cơ sở? Có bao nhiêu sự việc? Có bao
nhiêu nền tảng? Có bao nhiêu nhân tố? Có bao nhiêu nguyên nhân? Nhiệm
vụ sanh lên theo bao nhiêu cách thức? Sự tranh tụng liên quan đến
nhiệm vụ được lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
[885] Điều gì là phần đi trước của sự tranh tụng
liên quan đến tranh cãi? -
Tham là phần đi trước, sân là phần đi trước, si là phần đi trước, vô
tham là phần đi trước, vô sân là phần đi trước, vô si là phần đi
trước. Có bao nhiêu cơ sở? -
Có mười tám cơ sở gây ra chia rẽ.[4]
Có bao nhiêu sự việc? - Có
mười tám sự việc gây ra chia rẽ. Có bao nhiêu nền tảng?
- Có mười tám nền tảng gây ra
chia rẽ. Có bao nhiêu nhân tố? -
Có chín nhân tố: ba nhân tố tốt đẹp, ba nhân tố không tốt đẹp, ba nhân
tố không xác định. Có bao nhiêu nguyên nhân?
- Có mười hai nguyên nhân.[5]
Vị tranh cãi theo bao nhiêu cách thức?
- Vị tranh cãi theo hai cách
thức: hoặc là có tri kiến đúng Pháp hoặc là có tri kiến sai Pháp. Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi được lắng dịu với bao nhiêu cách
dàn xếp? - Sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi được lắng dịu với hai cách dàn xếp: hành xử Luật
với sự hiện diện và thuận theo số đông.
[886] Điều gì là phần đi trước của sự tranh tụng
liên quan đến khiển trách? -
Tham là phần đi trước, sân là phần đi trước, si là phần đi trước, vô
tham là phần đi trước, vô sân là phần đi trước, vô si là phần đi
trước. Có bao nhiêu cơ sở? -
Bốn sự hư hỏng là cơ sở. Có bao nhiêu sự việc?
- Bốn sự hư hỏng là sự việc.
Có bao nhiêu nền tảng? - Bốn
sự hư hỏng là nền tảng. Có bao nhiêu nhân tố?
- Có chín nhân tố: ba nhân tố
tốt đẹp, ba nhân tố không tốt đẹp, ba nhân tố không xác định. Có bao
nhiêu nguyên nhân? - Có mười
bốn nguyên nhân.[6]
Vị khiển trách theo bao nhiêu cách thức?
- Vị khiển trách theo hai
cách thức: từ sự việc hoặc từ tội vi phạm. Sự tranh tụng liên quan đến
khiển trách được lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự tranh tụng liên quan đến
khiển trách được lắng dịu với bốn cách dàn xếp: hành xử Luật với sự
hiện diện, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên
cuồng, và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận.
[887] Điều gì là phần đi trước của sự tranh tụng
liên quan đến tội? - Tham là
phần đi trước, sân là phần đi trước, si là phần đi trước, vô tham là
phần đi trước, vô sân là phần đi trước, vô si là phần đi trước. Có bao
nhiêu cơ sở? - Bảy nhóm tội
là cơ sở. Có bao nhiêu sự việc? -
Bảy nhóm tội là sự việc. Có bao nhiêu nền tảng?
- Bảy nhóm tội là nền tảng.
Có bao nhiêu nhân tố? - Có
chín nhân tố: ba nhân tố tốt đẹp, ba nhân tố không tốt đẹp, ba nhân tố
không xác định. Có bao nhiêu nguyên nhân?
- Sáu nguồn sanh tội là
nguyên nhân. Vị vi phạm tội theo bao nhiêu cách thức?
- Vị vi phạm tội theo sáu
cách thức: sự không xấu hổ, sự không biết, bản chất không hối hận, sự
lầm tưởng là được phép đối với việc không được phép, sự lầm tưởng là
không được phép đối với việc được phép, lầm lẫn về sự ghi nhớ. Sự
tranh tụng liên quan đến tội được lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự tranh tụng liên quan đến
tội được lắng dịu với ba cách dàn xếp: hành xử Luật với sự hiện diện,
việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, và cách dùng cỏ che lấp.
[888] Điều gì là phần đi trước của sự tranh tụng
liên quan đến nhiệm vụ? -
Tham là phần đi trước, sân là phần đi trước, si là phần đi trước, vô
tham là phần đi trước, vô sân là phần đi trước, vô si là phần đi
trước. Có bao nhiêu cơ sở? -
Bốn hành sự là các cơ sở.[7]
Có bao nhiêu sự việc? - Bốn
hành sự là các sự việc. Có bao nhiêu nền tảng?
- Bốn hành sự là các nền
tảng. Có bao nhiêu nhân tố? -
Có chín nhân tố: ba nhân tố tốt đẹp, ba nhân tố không tốt đẹp, ba nhân
tố không xác định. Có bao nhiêu nguyên nhân?
- Có một nguyên nhân là hội
chúng. Nhiệm vụ sanh lên theo bao nhiêu cách thức?
- Nhiệm vụ sanh lên theo hai
cách thức: từ lời đề nghị hoặc từ lời công bố. Sự tranh tụng liên quan
đến nhiệm vụ được lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự tranh tụng liên quan đến
nhiệm vụ được lắng dịu với một cách dàn xếp là hành xử Luật với sự
hiện diện.
[889] Có bao nhiêu cách dàn xếp?
– Có bảy cách dàn xếp: Hành xử Luật với sự hiện
diện, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng,
việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, thuận theo số đông, theo tội
của vị ấy, cách dùng cỏ che lấp. Đây là bảy cách dàn xếp.
Có thể bảy cách dàn xếp này trở thành mười cách
dàn xếp, mười cách dàn xếp trở thành bảy cách dàn xếp tùy theo phương
thức trình bày liên quan đến sự việc hay không?
- Có
thể.
Có thể bằng cách nào?
- Hai
cách dàn xếp của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, bốn cách dàn
xếp của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, ba cách dàn xếp của
sự tranh tụng liên quan đến tội, và một cách dàn xếp của sự tranh tụng
liên quan đến nhiệm vụ. Như thế, bảy cách dàn xếp này trở thành mười
cách dàn xếp, mười cách dàn xếp trở thành bảy cách dàn xếp tùy theo
phương thức trình bày liên quan đến sự việc.
Dứt
phần Phương Thức Trình Bày là phần thứ sáu.
[890] Đối với sự tranh tụng liên quan đến tranh
cãi, có bao nhiêu cách dàn xếp là có liên quan? Đối với sự tranh tụng
liên quan đến tranh cãi, có bao nhiêu cách dàn xếp là không có liên
quan? Đối với sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, có bao nhiêu
cách dàn xếp là có liên quan? Đối với sự tranh tụng liên quan đến
khiển trách, có bao nhiêu cách dàn xếp là không có liên quan? Đối với
sự tranh tụng liên quan đến tội, có bao nhiêu cách dàn xếp là có liên
quan? Đối với sự tranh tụng liên quan đến tội, có bao nhiêu cách dàn
xếp là không có liên quan? Đối với sự tranh tụng liên quan đến nhiệm
vụ, có bao nhiêu cách dàn xếp là có liên quan? Đối với sự tranh tụng
liên quan đến nhiệm vụ, có bao nhiêu cách dàn xếp là không có liên
quan?
- Đối
với sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, có hai cách dàn xếp là có
liên quan: hành xử Luật với sự hiện diện, thuận theo số đông. Đối với
sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, có năm cách dàn xếp là không có
liên quan: hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên
cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, theo tội của vị ấy,
cách dùng cỏ che lấp.
Đối với sự tranh tụng liên quan đến khiển trách,
có bốn cách dàn xếp là có liên quan: hành xử Luật với sự hiện diện,
hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, theo
tội của vị ấy. Đối với sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, có ba
cách dàn xếp là không có liên quan: thuận theo số đông, việc phán xử
theo tội đã được thừa nhận, cách dùng cỏ che lấp.
Đối với sự tranh tụng liên quan đến tội, có ba
cách dàn xếp là có liên quan: hành xử Luật với sự hiện diện, việc phán
xử theo tội đã được thừa nhận, cách dùng cỏ che lấp. Đối với sự tranh
tụng liên quan đến tội, có bốn cách dàn xếp là không có liên quan:
thuận theo số đông, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi
không điên cuồng, theo tội của vị ấy.
Đối với sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, có
một cách dàn xếp là có liên quan: hành xử Luật với sự hiện diện. Đối
với sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, có sáu cách dàn xếp là không
có liên quan: thuận theo số đông, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành
xử Luật khi không điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận,
theo tội của vị ấy, cách dùng cỏ che lấp.
Dứt
phần Có Liên Quan là phần thứ bảy.
[891] Đối với sự tranh tụng liên quan đến tranh
cãi, có bao nhiêu cách dàn xếp là có cùng quan hệ? Đối với sự tranh
tụng liên quan đến tranh cãi, có bao nhiêu cách dàn xếp là có quan hệ
khác biệt? Đối với sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, có bao
nhiêu cách dàn xếp là có cùng quan hệ? Đối với sự tranh tụng liên quan
đến khiển trách, có bao nhiêu cách dàn xếp là có quan hệ khác biệt?
Đối với sự tranh tụng liên quan đến tội, có bao nhiêu cách dàn xếp là
có cùng quan hệ? Đối với sự tranh tụng liên quan đến tội, có bao nhiêu
cách dàn xếp là có quan hệ khác biệt? Đối với sự tranh tụng liên quan
đến nhiệm vụ, có bao nhiêu cách dàn xếp là có cùng quan hệ? Đối với sự
tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, có bao nhiêu cách dàn xếp là có
quan hệ khác biệt?
- Đối
với sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, có hai cách dàn xếp là có
cùng quan hệ: hành xử Luật với sự hiện diện, thuận theo số đông. Đối
với sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, có năm cách dàn xếp là có
quan hệ khác biệt: hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi
không điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, theo tội
của vị ấy, cách dùng cỏ che lấp.
Đối với sự tranh tụng liên quan đến khiển trách,
có bốn cách dàn xếp là có cùng quan hệ: hành xử Luật với sự hiện diện,
hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, theo
tội của vị ấy. Đối với sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, có ba
cách dàn xếp là có quan hệ khác biệt: thuận theo số đông, việc phán xử
theo tội đã được thừa nhận, cách dùng cỏ che lấp.
Đối với sự tranh tụng liên quan đến tội, có ba
cách dàn xếp là có cùng quan hệ: hành xử Luật với sự hiện diện, việc
phán xử theo tội đã được thừa nhận, cách dùng cỏ che lấp. Đối với sự
tranh tụng liên quan đến tội, có bốn cách dàn xếp là có quan hệ khác
biệt: thuận theo số đông, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật
khi không điên cuồng, theo tội của vị ấy.
Đối với sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, có
một cách dàn xếp là có cùng quan hệ: hành xử Luật với sự hiện diện.
Đối với sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, có sáu cách dàn xếp là
có quan hệ khác biệt: thuận theo số đông, hành xử Luật bằng sự ghi
nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được
thừa nhận, theo tội của vị ấy, cách dùng cỏ che lấp.
Dứt
phần Có Cùng Quan Hệ là phần thứ tám.
[892] Đối với (một) cách dàn xếp, có các cách dàn
xếp là có liên quan? Đối với (một) cách dàn xếp, có các cách dàn xếp
là không có liên quan?
- Đối
với (một) cách dàn xếp, có thể có các cách dàn xếp là có liên quan.
Đối với (một) cách dàn xếp, có thể có các cách dàn xếp là không có
liên quan.
Thế nào là đối với (một) cách dàn xếp, có thể có
các cách dàn xếp là có liên quan? Thế nào là đối với (một) cách dàn
xếp, có thể có các cách dàn xếp là không có liên quan?
- Thuận
theo số đông là có liên quan đối với hành xử Luật với sự hiện diện; là
không có liên quan đối với hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, đối với hành
xử Luật khi không điên cuồng, đối với việc phán xử theo tội đã được
thừa nhận, đối với theo tội của vị ấy, đối với cách dùng cỏ che lấp.
Hành xử Luật bằng sự ghi nhớ là có liên quan đối
với hành xử Luật với sự hiện diện; là không có liên quan đối với hành
xử Luật khi không điên cuồng, đối với việc phán xử theo tội đã được
thừa nhận, đối với theo tội của vị ấy, đối với cách dùng cỏ che lấp,
đối với thuận theo số đông.
Hành xử Luật khi không điên cuồng là có liên quan
đối với hành xử Luật với sự hiện diện; là không có liên quan đối với
việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, đối với theo tội của vị ấy,
đối với cách dùng cỏ che lấp, đối với thuận theo số đông, đối với hành
xử Luật bằng sự ghi nhớ.
Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là có
liên quan đối với hành xử Luật với sự hiện diện; là không có liên quan
đối với theo tội của vị ấy, đối với cách dùng cỏ che lấp, đối với
thuận theo số đông, đối với hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, đối với hành
xử Luật khi không điên cuồng.
Theo tội của vị ấy là có liên quan đối với hành
xử Luật với sự hiện diện; là không có liên quan đối với cách dùng cỏ
che lấp, đối với thuận theo số đông, đối với hành xử Luật bằng sự ghi
nhớ, đối với hành xử Luật khi không điên cuồng, đối với việc phán xử
theo tội đã được thừa nhận.
Cách dùng cỏ che lấp là có liên quan đối với hành
xử Luật với sự hiện diện; là không có liên quan đối với thuận theo số
đông, đối với hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, đối với hành xử Luật khi
không điên cuồng, đối với việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, đối
với theo tội của vị ấy.
Như vậy, đối với (một) cách dàn xếp, có thể có
các cách dàn xếp là có liên quan. Như vậy, đối với (một) cách dàn xếp,
có thể có các cách dàn xếp là không có liên quan.
Dứt
phần
Các Cách Dàn Xếp Có Liên Quan Đối Với Cách Dàn Xếp
là phần thứ chín.
[893] Đối với (một) cách dàn xếp, có các cách dàn
xếp là có cùng quan hệ? Đối với (một) cách dàn xếp, có các cách dàn
xếp là có quan hệ khác biệt?
- Đối
với (một) cách dàn xếp, có thể có các cách dàn xếp là có cùng quan hệ.
Đối với (một) cách dàn xếp, có thể có các cách dàn xếp là có quan hệ
khác biệt.
Thế nào là đối với (một) cách dàn xếp, có thể có
các cách dàn xếp là có cùng quan hệ? Thế nào là đối với (một) cách dàn
xếp, có thể có các cách dàn xếp là có quan hệ khác biệt?
- Thuận
theo số đông là có cùng quan hệ đối với hành xử Luật với sự hiện diện;
là có quan hệ khác biệt đối với hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, đối với
hành xử Luật khi không điên cuồng, đối với việc phán xử theo tội đã
được thừa nhận, đối với theo tội của vị ấy, đối với cách dùng cỏ che
lấp.
Hành xử Luật bằng sự ghi nhớ là có cùng quan hệ
đối với hành xử Luật với sự hiện diện; là có quan hệ khác biệt đối với
hành xử Luật khi không điên cuồng, đối với việc phán xử theo tội đã
được thừa nhận, đối với theo tội của vị ấy, đối với cách dùng cỏ che
lấp, đối với thuận theo số đông.
Hành xử Luật khi không điên cuồng là có cùng quan
hệ đối với hành xử Luật với sự hiện diện; là có quan hệ khác biệt đối
với việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, đối với theo tội của vị
ấy, đối với cách dùng cỏ che lấp, đối với thuận theo số đông, đối với
hành xử Luật bằng sự ghi nhớ.
Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là có
cùng quan hệ đối với hành xử Luật với sự hiện diện; là có quan hệ khác
biệt đối với theo tội của vị ấy, đối với cách dùng cỏ che lấp, đối với
thuận theo số đông, đối với hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, đối với hành
xử Luật khi không điên cuồng.
Theo tội của vị ấy là có cùng quan hệ đối với
hành xử Luật với sự hiện diện; là có quan hệ khác biệt đối với cách
dùng cỏ che lấp, đối với thuận theo số đông, đối với hành xử Luật bằng
sự ghi nhớ, đối với hành xử Luật khi không điên cuồng, đối với việc
phán xử theo tội đã được thừa nhận.
Cách dùng cỏ che lấp là có cùng quan hệ đối với
hành xử Luật với sự hiện diện; là có quan hệ khác biệt đối với thuận
theo số đông, đối với hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, đối với hành xử
Luật khi không điên cuồng, đối với việc phán xử theo tội đã được thừa
nhận, đối với theo tội của vị ấy.
Như vậy, đối với (một) cách dàn xếp, có thể có
các cách dàn xếp là có cùng quan hệ. Như vậy, đối với (một) cách dàn
xếp, có thể có các cách dàn xếp là có quan hệ khác biệt.
Dứt
phần
Các Cách Dàn Xếp Có Cùng Quan Hệ Đối Với Cách Dàn Xếp
là phần thứ mười.
[894] (Có phải) cách dàn xếp là hành xử Luật với
sự hiện diện (và) hành xử Luật với sự hiện diện là cách dàn xếp? (Có
phải) cách dàn xếp là thuận theo số đông (và) thuận theo số đông là
cách dàn xếp? (Có phải) cách dàn xếp là hành xử Luật bằng sự ghi nhớ
(và) hành xử Luật bằng sự ghi nhớ là cách dàn xếp? (Có phải) cách dàn
xếp là hành xử Luật khi không điên cuồng (và) hành xử Luật khi không
điên cuồng là cách dàn xếp? (Có phải) cách dàn xếp là việc phán xử
theo tội đã được thừa nhận (và) việc phán xử theo tội đã được thừa
nhận là cách dàn xếp? (Có phải) cách dàn xếp là theo tội của vị ấy
(và) theo tội của vị ấy là cách dàn xếp? (Có phải) cách dàn xếp là
cách dùng cỏ che lấp (và) cách dùng cỏ che lấp là cách dàn xếp?
- Thuận
theo số đông, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không
điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, theo tội của vị
ấy, cách dùng cỏ che lấp, các cách dàn xếp này là các cách dàn xếp
(nhưng) không phải là hành xử Luật với sự hiện diện. Hành xử Luật với
sự hiện diện vừa là cách dàn xếp vừa là hành xử Luật với sự hiện diện.
Hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi
không điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, theo tội
của vị ấy, cách dùng cỏ che lấp, hành xử Luật với sự hiện diện, các
cách dàn xếp này là các cách dàn xếp (nhưng) không phải là thuận theo
số đông. Thuận theo số đông vừa là cách dàn xếp vừa là thuận theo số
đông.
Hành xử Luật khi không điên cuồng, việc phán xử
theo tội đã được thừa nhận, theo tội của vị ấy, cách dùng cỏ che lấp,
hành xử Luật với sự hiện diện, thuận theo số đông, các cách dàn xếp
này là các cách dàn xếp (nhưng) không phải là hành xử Luật bằng sự ghi
nhớ. Hành xử Luật bằng sự ghi nhớ vừa là cách dàn xếp vừa là hành xử
Luật bằng sự ghi nhớ.
Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, theo tội
của vị ấy, cách dùng cỏ che lấp, hành xử Luật với sự hiện diện, thuận
theo số đông, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, các cách dàn xếp này là
các cách dàn xếp (nhưng) không phải là hành xử Luật khi không điên
cuồng. Hành xử Luật khi không điên cuồng vừa là cách dàn xếp vừa là
hành xử Luật khi không điên cuồng.
Theo tội của vị ấy, cách dùng cỏ che lấp, hành xử
Luật với sự hiện diện, thuận theo số đông, hành xử Luật bằng sự ghi
nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, các cách dàn xếp này là các
cách dàn xếp (nhưng) không phải là việc phán xử theo tội đã được thừa
nhận. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận vừa là cách dàn xếp vừa
là việc phán xử theo tội đã được thừa nhận.
Cách dùng cỏ che lấp, hành xử Luật với sự hiện
diện, thuận theo số đông, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật
khi không điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, các
cách dàn xếp này là các cách dàn xếp (nhưng) không phải là theo tội
của vị ấy. Theo tội của vị ấy vừa là cách dàn xếp vừa là theo tội của
vị ấy.
Hành xử Luật với sự hiện diện, thuận theo số
đông, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng,
việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, theo tội của vị ấy, các cách
dàn xếp này là các cách dàn xếp (nhưng) không phải là cách dùng cỏ che
lấp. Cách dùng cỏ che lấp vừa là cách dàn xếp vừa là theo tội của vị
ấy.
Dứt
phần
Cách Dàn Xếp Và Hành Xử Luật Với Sự Hiện Diện
là phần thứ mười một.
[895] (Có phải) cách hành xử là hành xử Luật với
sự hiện diện (và) hành xử Luật với sự hiện diện là cách hành xử? (Có
phải) cách hành xử là thuận theo số đông (và) thuận theo số đông là
cách hành xử? (Có phải) cách hành xử là hành xử Luật bằng sự ghi nhớ
(và) hành xử Luật bằng sự ghi nhớ là cách hành xử? (Có phải) cách hành
xử là hành xử Luật khi không điên cuồng (và) hành xử Luật khi không
điên cuồng là cách hành xử? (Có phải) cách hành xử là việc phán xử
theo tội đã được thừa nhận (và) việc phán xử theo tội đã được thừa
nhận là cách hành xử? (Có phải) cách hành xử là theo tội của vị ấy
(và) theo tội của vị ấy là cách hành xử? (Có phải) cách hành xử là
cách dùng cỏ che lấp (và) cách dùng cỏ che lấp là cách hành xử?
[896] -
Cách hành xử có thể là hành xử Luật với sự hiện diện, có thể không
phải là hành xử Luật với sự hiện diện. Hành xử Luật với sự hiện diện
vừa là cách hành xử vừa là hành xử Luật với sự hiện diện.
Cách hành xử có thể là thuận theo số đông, có thể
không phải là thuận theo số đông. Thuận theo số đông vừa là cách hành
xử vừa là thuận theo số đông.
Cách hành xử có thể là hành xử Luật bằng sự ghi
nhớ, có thể không phải là hành xử Luật bằng sự ghi nhớ. Hành xử Luật
bằng sự ghi nhớ vừa là cách hành xử vừa là hành xử Luật bằng sự ghi
nhớ.
Cách hành xử có thể là hành xử Luật khi không
điên cuồng, có thể không phải là hành xử Luật khi không điên cuồng.
Hành xử Luật khi không điên cuồng vừa là cách hành xử vừa là hành xử
Luật khi không điên cuồng.
Cách hành xử có thể là việc phán xử theo tội đã
được thừa nhận, có thể không phải là việc phán xử theo tội đã được
thừa nhận. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận vừa là cách hành xử
vừa là việc phán xử theo tội đã được thừa nhận.
Cách hành xử có thể là theo tội của vị ấy, có thể
không phải là theo tội của vị ấy. Theo tội của vị ấy vừa là cách hành
xử vừa là theo tội của vị ấy.
Cách hành xử có thể là cách dùng cỏ che lấp, có
thể không phải là cách dùng cỏ che lấp. Cách dùng cỏ che lấp vừa là
cách hành xử vừa là cách dùng cỏ che lấp.
Dứt
phần Cách Hành Xử là phần thứ mười hai.
[897] Hành xử Luật với sự hiện diện là tốt đẹp,
là không tốt đẹp, hay là không xác định? Thuận theo số đông là tốt
đẹp, là không tốt đẹp, hay là không xác định? Hành xử Luật bằng sự ghi
nhớ là tốt đẹp, là không tốt đẹp, hay là không xác định? Hành xử Luật
khi không điên cuồng là tốt đẹp, là không tốt đẹp, hay là không xác
định? Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là tốt đẹp, là không tốt
đẹp, hay là không xác định? Theo tội của vị ấy là tốt đẹp, là không
tốt đẹp, hay là không xác định? Cách dùng cỏ che lấp là tốt đẹp, là
không tốt đẹp, hay là không xác định?
- Hành
xử Luật với sự hiện diện có thể là tốt đẹp, có thể là không xác định,
không có hành xử Luật với sự hiện diện là không tốt đẹp. Thuận theo số
đông có thể là tốt đẹp, có thể là không tốt đẹp, có thể là không xác
định. Hành xử Luật bằng sự ghi nhớ có thể là tốt đẹp, có thể là không
tốt đẹp, có thể là không xác định. Hành xử Luật khi không điên cuồng
có thể là tốt đẹp, có thể là không tốt đẹp, có thể là không xác định.
Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận có thể là tốt đẹp, có thể là
không tốt đẹp, có thể là không xác định. Theo tội của vị ấy có thể là
tốt đẹp, có thể là không tốt đẹp, có thể là không xác định. Cách dùng
cỏ che lấp có thể là tốt đẹp, có thể là không tốt đẹp, có thể là không
xác định.
[898] Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi là
tốt đẹp, là không tốt đẹp, hay là không xác định? Sự tranh tụng liên
quan đến khiển trách là tốt đẹp, là không tốt đẹp, hay là không xác
định? Sự tranh tụng liên quan đến tội là tốt đẹp, là không tốt đẹp,
hay là không xác định? Sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ là tốt
đẹp, là không tốt đẹp, hay là không xác định?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi có thể là tốt đẹp, có thể là không
tốt đẹp, có thể là không xác định. Sự tranh tụng liên quan đến khiển
trách có thể là tốt đẹp, có thể là không tốt đẹp, có thể là không xác
định. Sự tranh tụng liên quan đến tội có thể là không tốt đẹp, có thể
là không xác định, không có sự tranh tụng liên quan đến tội là tốt
đẹp. Sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ có thể là tốt đẹp, có thể là
không tốt đẹp, có thể là không xác định.
Dứt
phần Tốt Đẹp là phần thứ mười ba.
[899] Nơi nào thuận theo số đông được áp dụng,
nơi ấy hành xử Luật với sự hiện diện (cũng) được áp dụng. Nơi nào hành
xử Luật với sự hiện diện được áp dụng, (nếu) nơi ấy thuận theo số đông
được áp dụng, (thì) nơi ấy hành xử Luật bằng sự ghi nhớ không được áp
dụng, nơi ấy hành xử Luật khi không điên cuồng không được áp dụng, nơi
ấy việc phán xử theo tội đã được thừa nhận không được áp dụng, nơi ấy
theo tội của vị ấy không được áp dụng, nơi ấy cách dùng cỏ che lấp
không được áp dụng.
Nơi nào hành xử Luật bằng sự ghi nhớ được áp
dụng, nơi ấy hành xử Luật với sự hiện diện (cũng) được áp dụng. Nơi
nào hành xử Luật với sự hiện diện được áp dụng, (nếu) nơi ấy hành xử
Luật bằng sự ghi nhớ được áp dụng, (thì) nơi ấy hành xử Luật khi không
điên cuồng không được áp dụng, nơi ấy việc phán xử theo tội đã được
thừa nhận không được áp dụng, nơi ấy theo tội của vị ấy không được áp
dụng, nơi ấy cách dùng cỏ che lấp không được áp dụng, nơi ấy thuận
theo số đông không được áp dụng.
Nơi nào hành xử Luật khi không điên cuồng được áp
dụng, nơi ấy hành xử Luật với sự hiện diện (cũng) được áp dụng. Nơi
nào hành xử Luật với sự hiện diện được áp dụng, (nếu) nơi ấy hành xử
Luật khi không điên cuồng được áp dụng, (thì) nơi ấy việc phán xử theo
tội đã được thừa nhận không được áp dụng, nơi ấy theo tội của vị ấy
không được áp dụng, nơi ấy cách dùng cỏ che lấp không được áp dụng,
nơi ấy thuận theo số đông không được áp dụng, nơi ấy hành xử Luật bằng
sự ghi nhớ không được áp dụng.
Nơi nào việc phán xử theo tội đã được thừa nhận
được áp dụng, nơi ấy hành xử Luật với sự hiện diện (cũng) được áp
dụng. Nơi nào hành xử Luật với sự hiện diện được áp dụng, (nếu) nơi ấy
việc phán xử theo tội đã được thừa nhận được áp dụng, (thì) nơi ấy
theo tội của vị ấy không được áp dụng, nơi ấy cách dùng cỏ che lấp
không được áp dụng, nơi ấy thuận theo số đông không được áp dụng, nơi
ấy hành xử Luật bằng sự ghi nhớ không được áp dụng, nơi ấy hành xử
Luật khi không điên cuồng không được áp dụng.
Nơi nào theo tội của vị ấy được áp dụng, nơi ấy
hành xử Luật với sự hiện diện (cũng) được áp dụng. Nơi nào hành xử
Luật với sự hiện diện được áp dụng, (nếu) nơi ấy theo tội của vị ấy
được áp dụng, (thì) nơi ấy cách dùng cỏ che lấp không được áp dụng,
nơi ấy thuận theo số đông không được áp dụng, nơi ấy hành xử Luật bằng
sự ghi nhớ không được áp dụng, nơi ấy hành xử Luật khi không điên
cuồng không được áp dụng, nơi ấy việc phán xử theo tội đã được thừa
nhận không được áp dụng.
Nơi nào cách dùng cỏ che lấp được áp dụng, nơi ấy
hành xử Luật với sự hiện diện (cũng) được áp dụng. Nơi nào hành xử
Luật với sự hiện diện được áp dụng, (nếu) nơi ấy cách dùng cỏ che lấp
được áp dụng, (thì) nơi ấy thuận theo số đông không được áp dụng, nơi
ấy hành xử Luật bằng sự ghi nhớ không được áp dụng, nơi ấy hành xử
Luật khi không điên cuồng không được áp dụng, nơi ấy việc phán xử theo
tội đã được thừa nhận không được áp dụng, nơi ấy theo tội của vị ấy
không được áp dụng.
[900] Nơi nào có thuận theo số đông, nơi ấy
(cũng) có hành xử Luật với sự hiện diện. Nơi nào có hành xử Luật với
sự hiện diện, (nếu) nơi ấy có thuận theo số đông, (thì) nơi ấy không
có hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, nơi ấy không có hành xử Luật khi
không điên cuồng, nơi ấy không có việc phán xử theo tội đã được thừa
nhận, nơi ấy không có theo tội của vị ấy, nơi ấy không có cách dùng cỏ
che lấp.
Nơi nào có hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, nơi ấy
(cũng) có hành xử Luật với sự hiện diện. Nơi nào có hành xử Luật với
sự hiện diện, (nếu) nơi ấy có hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, (thì) nơi
ấy không có hành xử Luật khi không điên cuồng, nơi ấy không có việc
phán xử theo tội đã được thừa nhận, nơi ấy không có theo tội của vị
ấy, nơi ấy không có cách dùng cỏ che lấp, nơi ấy không có thuận theo
số đông.
(Đã dùng hành xử Luật với sự hiện diện làm phần
căn bản) ...(như trên)...
Nơi nào có cách dùng cỏ che lấp, nơi ấy (cũng) có
hành xử Luật với sự hiện diện. Nơi nào có hành xử Luật với sự hiện
diện, (nếu) nơi ấy có cách dùng cỏ che lấp, (thì) nơi ấy không có
thuận theo số đông, nơi ấy không có hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, nơi
ấy không có hành xử Luật khi không điên cuồng, nơi ấy không có việc
phán xử theo tội đã được thừa nhận, nơi ấy không có theo tội của vị
ấy.
Sự
lặp lại theo vòng tròn.
Dứt phần Nơi Nào là phần thứ mười bốn.
[901] Trong trường hợp sự tranh tụng được giải
quyết bằng hành xử Luật với sự hiện diện và thuận theo số đông: Nơi
nào thuận theo số đông được áp dụng, nơi ấy hành xử Luật với sự hiện
diện (cũng) được áp dụng. Nơi nào hành xử Luật với sự hiện diện được
áp dụng, (nếu) nơi ấy thuận theo số đông được áp dụng, (thì) nơi ấy
hành xử Luật bằng sự ghi nhớ không được áp dụng, nơi ấy hành xử Luật
khi không điên cuồng không được áp dụng, nơi ấy việc phán xử theo tội
đã được thừa nhận không được áp dụng, nơi ấy theo tội của vị ấy không
được áp dụng, nơi ấy cách dùng cỏ che lấp không được áp dụng.
Trong trường hợp sự tranh tụng được giải quyết
bằng hành xử Luật với sự hiện diện và hành xử Luật bằng sự ghi nhớ:
Nơi nào hành xử Luật bằng sự ghi nhớ được áp dụng, nơi ấy hành xử Luật
với sự hiện diện (cũng) được áp dụng. Nơi nào hành xử Luật với sự hiện
diện được áp dụng, (nếu) nơi ấy hành xử Luật bằng sự ghi nhớ được áp
dụng, (thì) nơi ấy hành xử Luật khi không điên cuồng không được áp
dụng, nơi ấy việc phán xử theo tội đã được thừa nhận không được áp
dụng, nơi ấy theo tội của vị ấy không được áp dụng, nơi ấy cách dùng
cỏ che lấp không được áp dụng, nơi ấy thuận theo số đông không được áp
dụng.
Trong trường hợp sự tranh tụng được giải quyết
bằng hành xử Luật với sự hiện diện và hành xử Luật khi không điên
cuồng: Nơi nào hành xử Luật khi không điên cuồng được áp dụng, nơi ấy
hành xử Luật với sự hiện diện (cũng) được áp dụng. Nơi nào hành xử
Luật với sự hiện diện được áp dụng, (nếu) nơi ấy hành xử Luật khi
không điên cuồng được áp dụng, (thì) nơi ấy việc phán xử theo tội đã
được thừa nhận không được áp dụng, nơi ấy theo tội của vị ấy không
được áp dụng, nơi ấy cách dùng cỏ che lấp không được áp dụng, nơi ấy
thuận theo số đông không được áp dụng, nơi ấy hành xử Luật bằng sự ghi
nhớ không được áp dụng.
Trong trường hợp sự tranh tụng được giải quyết
bằng hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được
thừa nhận: Nơi nào việc phán xử theo tội đã được thừa nhận được áp
dụng, nơi ấy hành xử Luật với sự hiện diện (cũng) được áp dụng. Nơi
nào hành xử Luật với sự hiện diện được áp dụng, (nếu) nơi ấy việc phán
xử theo tội đã được thừa nhận được áp dụng, (thì) nơi ấy theo tội của
vị ấy không được áp dụng, nơi ấy cách dùng cỏ che lấp không được áp
dụng, nơi ấy thuận theo số đông không được áp dụng, nơi ấy hành xử
Luật bằng sự ghi nhớ không được áp dụng, nơi ấy hành xử Luật khi không
điên cuồng không được áp dụng.
Trong trường hợp sự tranh tụng được giải quyết
bằng hành xử Luật với sự hiện diện và theo tội của vị ấy: Nơi nào theo
tội của vị ấy được áp dụng, nơi ấy hành xử Luật với sự hiện diện
(cũng) được áp dụng. Nơi nào hành xử Luật với sự hiện diện được áp
dụng, (nếu) nơi ấy theo tội của vị ấy được áp dụng, (thì) nơi ấy cách
dùng cỏ che lấp không được áp dụng, nơi ấy thuận theo số đông không
được áp dụng, nơi ấy hành xử Luật bằng sự ghi nhớ không được áp dụng,
nơi ấy hành xử Luật khi không điên cuồng không được áp dụng, nơi ấy
việc phán xử theo tội đã được thừa nhận không được áp dụng.
Trong trường hợp sự tranh tụng được giải quyết
bằng hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp: Nơi nào
cách dùng cỏ che lấp được áp dụng, nơi ấy hành xử Luật với sự hiện
diện (cũng) được áp dụng. Nơi nào hành xử Luật với sự hiện diện được
áp dụng, (nếu) nơi ấy cách dùng cỏ che lấp được áp dụng, (thì) nơi ấy
thuận theo số đông không được áp dụng, nơi ấy hành xử Luật bằng sự ghi
nhớ không được áp dụng, nơi ấy hành xử Luật khi không điên cuồng không
được áp dụng, nơi ấy việc phán xử theo tội đã được thừa nhận không
được áp dụng, nơi ấy theo tội của vị ấy không được áp dụng.
Dứt
phần Trong Trường Hợp là phần thứ mười lăm.
[902] “Sự tranh tụng” hay là “cách dàn
xếp,” các pháp này liên kết hay không liên kết? Và có thể tách rời
để chỉ rõ sự khác biệt của các pháp này?
- “Sự
tranh tụng” hay là “cách dàn xếp,” các pháp này liên kết,
không phải không liên kết. Và có thể tách rời để chỉ rõ sự khác biệt
của các pháp này.
Vị ấy nên được nói rằng:
– Chớ có như thế! “Sự tranh tụng” hay là “cách
dàn xếp,” các pháp này liên kết, không phải không liên kết. Và
không thể tách rời để chỉ rõ sự khác biệt của các pháp này.
Lý do của điều ấy là gì?
- Không
phải đức Thế Tôn đã nói rằng: “Này các tỳ khưu, đây là bốn sự tranh
tụng và bảy cách dàn xếp. Các sự tranh tụng được làm lắng dịu bởi các
cách dàn xếp, các cách dàn xếp được làm lắng dịu bởi các sự tranh
tụng; các pháp này liên kết như thế, không phải không liên kết. Không
thể tách rời để chỉ rõ sự khác biệt của các pháp này.”
Dứt
phần Liên Kết là phần thứ mười sáu.
[903] Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi được
làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp? Sự tranh tụng liên quan đến
khiển trách được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp? Sự tranh
tụng liên quan đến tội được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
Sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được làm lắng dịu với bao nhiêu
cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi được làm lắng dịu với hai cách dàn
xếp: hành xử Luật với sự hiện diện và thuận theo số đông. Sự tranh
tụng liên quan đến khiển trách được làm lắng dịu với bốn cách dàn xếp:
hành xử Luật với sự hiện diện, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử
Luật khi không điên cuồng, và theo tội của vị ấy. Sự tranh tụng liên
quan đến tội được làm lắng dịu với ba cách dàn xếp: hành xử Luật với
sự hiện diện, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, và cách dùng cỏ
che lấp. Sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được làm lắng dịu với
một cách dàn xếp là hành xử Luật với sự hiện diện.
Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi và sự tranh
tụng liên quan đến khiển trách được làm lắng dịu với bao nhiêu cách
dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi và sự tranh tụng liên quan đến
khiển trách được làm lắng dịu với năm cách dàn xếp: hành xử Luật với
sự hiện diện, thuận theo số đông, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành
xử Luật khi không điên cuồng, và theo tội của vị ấy.
Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi và sự tranh
tụng liên quan đến tội được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi và sự tranh tụng liên quan đến tội
được làm lắng dịu với bốn cách dàn xếp: hành xử Luật với sự hiện diện,
thuận theo số đông, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, và cách
dùng cỏ che lấp.
Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi và sự tranh
tụng liên quan đến nhiệm vụ được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn
xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi và sự tranh tụng liên quan đến
nhiệm vụ được làm lắng dịu với hai cách dàn xếp: hành xử Luật với sự
hiện diện và thuận theo số đông.
Sự tranh tụng liên quan đến khiển trách và sự
tranh tụng liên quan đến tội được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn
xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến khiển trách và sự tranh tụng liên quan đến
tội được làm lắng dịu với sáu cách dàn xếp: hành xử Luật với sự hiện
diện, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng,
việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, theo tội của vị ấy, và cách
dùng cỏ che lấp.
Sự tranh tụng liên quan đến khiển trách và sự
tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được làm lắng dịu với bao nhiêu cách
dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến khiển trách và sự tranh tụng liên quan đến
nhiệm vụ được làm lắng dịu với bốn cách dàn xếp: hành xử Luật với sự
hiện diện, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên
cuồng, và theo tội của vị ấy.
Sự tranh tụng liên quan đến tội và sự tranh tụng
liên quan đến nhiệm vụ được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tội và sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ
được làm lắng dịu với ba cách dàn xếp: hành xử Luật với sự hiện diện,
việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, và cách dùng cỏ che lấp.
Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh
tụng liên quan đến khiển trách, và sự tranh tụng liên quan đến tội
được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển
trách, và sự tranh tụng liên quan đến tội được làm lắng dịu với bảy
cách dàn xếp: hành xử Luật với sự hiện diện, thuận theo số đông, hành
xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, việc phán
xử theo tội đã được thừa nhận, theo tội của vị ấy, và cách dùng cỏ che
lấp.
Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh
tụng liên quan đến khiển trách, và sự tranh tụng liên quan đến nhiệm
vụ được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển
trách, và sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được làm lắng dịu với
năm cách dàn xếp: hành xử Luật với sự hiện diện, thuận theo số đông,
hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, và
theo tội của vị ấy.
Sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh
tụng liên quan đến tội, và sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được
làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội,
và sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được làm lắng dịu với sáu cách
dàn xếp: hành xử Luật với sự hiện diện, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ,
hành xử Luật khi không điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa
nhận, theo tội của vị ấy, và cách dùng cỏ che lấp.
Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh
tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, và sự
tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được làm lắng dịu với bao nhiêu cách
dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển
trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, và sự tranh tụng liên quan đến
nhiệm vụ được làm lắng dịu với bảy cách dàn xếp: hành xử Luật với sự
hiện diện, thuận theo số đông, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử
Luật khi không điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận,
theo tội của vị ấy, và cách dùng cỏ che lấp.
Dứt
phần Được Làm Lắng Dịu là phần thứ mười bảy.
[904] Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi được
làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp? Không được làm lắng dịu với
bao nhiêu cách dàn xếp? Sự tranh tụng liên quan đến khiển trách
...(như trên)... Sự tranh tụng liên quan đến tội ...(như trên)... Sự
tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được làm lắng dịu với bao nhiêu cách
dàn xếp? Không được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi được làm lắng dịu với hai cách dàn
xếp: hành xử Luật với sự hiện diện và thuận theo số đông. Không được
làm lắng dịu với năm cách dàn xếp: hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành
xử Luật khi không điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận,
theo tội của vị ấy, và cách dùng cỏ che lấp.
Sự tranh tụng liên quan đến khiển trách được làm
lắng dịu với bốn cách dàn xếp: hành xử Luật với sự hiện diện, hành xử
Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, và theo tội
của vị ấy. Không được làm lắng dịu với ba cách dàn xếp: thuận theo số
đông, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, và cách dùng cỏ che
lấp.
Sự tranh tụng liên quan đến tội được làm lắng dịu
với ba cách dàn xếp: hành xử Luật với sự hiện diện, việc phán xử theo
tội đã được thừa nhận, và cách dùng cỏ che lấp. Không được làm lắng
dịu với bốn cách dàn xếp: thuận theo số đông, hành xử Luật bằng sự ghi
nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, và theo tội của vị ấy,
Sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được làm
lắng dịu với một cách dàn xếp là hành xử Luật với sự hiện diện. Không
được làm lắng dịu với sáu cách dàn xếp: thuận theo số đông, hành xử
Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, việc phán xử
theo tội đã được thừa nhận, theo tội của vị ấy, và cách dùng cỏ che
lấp.
Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi và sự tranh
tụng liên quan đến khiển trách được làm lắng dịu với bao nhiêu cách
dàn xếp? Không được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi và sự tranh tụng liên quan đến
khiển trách được làm lắng dịu với năm cách dàn xếp: hành xử Luật với
sự hiện diện, thuận theo số đông, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành
xử Luật khi không điên cuồng, và theo tội của vị ấy. Không được làm
lắng dịu với hai cách dàn xếp: việc phán xử theo tội đã được thừa
nhận, và cách dùng cỏ che lấp.
Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi và sự tranh
tụng liên quan đến tội được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
Không được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi và sự tranh tụng liên quan đến tội
được làm lắng dịu với bốn cách dàn xếp: hành xử Luật với sự hiện diện,
thuận theo số đông, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, và cách
dùng cỏ che lấp. Không được làm lắng dịu với ba cách dàn xếp: hành xử
Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, và theo tội
của vị ấy.
Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi và sự tranh
tụng liên quan đến nhiệm vụ được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn
xếp? Không được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi và sự tranh tụng liên quan đến
nhiệm vụ được làm lắng dịu với hai cách dàn xếp: hành xử Luật với sự
hiện diện, thuận theo số đông. Không được làm lắng dịu với năm cách
dàn xếp: hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên
cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, theo tội của vị ấy, và
cách dùng cỏ che lấp.
Sự tranh tụng liên quan đến khiển trách và sự
tranh tụng liên quan đến tội được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn
xếp? Không được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến khiển trách và sự tranh tụng liên quan đến
tội được làm lắng dịu với sáu cách dàn xếp: hành xử Luật với sự hiện
diện, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng,
việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, theo tội của vị ấy, và cách
dùng cỏ che lấp. Không được làm lắng dịu với một cách dàn xếp là thuận
theo số đông.
Sự tranh tụng liên quan đến khiển trách và sự
tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được làm lắng dịu với bao nhiêu cách
dàn xếp? Không được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến khiển trách và sự tranh tụng liên quan đến
nhiệm vụ được làm lắng dịu với bốn cách dàn xếp: hành xử Luật với sự
hiện diện, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên
cuồng, và theo tội của vị ấy. Không được làm lắng dịu với ba cách dàn
xếp: thuận theo số đông, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, và
cách dùng cỏ che lấp.
Sự tranh tụng liên quan đến tội và sự tranh tụng
liên quan đến nhiệm vụ được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
Không được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tội và sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ
được làm lắng dịu với ba cách dàn xếp: hành xử Luật với sự hiện diện,
việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, và cách dùng cỏ che lấp.
Không được làm lắng dịu với bốn cách dàn xếp: thuận theo số đông, hành
xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, và theo
tội của vị ấy.
Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh
tụng liên quan đến khiển trách, và sự tranh tụng liên quan đến tội
được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp? Không được làm lắng dịu
với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển
trách, và sự tranh tụng liên quan đến tội được làm lắng dịu với bảy
cách dàn xếp: hành xử Luật với sự hiện diện, thuận theo số đông, hành
xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, việc phán
xử theo tội đã được thừa nhận, theo tội của vị ấy, và cách dùng cỏ che
lấp.
Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh
tụng liên quan đến khiển trách, và sự tranh tụng liên quan đến nhiệm
vụ được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển
trách, và sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được làm lắng dịu với
năm cách dàn xếp: hành xử Luật với sự hiện diện, thuận theo số đông,
hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, và
theo tội của vị ấy. Không được làm lắng dịu với hai cách dàn xếp: việc
phán xử theo tội đã được thừa nhận, và cách dùng cỏ che lấp.
Sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh
tụng liên quan đến tội, và sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được
làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội,
và sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được làm lắng dịu với sáu cách
dàn xếp: hành xử Luật với sự hiện diện, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ,
hành xử Luật khi không điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa
nhận, theo tội của vị ấy, và cách dùng cỏ che lấp. Không được làm lắng
dịu với một cách dàn xếp là thuận theo số đông.
Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh
tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, và sự
tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được làm lắng dịu với bao nhiêu cách
dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển
trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, và sự tranh tụng liên quan đến
nhiệm vụ được làm lắng dịu với bảy cách dàn xếp: hành xử Luật với sự
hiện diện, thuận theo số đông, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử
Luật khi không điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận,
theo tội của vị ấy, và cách dùng cỏ che lấp.
Dứt
phần Được Làm Lắng Dịu -
Không Được Làm Lắng Dịu
là phần thứ mười tám.
[905] (Có phải) các cách dàn xếp được làm lắng
dịu bởi các cách dàn xếp? (Có phải) các cách dàn xếp được làm lắng dịu
bởi các sự tranh tụng? (Có phải) các sự tranh tụng được làm lắng dịu
bởi các cách dàn xếp? (Có phải) các sự tranh tụng được làm lắng dịu
bởi các sự tranh tụng?
- Có thể
có các cách dàn xếp được làm lắng dịu bởi các cách dàn xếp. Có thể có
các cách dàn xếp không được làm lắng dịu bởi các cách dàn xếp. Có thể
có các cách dàn xếp được làm lắng dịu bởi các sự tranh tụng. Có thể có
các cách dàn xếp không được làm lắng dịu bởi các sự tranh tụng. Có thể
có các sự tranh tụng được làm lắng dịu bởi các cách dàn xếp. Có thể có
các sự tranh tụng không được làm lắng dịu bởi các cách dàn xếp. Có thể
có các sự tranh tụng được làm lắng dịu bởi các sự tranh tụng. Có thể
có các sự tranh tụng không được làm lắng dịu bởi các sự tranh tụng.
[906] Thế nào là có thể có các cách dàn xếp được
làm lắng dịu bởi các cách dàn xếp? Thế nào là có thể có các cách dàn
xếp không được làm lắng dịu bởi các cách dàn xếp?
- Thuận
theo số đông được làm lắng dịu bởi hành xử Luật với sự hiện diện,
không được làm lắng dịu bởi hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, không được
làm lắng dịu bởi hành xử Luật khi không điên cuồng, không được làm
lắng dịu bởi việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, không được làm
lắng dịu bởi theo tội của vị ấy, không được làm lắng dịu bởi cách dùng
cỏ che lấp.
Hành xử Luật bằng sự ghi nhớ được làm lắng dịu
bởi hành xử Luật với sự hiện diện, không được làm lắng dịu bởi hành xử
Luật khi không điên cuồng, không được làm lắng dịu bởi việc phán xử
theo tội đã được thừa nhận, không được làm lắng dịu bởi theo tội của
vị ấy, không được làm lắng dịu bởi cách dùng cỏ che lấp, không được
làm lắng dịu bởi thuận theo số đông.
Hành xử Luật khi không điên cuồng được làm lắng
dịu bởi hành xử Luật với sự hiện diện, không được làm lắng dịu bởi
việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, không được làm lắng dịu bởi
theo tội của vị ấy, không được làm lắng dịu bởi cách dùng cỏ che lấp,
không được làm lắng dịu bởi thuận theo số đông, không được làm lắng
dịu bởi hành xử Luật bằng sự ghi nhớ.
Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận được làm
lắng dịu bởi hành xử Luật với sự hiện diện, không được làm lắng dịu
bởi theo tội của vị ấy, không được làm lắng dịu bởi cách dùng cỏ che
lấp, không được làm lắng dịu bởi thuận theo số đông, không được làm
lắng dịu bởi hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, không được làm lắng dịu bởi
hành xử Luật khi không điên cuồng.
Theo tội của vị ấy được làm lắng dịu bởi hành xử
Luật với sự hiện diện, không được làm lắng dịu bởi cách dùng cỏ che
lấp, không được làm lắng dịu bởi thuận theo số đông, không được làm
lắng dịu bởi hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, không được làm lắng dịu bởi
hành xử Luật khi không điên cuồng, không được làm lắng dịu bởi việc
phán xử theo tội đã được thừa nhận.
Cách dùng cỏ che lấp được làm lắng dịu bởi hành
xử Luật với sự hiện diện, không được làm lắng dịu bởi thuận theo số
đông, không được làm lắng dịu bởi hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, không
được làm lắng dịu bởi hành xử Luật khi không điên cuồng, không được
làm lắng dịu bởi việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, không được
làm lắng dịu bởi theo tội của vị ấy.
Như vậy, có thể có các cách dàn xếp được làm lắng
dịu bởi các cách dàn xếp là như thế. Như vậy, có thể có các cách dàn
xếp không được làm lắng dịu bởi các cách dàn xếp.
[907] Thế nào là có thể có các cách dàn xếp được
làm lắng dịu bởi các sự tranh tụng? Thế nào là có thể có các cách dàn
xếp không được làm lắng dịu bởi các sự tranh tụng?
- Hành
xử Luật với sự hiện diện không được làm lắng dịu bởi sự tranh tụng
liên quan đến tranh cãi, không được làm lắng dịu bởi sự tranh tụng
liên quan đến khiển trách, không được làm lắng dịu bởi sự tranh tụng
liên quan đến tội, được làm lắng dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến
nhiệm vụ.
Thuận theo số đông không được làm lắng dịu bởi sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi, không được làm lắng dịu bởi sự
tranh tụng liên quan đến khiển trách, không được làm lắng dịu bởi sự
tranh tụng liên quan đến tội, không được làm lắng dịu bởi sự tranh
tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Hành xử Luật bằng sự ghi nhớ không được làm lắng
dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, không được làm lắng dịu
bởi sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, không được làm lắng dịu
bởi sự tranh tụng liên quan đến tội, không được làm lắng dịu bởi sự
tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Hành xử Luật khi không điên cuồng không được làm
lắng dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, không được làm
lắng dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, không được làm
lắng dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến tội, không được làm lắng dịu
bởi sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận không
được làm lắng dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, không
được làm lắng dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, được
làm lắng dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến tội, không được làm lắng
dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Theo tội của vị ấy không được làm lắng dịu bởi
sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, không được làm lắng dịu bởi sự
tranh tụng liên quan đến khiển trách, không được làm lắng dịu bởi sự
tranh tụng liên quan đến tội, không được làm lắng dịu bởi sự tranh
tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Cách dùng cỏ che lấp không được làm lắng dịu bởi
sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, không được làm lắng dịu bởi sự
tranh tụng liên quan đến khiển trách, không được làm lắng dịu bởi sự
tranh tụng liên quan đến tội, không được làm lắng dịu bởi sự tranh
tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Như vậy, có thể có các cách dàn xếp được làm lắng
dịu bởi các sự tranh tụng. Như vậy, có thể có các cách dàn xếp có thể
không được làm lắng dịu bởi các sự tranh tụng.
[908] Thế nào là có thể có các sự tranh tụng được
làm lắng dịu bởi các cách dàn xếp? Thế nào là có thể có các sự tranh
tụng không được làm lắng dịu bởi các cách dàn xếp?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi được làm lắng dịu bởi (các cách dàn
xếp): hành xử Luật với sự hiện diện và thuận theo số đông, không được
làm lắng dịu bởi (các cách dàn xếp): hành xử Luật bằng sự ghi nhớ,
hành xử Luật khi không điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa
nhận, theo tội của vị ấy, và cách dùng cỏ che lấp.
Sự tranh tụng liên quan đến khiển trách được làm
lắng dịu bởi (các cách dàn xếp): hành xử Luật với sự hiện diện, hành
xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, và theo
tội của vị ấy, không được làm lắng dịu bởi (các cách dàn xếp): thuận
theo số đông, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, và cách dùng cỏ
che lấp.
Sự tranh tụng liên quan đến tội được làm lắng dịu
bởi (các cách dàn xếp): hành xử Luật với sự hiện diện, việc phán xử
theo tội đã được thừa nhận, và cách dùng cỏ che lấp, không được làm
lắng dịu bởi (các cách dàn xếp): thuận theo số đông, hành xử Luật bằng
sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, và theo tội của vị ấy.
Sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được làm
lắng dịu bởi hành xử Luật với sự hiện diện, không được làm lắng dịu
bởi (các cách dàn xếp): thuận theo số đông, hành xử Luật bằng sự ghi
nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được
thừa nhận, theo tội của vị ấy, và cách dùng cỏ che lấp.
Như vậy, có thể có các sự tranh tụng được làm
lắng dịu bởi các cách dàn xếp. Như vậy, có thể có các sự tranh tụng
không được làm lắng dịu bởi các cách dàn xếp.
[909] Thế nào là có thể có các sự tranh tụng được
làm lắng dịu bởi các sự tranh tụng? Thế nào là có thể có các sự tranh
tụng không được làm lắng dịu bởi các sự tranh tụng?
- Sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi không được làm lắng dịu bởi sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi, không được làm lắng dịu bởi sự
tranh tụng liên quan đến khiển trách, không được làm lắng dịu bởi sự
tranh tụng liên quan đến tội, được làm lắng dịu bởi sự tranh tụng liên
quan đến nhiệm vụ.
Sự tranh tụng liên quan đến khiển trách không
được làm lắng dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, không
được làm lắng dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, không
được làm lắng dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến tội, được làm lắng
dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Sự tranh tụng liên quan đến tội không được làm
lắng dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, không được làm
lắng dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, không được làm
lắng dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến tội, được làm lắng dịu bởi sự
tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ không được
làm lắng dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, không được làm
lắng dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, không được làm
lắng dịu bởi sự tranh tụng liên quan đến tội, được làm lắng dịu bởi sự
tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Như vậy, có thể có các sự tranh tụng được làm
lắng dịu bởi các sự tranh tụng. Như vậy, có thể có các sự tranh tụng
không được làm lắng dịu bởi các sự tranh tụng.
[910] Cả sáu cách dàn xếp và bốn sự tranh tụng
được làm lắng dịu bởi hành xử Luật với sự hiện diện. Hành xử Luật với
sự hiện diện không được làm lắng dịu bởi bất cứ điều nào.
Dứt
phần Cách Dàn Xếp và Sự Tranh Tụng là phần thứ mười chín.
[911] Sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng
làm sanh khởi sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi?
- Không
có sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng làm sanh khởi sự tranh
tụng liên quan đến tranh cãi; tuy nhiên, do duyên của sự tranh tụng
liên quan đến tranh cãi cả bốn sự tranh tụng được sanh lên.
Như thế là thế nào?
- Trong
trường hợp này, các tỳ khưu tranh cãi rằng: “Đây là Pháp,” hoặc
là “Đây không phải là Pháp,” hoặc là “Đây là Luật,” hoặc
là “Đây không phải là Luật,” hoặc là “Điều ấy đã được đấng
Thiện Thệ thuyết giảng và nói đến,” hoặc là “Điều ấy đã không
được đấng Thiện Thệ thuyết giảng và nói đến,” hoặc là “Điều ấy
đã được đấng Thiện Thệ thực hành,” hoặc là “Điều ấy đã không
được đấng Thiện Thệ thực hành,” hoặc là “Điều ấy đã được đấng
Thiện Thệ quy định,” hoặc là “Điều ấy đã không được đấng Thiện
Thệ quy định,” hoặc là “Điều ấy là phạm tội,” hoặc là “Điều
ấy là không phạm tội,” hoặc là “Điều ấy là tội nhẹ,” hoặc
là “Điều ấy là tội nặng,” hoặc là “Tội còn dư sót,” hoặc
là “Tội không còn dư sót,” hoặc là “Tội xấu xa,” hoặc là
“Tội không xấu xa.” Ở đây, việc nào là sự xung đột, sự gây gỗ,
sự tranh luận, sự tranh cãi, nhiều quan điểm, khác quan điểm, cãi vã
là thói thường của sự nóng nảy (vipaccatāya vohāro medhagaṃ), việc ấy
được gọi là sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi.[8]
Trong sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, hội chúng tranh cãi (tạo
nên) sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi. Trong khi tranh cãi, có vị
khiển trách (tạo nên) sự tranh tụng liên quan đến khiển trách. Trong
khi khiển trách, có vị vi phạm tội (tạo nên) sự tranh tụng liên quan
đến tội. Do tội đó, hội chúng thực thi hành sự (tạo nên) sự tranh tụng
liên quan đến nhiệm vụ. Như vậy do duyên của sự tranh tụng liên quan
đến tranh cãi, cả bốn sự tranh tụng được sanh lên.
[912] Sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng
làm sanh khởi sự tranh tụng liên quan đến khiển trách?
- Không
có sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng làm sanh khởi sự tranh
tụng liên quan đến khiển trách; tuy nhiên, do duyên của sự tranh tụng
liên quan đến khiển trách cả bốn sự tranh tụng được sanh lên.
Như thế là thế nào?
- Trong
trường hợp này, các tỳ khưu khiển trách vị
tỳ khưu với sự hư hỏng về giới, hoặc với sự hư hỏng về hạnh kiểm, hoặc
với sự hư hỏng về tri kiến, hoặc với sự hư hỏng về nuôi mạng. Ở đây,
việc nào là sự khiển trách, sự xoi mói, sự buộc tội, sự chỉ trích, sự
moi móc, sự xúi giục, sự khích động, việc ấy được gọi là sự
tranh tụng liên quan đến khiển trách. Trong sự tranh tụng liên quan
đến khiển trách, hội chúng tranh cãi (tạo nên) sự tranh tụng liên quan
đến tranh cãi. Trong khi tranh cãi, có vị khiển trách (tạo nên) sự
tranh tụng liên quan đến khiển trách. Trong khi khiển trách, có vị vi
phạm tội (tạo nên) sự tranh tụng liên quan đến tội. Do tội đó, hội
chúng thực thi hành sự (tạo nên) sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Như vậy do duyên của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, cả bốn
sự tranh tụng được sanh lên.
[913] Sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng
làm sanh khởi sự tranh tụng liên quan đến tội?
- Không
có sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng làm sanh khởi sự tranh
tụng liên quan đến tội; tuy nhiên, do duyên của sự tranh tụng liên
quan đến tội cả bốn sự tranh tụng được sanh lên.
Như thế là thế nào?
-
Năm nhóm tội là sự tranh tụng liên quan đến
tội, và bảy nhóm tội là sự tranh tụng liên quan đến tội; việc ấy được
gọi là sự tranh tụng liên quan đến tội. Trong sự tranh tụng
liên quan đến tội, hội chúng tranh cãi (tạo nên) sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi. Trong khi tranh cãi, có vị khiển trách (tạo nên)
sự tranh tụng liên quan đến khiển trách. Trong khi khiển trách, có vị
vi phạm tội (tạo nên) sự tranh tụng liên quan đến tội. Do tội đó, hội
chúng thực thi hành sự (tạo nên) sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Như vậy do duyên của sự tranh tụng liên quan đến tội, cả bốn sự tranh
tụng được sanh lên.
[914] Sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng
làm sanh khởi sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ?
- Không
có sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng làm sanh khởi sự tranh
tụng liên quan đến nhiệm vụ; tuy nhiên, do duyên của sự tranh tụng
liên quan đến nhiệm vụ cả bốn sự tranh tụng được sanh lên.
Như thế là thế nào?
-
Việc gì cần phải hoàn thành, cần phải thực
thi, là hành sự với lời công bố, là hành sự với lời đề nghị, là hành
sự với lời thông báo đến lần thứ hai, là hành sự với lời thông báo đến
lần thứ tư của hội chúng; việc ấy được gọi là sự tranh tụng liên quan
đến nhiệm vụ. Trong sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, hội
chúng tranh cãi (tạo nên) sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi. Trong
khi tranh cãi, có vị khiển trách (tạo nên) sự tranh tụng liên quan đến
khiển trách. Trong khi khiển trách, có vị vi phạm tội (tạo nên) sự
tranh tụng liên quan đến tội. Do tội đó, hội chúng thực thi hành sự
(tạo nên) sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ. Như vậy do duyên của
sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, cả bốn sự tranh tụng được sanh
lên.
Dứt
phần Làm Sanh Khởi là phần thứ hai mươi.
[915] Trong bốn sự tranh tụng, sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi được phân chia theo sự tranh tụng nào? Nương tựa
vào sự tranh tụng nào? Phụ thuộc vào sự tranh tụng nào? Được kết hợp
với sự tranh tụng nào?
Trong bốn sự tranh tụng, sự tranh tụng liên quan
đến khiển trách được phân chia theo sự tranh tụng nào? Nương tựa vào
sự tranh tụng nào? Phụ thuộc vào sự tranh tụng nào? Được kết hợp với
sự tranh tụng nào?
Trong bốn sự tranh tụng, sự tranh tụng liên quan
đến tội được phân chia theo sự tranh tụng nào? Nương tựa vào sự tranh
tụng nào? Phụ thuộc vào sự tranh tụng nào? Được kết hợp với sự tranh
tụng nào?
Trong bốn sự tranh tụng, sự tranh tụng liên quan
đến nhiệm vụ được phân chia theo sự tranh tụng nào? Nương tựa vào sự
tranh tụng nào? Phụ thuộc vào sự tranh tụng nào? Được kết hợp với sự
tranh tụng nào?
- Trong
bốn sự tranh tụng, sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi được phân
chia theo sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, nương tựa vào sự
tranh tụng liên quan đến tranh cãi, phụ thuộc vào sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi, được kết hợp với sự tranh tụng liên quan đến tranh
cãi.
Trong bốn sự tranh tụng, sự tranh tụng liên quan
đến khiển trách được phân chia theo sự tranh tụng liên quan đến khiển
trách, nương tựa vào sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, phụ
thuộc vào sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, được kết hợp với sự
tranh tụng liên quan đến khiển trách.
Trong bốn sự tranh tụng, sự tranh tụng liên quan
đến tội được phân chia theo sự tranh tụng liên quan đến tội, nương tựa
vào sự tranh tụng liên quan đến tội, phụ thuộc vào sự tranh tụng liên
quan đến tội, được kết hợp với sự tranh tụng liên quan đến tội.
Trong bốn sự tranh tụng, sự tranh tụng liên quan
đến nhiệm vụ được phân chia theo sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ,
nương tựa vào sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, phụ thuộc vào sự
tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, được kết hợp với sự tranh tụng liên
quan đến nhiệm vụ.
[916] Trong bảy cách dàn xếp, sự tranh tụng liên
quan đến tranh cãi được phân chia theo bao nhiêu cách dàn xếp? Nương
tựa vào bao nhiêu cách dàn xếp? Phụ thuộc vào bao nhiêu cách dàn xếp?
Được kết hợp với bao nhiêu cách dàn xếp? Được làm lắng dịu với bao
nhiêu cách dàn xếp?
Trong bảy cách dàn xếp, sự tranh tụng liên quan
đến khiển trách ...(như trên)... sự tranh tụng liên quan đến tội
...(như trên)... sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được phân chia
theo bao nhiêu cách dàn xếp? Nương tựa vào bao nhiêu cách dàn xếp? Phụ
thuộc vào bao nhiêu cách dàn xếp? Được kết hợp với bao nhiêu cách dàn
xếp? Được làm lắng dịu với bao nhiêu cách dàn xếp?
- Trong
bảy cách dàn xếp, sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi được phân chia
theo hai cách dàn xếp, nương tựa vào hai cách dàn xếp, phụ thuộc vào
hai cách dàn xếp, được kết hợp với hai cách dàn xếp, được làm lắng dịu
với hai cách dàn xếp là: hành xử Luật với sự hiện diện và thuận theo
số đông.
Trong bảy cách dàn xếp, sự tranh tụng liên quan
đến khiển trách được phân chia theo bốn cách dàn xếp, nương tựa vào
bốn cách dàn xếp, phụ thuộc vào bốn cách dàn xếp, được kết hợp với bốn
cách dàn xếp, được làm lắng dịu với bốn cách dàn xếp là: hành xử Luật
với sự hiện diện, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không
điên cuồng, và theo tội của vị ấy.
Trong bảy cách dàn xếp, sự tranh tụng liên quan
đến tội được phân chia theo ba cách dàn xếp, nương tựa vào ba cách dàn
xếp, phụ thuộc vào ba cách dàn xếp, được kết hợp với ba cách dàn xếp,
được làm lắng dịu với ba cách dàn xếp là: hành xử Luật với sự hiện
diện, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, và cách dùng cỏ che
lấp.
Trong bảy cách dàn xếp, sự tranh tụng liên quan
đến nhiệm vụ được phân chia theo một cách dàn xếp, nương tựa vào một
cách dàn xếp, phụ thuộc vào một cách dàn xếp, được kết hợp với một
cách dàn xếp, được làm lắng dịu với một cách dàn xếp là hành xử Luật
với sự hiện diện.
Dứt
phần Phân Tích Cách Dàn Xếp.
Tóm lược phần này:
[917]
Sự
tranh tụng, phương thức,
liên quan, và quan hệ,
cách dàn xếp liên quan,
và có cùng quan hệ
đối với cách dàn xếp,
cách dàn xếp hiện diện,
cách hành xử, tốt đẹp,
nơi nào, trong trường hợp,
liên kết, làm lắng dịu,
và không làm lắng dịu,
dàn xếp và tranh tụng,
sanh khởi, chúng xếp vào.
*******
[1]
Tiểu Phẩm – Cullavagga, chương IV, [637].
[2]
Đại Phẩm – Mahāvagga, chương X, [252].
[3]
Là sanh lên do thân, không do khẩu không do ý. Các nguồn sanh tội kế
tiếp xin xem lại phần [853] ở trên.
[4]
Xin xem lại phần [857] ở trên.
[5]
Sáu nguyên nhân được trình bày ở [854] thêm vào ba nhân thiện và ba
nhân bất thiện. Hoặc có thể xem ở Tiểu Phẩm – Cullavagga,
chương IV, [637-640].
[6]
12 nguyên nhân thêm vào thân và khẩu (Sđd., [646, 647]).
[7]
Hành sự với lời công bố, hành sự với lời đề
nghị, hành sự với lời thông báo đến lần thứ hai, hành sự với lời thông
báo đến lần thứ tư.
[8]
Xin xem lại [633-636] (Sđd.) cho phần này và các phần kế.
-ooOoo-
Đầu trang |
Mục lục |
01a |
01b |
01c |
01d |
02a |
02b |
03 | 04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
18 |
19
|