Phật Thuyết Kinh Con đường Tu Hành - Phẩm Tám - Phân Biệt Hành Tướng - Tập Bốn
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Trúc Pháp Hộ, Đời Tây Tấn
PHẬT THUYẾT
KINH CON ĐƯỜNG TU HÀNH
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư
Trúc Pháp Hộ, Đời Tây Tấn
PHẨM TÁM
PHÂN BIỆT HÀNH TƯỚNG
TẬP BỐN
Bài tụng rằng:
Người quen thói ngu si
Các căn chẳng hoàn bị
Sinh trong loài trâu, dê
Sau đọa vào địa ngục.
Nếu mà người tu học
Nguyện vượt đường ác này
Muốn thoát khỏi tăm tối
Nên quán mười hai duyên.
Nếu người nhiều dâm, nộ nên thực hiện hai việc: Quán bất tịnh và hành tâm từ.
Nếu nhiều dâm, si thì nêu giảng hai việc: Rỗng không và từ, nếu nộ si mạnh, thì nói hai việc: Dẫn dắt dùng lòng từ và hiểu rõ gốc si.
Bài tụng rằng:
Hành từ, quán bất tịnh
Đối trị dâm, nộ, si
Dạy người ngu chẳng rõ
Sắc nơi mười hai duyên.
Nếu người sân giận mạnh
Và si quá tăm tối
Vì họ giảng tâm từ
Gốc mười hai nhân duyên.
Nếu có người miệng dâm mà tâm dục, thì vì họ mà nói ý nghĩa vô thường, tịch tĩnh. Còn tâm nộ mà miệng sân thì chỉ giảng nhân từ. Miệng si, tăm tối thì giảng về mười hai duyên.
Ngoài ra, bốn loại đầy đủ các bệnh:
Một là miệng dâm, tâm ôm ba độc.
Hai là miệng đầy đủ nộ, dâm, sân, si.
Ba là miệng ngu, trong chứa ba cấu.
Bốn là người thuần chứa ba độc, thì vị Pháp Sư nên giảng giải cho họ vì họ mà nói pháp giáo hóa, khiến tĩnh lặng, quán gốc nhân duyên.
Vì sao?
Vì nơi họ phiền não cấu uế dày đặc, chứa nhiều tội lỗi, tự trói buộc mình. Tuy là gặp pháp, nhưng chẳng thấy Thánh Đế, chỉ nên dạy họ tụng đọc, khuyến khích tinh tấn. Nhờ vậy, nên chuyên vào việc đọc tụng mà phiền não trở nên cạn mỏng. Tuy chẳng đắc đạo nhưng có thể sinh Thiên.
Bài tụng rằng:
Có người hành phạm dâm
Mà tâm sân hận, si
Nên dạy đọc tụng Kinh
Và khuyên làm việc phước.
Thì phiền não tuy mạnh
Nhưng nhờ đó trừ tội
Bởi do phương tiện ấy
Mà mau được sinh Thiên.
Ví như có người chăm sóc vườn cây, san bằng gò đống cao, thấp, tưới tẩm đúng thời, nhổ bỏ gai gốc. Cỏ dại, lau lách, cành nhánh cong queo, đâm ngang không hàng lối đều phát chặt hết, đem bỏ bên ngoài bờ rào, khiến khu vườn quang đãng.
Cây cối không vướng, rễ xanh lá tốt, đều được giữ gìn, khiến không gãy ngã. Vì vậy nên cây cối lớn nhanh, hoa quả trĩu cành. Người tu hành nhận lãnh lời dạy của thầy diệt trừ các thứ uế dục, tưởng dâm, nộ, si. Vì vậy cho nên sự tu hành càng tăng tiến, cho đến lúc đắc đạo.
Bài tụng rằng:
Cây cối mọc cong, quẹo
Đâm chĩa chẳng thẳng hàng
Gai gốc, các thứ dơ
Dọn sạch, khiến ngay ngắn.
Dùng bao nhiêu phương cách
Sửa soạn mới thành được
Tu hành chăm cây pháp
Theo Kinh cũng như vậy.
Trừ các dâm, nộ, si
Nhân trăm ngàn lời thầy
Diệt bỏ các tội lỗi
Như người chăm sóc cây.
Pháp Sư thuyết pháp xem xét bốn việc:
1. Học rộng mà được đến với đạo.
2. Mang lòng tin đến với đạo, đối với chỗ học vấn thì không thể luận bàn nghĩa lý.
3. Học rộng mà đạo đức chưa thành tựu.
4. Không hiểu biết, không đạo đức.
Lại có bốn pháp:
1. Ban đầu do Pháp Sư, thọ nhận lời dạy của Pháp Sư mà biết nghĩa, hiểu pháp.
2. Tuy hiểu nghĩa nhưng chẳng thể đạt được chỗ nhiệm mầu.
3. Phân biệt được pháp cạn chứ chẳng thể đến chỗ sâu xa.
4. Chẳng biết ý nghĩa, cũng chẳng hiểu rõ.
Học pháp như thế là đã tập hạnh khổ sở vô ích. Ví như hai người đều chẳng biết bơi lội bị rơi vào chỗ nước sâu, muốn cứu nhau thoát khỏi, nhưng lại bị chết chìm.
Ví như người mù dắt người đui muốn đến nơi nào đó, giữa đường mờ mịt, chẳng tới nơi được. Người chẳng biết nghĩa, cũng chẳng thông tuệ mà muốn thuyết pháp, muốn cứu độ người, cũng giống như thế.
Bài tụng rằng:
Ví như người học rộng
Điều thiện nhiều vô số
Đã đạt Ba la mật
Như người vượt biển lớn.
Nếu người như thật tịnh
Nhưng không có trí tuệ
Chỉ nắm được điều chính
Chẳng thể đạt nghĩa sâu.
Nếu người tập vào đạo
Tùy thuận chẳng trái luật
Luôn luôn kính thọ giáo
Như vậy có tỉnh thức.
Như gần bậc tôn quý
Chắc chắn được lợi nhiều
Người học đạo tu hành
Mà cầu hiểu biết nghĩa.
Thì chỉ hiểu nghĩa thôi
Chẳng thể đạt thâm diệu
Như người ăn canh không
Chẳng có hạt cơm nào.
Như theo thầy học nghĩa
Chẳng rõ biết lý mầu
Chẳng thể hiểu đại đạo
Chẳng đạt tuệ chân chánh.
Giả sử chẳng vào đạo
Chẳng thể phân biệt nói
Chẳng hiểu rõ trí tuệ
Không nghĩa, chẳng biết gì.
Như mù muốn dẫn đui
Chẳng thể đi đâu được
Không nghĩa cũng không trí
Cũng giống như vậy thôi.
Người tu hành có ba hạng:
1. Thân hành đạo mà tâm chẳng làm theo.
2. Tâm hành đạo nhưng thân chẳng theo.
3. Thân tâm đều hành đạo.
Thế nào là thân hanh đạo mà tâm chẳng theo?
Giả sử người tu hành ngồi kiết già ngay ngắn, như cây đứng yên chẳng từng dao động, tuy biểu hiện tướng này, nhưng nội tâm buông thả, luôn nghĩ về sự trơn láng, mịn màng của sắc, thanh, hương, vị, điều cần sửa đổi thì chẳng sửa đổi, mong cầu tất cả, tâm buông lung, chẳng được tự tại.
Ví như thây chết vất ở bãi tha ma, hổ lang, cầm thú, chim, chó, cáo, tranh nhau ăn thịt, thân định, tâm loạn, cũng giống như vậy. Đây là hạng người tu hành đạo đức mà thân định, tâm loạn.
Bài tụng rằng:
Kiết già, ngồi ngay thẳng
Bất động như Thái Sơn
Nhưng trong tâm mê loạn
Giống như voi sa vực.
Người tu hành như vậy
Thân định mà tâm loạn
Giống như hoa trái mùa
Không tạo quả mà rụng.
Thế nào là người tu hành có tâm hợp với đạo mà thân chẳng theo?
Thân chẳng ngồi thẳng mà thành tựu bốn ý chỉ, bốn niệm xứ khi ấy tâm tuy định mà thân chẳng ngồi yên.
Bài tụng rằng:
Nếu như tâm tánh tự điều hòa
Trụ bốn ý chỉ, không tướng khác
Khi ấy gọi là bốn ý chỉ
Tuy thân chẳng định tâm chẳng loạn.
Thế nào gọi là người tu hành, thân tâm đều định?
Than ngồi ngay thẳng, tâm chẳng buông thả. Các căn đều tĩnh lặng, chẳng giong ruổi theo các duyên bên ngoài. Ngay khi ấy, thân tâm đều định, hoàn toàn chẳng lay động, do đó biết là thân tâm đều định.
Bài tụng rằng:
Thân và tâm đều định
Trong, ngoài chẳng buông thả
Tĩnh lặng, ngồi kiết già
Như trụ vững, khó lay.
Thấy sự thật sinh tử
Như nước xoáy vây bờ
Thân và tâm tương ưng
Mau thành đạo, đắc quả.
Người tu hành chuyên cần tinh tấn, tu đạo không động chuyển, như vậy mau đạt đến Niết Bàn tịch tĩnh.
Bài tụng rằng:
Giảng thuyết bao nhiêu nghĩa chính yếu
Như sữa, mật trộn vào thức ăn
Người không dua nịnh, thường theo pháp
Dùng giáo pháp Phật tự điều hòa.
***
Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Năm - Phẩm Mười Bảy - Phẩm Tham Hành - Phần Hai
Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Ba - Phẩm Ba Mươi Mốt - Phẩm Tuyên Hóa - Phần Ba
Phật Thuyết Kinh Phóng Quang Bát Nhã - Phẩm Hai Mươi Hai - Phẩm Hỏi Về Phát Sinh Thừa
Phật Thuyết Kinh Bảo Nữ Sở Vấn - Phẩm Bảy - Phẩm Bốn điều Không Sợ
Phật Thuyết Kinh đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm - Phẩm Năm - Phẩm Hoa Tạng Thế Giới - Phần Một
Phật Thuyết Kinh đại Bảo Tích - Pháp Hội Thứ Năm Mươi Chín - Pháp Hội Hư Không Mục - Phần Tám
Phật Thuyết Kinh Bách Dụ - Kinh Thứ Mười Một - Kinh Giết Con Tỏ đức