Phật Thuyết Kinh Pháp Tối Thượng Vương - Phần Một
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Xà Na Quật Đa, Đời Tùy
PHẬT THUYẾT KINH
PHÁP TỐI THƯỢNG VƯƠNG
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư
Xà Na Quật Đa, Đời Tùy
PHẦN MỘT
Khi Thuyết Pháp này, Đức Thế Tôn ở Tinh Xá Ca Lan Ðà, rừng Trúc Lâm, cùng với chúng đại Tỳ Kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị do cựu bối tóc Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp dẫn đầu, đều chứng A La Hán, các lậu đã tận.
Những việc cần làm đã làm, đặt bỏ gánh nặng xuống được tự lợi, chấm dứt kiết sử, tâm chánh trí, giải thoát, đến bờ bên kia một cách tự tại, chỉ trừ một vị, đó là Mạng Giả A Nan Ðà.
Lúc ấy vào ngày mười năm, Đức Thế Tôn ngồi Bố tát giữa đất trống, chúng Tỳ Kheo cung kính vây quanh, hướng về phía Phật.
Có một Tỳ Kheo mới xuất gia chưa bao lâu, được thọ giới cụ túc, đến chỗ Phật đảnh lễ sát chân Ngài, nhiễu phải ba vòng chắp tay bạch: Bạch Thế Tôn! Con mới xuất gia, ngày nay được thọ giới.
Xin Ngài vì con thuyết giảng, vì sao thọ thức ăn ở tụ lạc gọi là thiện thực?
Vì sao thọ thực rồi là được phước điền thanh tịnh, sẽ được lợi ích bậc nhất.
Tỳ Kheo ấy nói kệ:
Con chỉ mới xuất gia
Ngày nay thọ cụ túc
Thế Tôn vì con thuyết
Làm sao được tịnh thí
Con vì đạo tu hành
Bỏ nhà đến không nhà
Tịnh thí là như vậy
Vì con thuyết nghĩa này.
Phật dạy Tỳ Kheo: Thầy hãy khéo nghe và khéo chánh niệm. Ta sẽ thuyết cho thầy. Tỳ Kheo không hư dối, thọ thức ăn tụ lạc, tịnh thí rồi thọ thực. Cho nên thiện nam, thiện nữ bỏ nhà đến chốn không nhà, tu hành hạnh vô thượng, sẽ được cứu cánh thù thắng.
Tỳ Kheo như vậy là gia nhập trong Chúng Tăng, hành động theo Tăng và dự lợi dưỡng của Tăng. Ðầy đủ ba pháp này, không uổng thọ thức ăn tụ lạc, tịnh thí rồi thọ thực, được lợi ích đệ nhất.
Thế Tôn nói kệ:
Chúng sanh nhập Chúng Tăng
Nhớ nghĩ hành động Tăng
Ðược hưởng lợi của Tăng
Ðược phước đức tịnh thí.
Tỳ Kheo bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Nay con nghe Phật thuyết giáo nghĩa sơ lược như vậy, không hiểu rõ nghĩa này.
Bạch Thế Tôn! Vì sao Tỳ Kheo nhập trong Chúng Tăng dự vào hành động của Tăng và dự lợi dưỡng của Tăng.
Tỳ Kheo thuyết kệ:
Vì sao nhập Chúng Tăng
Mà thấy hành động Tăng
Vì con thuyết lợi ích
Nghe rồi con hiểu rõ.
Phật dạy Tỳ Kheo: Chú tâm lắng nghe. Ta thuyết cho thầy rõ về Tăng, hành động Tăng và lợi ích Tăng.
Tỳ Kheo bạch: Bạch Thế Tôn! Con rất muốn nghe điều đó.
Phật dạy: Sao gọi là Tăng?
Tăng là những người đủ bốn đôi tám vị nên gọi là Tăng. Nên khéo dâng thức ăn và chắp tay hướng về các vị ấy. Ðây là nơi được bố thí, thanh tịnh gọi là phước điền. Các Trời và người đều cúng dường.
Thế Tôn nói kệ:
Nay ta nói về người
Ðủ bốn đôi tám vị
Các vị ấy là Tăng
Ðược phước điền vô thượng.
Tỳ Kheo! Sao gọi là hành động của Tăng?
Hành động của Tăng ấy là bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy phần giác ngộ, tám Thánh đạo. Ðó là hành động của Tăng.
Thế Tôn thuyết kệ:
Siêng cầu đạo tối thắng
Gọi là tám Thánh đạo
Chánh nghiệp của vị Tăng
Ðược ta thuyết như vậy.
Tỳ Kheo! Sao gọi là lợi dưỡng của Tăng. Ðiều lợi dưỡng của Tăng là bốn quả Sa Môn.
Những gì là bốn?
1. Quả Tu Ðà Hoàn.
2. Quả Tư Ðà Hàm.
3. Quả A Na Hàm.
4. Quả A La Hán.
Ðây là điều đại lợi dưỡng của Tăng.
Thế Tôn thuyết kệ:
Thân lớn lợi ích lớn
Những vị Tăng như thế
Ðược bốn quả Sa Môn
Thanh tịnh trong phước thí.
Tỳ Kheo bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Theo điều Thế Tôn thuyết về gia nhập trong Chúng Tăng, dự vào hành động Tăng và dự lợi dưỡng của Tăng, người kia khéo thọ thực của tín thí ở tụ lạc, tịnh thí rồi thọ thực, được phước đức lợi ích bậc nhất.
Bạch Thế Tôn! Nếu lại có người phát tâm nơi ðại thừa, vì trí biến tri mà bỏ nhà xuất gia.
Những vị đó có dự vào trong Tăng không?
Dự vào hành động của Tăng không?
Dự vào lợi dưỡng của Tăng không?
Phật dạy: Lành thay! Tỳ Kheo! Thầy đối với Như Lai Chánh Biến Tri mới có thể suy niệm để hỏi nghĩa này.
Tỳ Kheo! Thầy là người biện tài thù thắng và có sự kiết tường lớn lao mới khéo hỏi nghĩa này.
Tỳ Kheo! Thầy khéo tư duy nên mới hỏi Như Lai nghĩa này.
Tỳ Kheo! Những điều này đều nhờ oai lực của Phật, khiến cho thầy phát sanh biện tài như vậy, muốn hỏi nghĩa này, cũng do nghiện lực từ xưa của thầy mới hỏi được như vậy.
Thế nên Tỳ Kheo! Hãy khéo lắng nghe, khéo suy niệm, ta sẽ thuyết cho thầy.
Tỳ Kheo bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Lành thay! Nay con muốn nghe.
Phật dạy: Tỳ Kheo! Ý thầy thế nào?
Người kia phát tâm Đại Thừa vì trí biến tri, bỏ nhà xuất gia.
Người đó có dự vào trong Tăng không?
Dự hành động Tăng không?
Ðược lợi dưỡng của Tăng không?
Tỳ Kheo! Chúng sanh kia không được gia nhập trong Tăng, hành động, lợi dưỡng của Tăng cũng không được dự.
Thế Tôn thuyết kệ:
Người kia phát bồ đề
Không dự hàng Chúng Tăng
Hành động của Chúng Tăng
Lợi dưỡng cũng không dự.
Tỳ Kheo bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Vì lý do gì mà người kia xuất gia, nghe sự hưởng thọ thức ăn tụ lạc, nhưng không dự trong hàng Tăng, hành động, lợi dưỡng của Tăng cũng không dự?
Bạch Thế Tôn! Vì sao những hạng người kia có thể tịnh thí phước điền, nhưng không dự vào trong Tăng, hành động và lợi dưỡng của Tăng đều cũng không được dự?
Phật dạy: Tỳ Kheo! Thầy cần gì phải hỏi điều không nên hỏi.
Tỳ Kheo bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Người kia làm sao có thể tịnh thí phước điền?
Phật dạy: Tỳ Kheo! Thầy cần gì phải hỏi điều không nên hỏi.
Tỳ Kheo lại bạch: Bạch Thế Tôn! Người kia không dự vào trong Tăng, hành động và lợi dưỡng của Tăng cũng không được dự làm sao có thể tịnh thí phước điền?
Bấy giờ, Thế Tôn thấy Tỳ Kheo kia thỉnh cầu ba lần, liền mỉm cười, hiện thần thông. Dựa vào loại thần thông mà biến hiện, tướng lông giữa chặn mày phát ra hào quang lớn. Hào quang đó lại có vô lượng trăm ngàn loại màu sắc khác nhau.
Thần lực của hào quang chiếu khắp ba ngàn đại thiên Thế Giới, cho đến chúng sanh ở trong biển lớn. Ai chưa từng thấy nghe hào quang này, nay mới thấy cho nên kinh hãi rợn tóc gáy. Trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng cũng đều một suy nghĩ này.
Do thần lực của Phật, nên biết hào quang này phát từ giữa chặn mày của Phật, thấy hào quang này rồi ai cũng kinh hãi rợn tóc gáy.
Ở Ba Ngàn Đại Thiên Thế Giới Trời Tứ Thiên Vương cho đến Trời Sắc Giới, Vô Sắc Giới, đều đến Tinh Xá Ca Lan Ðà, Vườn Trúc Lâm, thành Vương Xá.
Ðến rồi đảnh lễ sát chân Phật, nhiễu phải vô lượng trăm ngàn vòng, đứng trước Phật, chắp tay cúi cong mình chánh niệm cung kính, không động không dựa, mắt chưa hề nháy, sanh tâm tôn trọng, tâm ái kính, tâm hoan hỷ, tâm sung sướng, tâm kham nhẫn, tâm nhu nhuyến, tâm thanh tịnh, tâm không chướng ngại. Rất muốn nghe pháp đứng sang một bên.
Khi ấy Ba Ngàn Đại Thiên Thế Giới, có đại thần lực của Chư Thiên, Các Rồng, Dạ Xoa, La Sát, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lầu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, loài người và không phải loài người.
Chủ loài Trời, chủ loài Rồng, chủ Dạ Xoa, chủ Càn Thát Bà, chủ A Tu La, chủ Ca Lầu La, chủ Khẩn Na La, chủ Ma Hầu La Già, chủ loài người và chủ không phải loài người. Từ dưới đất cho đến trên cao, không một chỗ nào mà không tràn đầy.
Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di của ba ngàn đại thiên Thế Giới và đủ loài chúng sanh sống trên mặt đất của các thế gian, nhờ thần lực Phật đều thấy hào quang Phật, lòng kinh hãi rợn tóc gáy. Ví như trượng phu có sức mạnh, co duỗi cánh tay trong chốc lát.
Cũng vậy, nhờ thần lực của Phật, chỉ trong một niệm hướng về Tinh Xá Ca Lan Ðà, rừng Trúc Lâm thành Vương Xá mà đến đảnh lễ sát chân Phật, nhiễu quanh phải ba vòng, đứng trước Phật chắp tay chánh niệm, cúi mình cung kính, sanh tâm tôn trọng, tâm kính yêu, tâm hoan hỷ, tâm vui mừng, tâm kham nhẫn, tâm nhu nhuyến, tâm thanh tịnh, tâm không chướng ngại. Chiêm ngưỡng Thế Tôn mắt chưa từng tạm dừng. Thân đó không động rồi đứng một bên.
Ba ngàn đại thiên Thế Giới này hoặc trong ngoài thành và chỗ bị che khuất, có sông lớn nhỏ, từ nguồn xuất phát các dòng nước, đều chảy thuận dòng, âm thanh nhẹ nhàng.
Lại ở bên trong, các chỗ bị ngăn che trong hư không, đủ loại chim đều cất tiếng hát véo von. Nhờ thần lực của Phật, các âm thanh đều hòa hợp tương ưng. Voi, ngựa, trâu, dê cho đến trâu núi, trâu nước, nhờ thần lực của Phật đều ở yên chỗ mình.
Các chúng sanh sống ở biển, nhờ thần lực của Phật, mỗi loài tự phân chỗ sống không xúc não nhau. Chư Thiên ở Thế Giới này nhờ thần lực của Phật đều đứng im lặng, âm thanh Cõi Trời cũng không vang.
Chúng sanh ở các cõi ác, tính độc ác mạnh mẽ, cho đến các loại chống đối nhau, cũng được an lạc. Đều nhờ thần lực của Phật, chỉ trong một niệm mà tất cả đều thương mến nhau giống như bạn thân, tâm được lợi ích, tâm an lạc, tâm nhu nhuyến, tâm tạo tác hành động, tâm hoan hỷ.
Tâm thanh tịnh, tâm không chướng ngại, dáng dấp, mặt mày tươi vui, lời nói nhẹ nhàng không nhanh không thô, nói ra điều gì cũng được mọi người yêu mến. Già trẻ, trung niên đều thích.
Ngay trong lúc này cả ba ngàn Thế Giới không có một tiếng tằng hắng. Nhờ thần lực của Phật, chúng sanh đều đứng im lặng. Gió thổi nhẹ nhàng mà thơm, chúng sanh thích thú đứng ngắm đều rất vui mừng, cũng không thổi động các cành cây hoa lá cỏ. Ðều nhờ thần lực của Phật, mới có việc như vậy.
Như bậc La Hán nhập vào định diệt tận không còn hơi thở ra vào. Các đại chúng đứng im lặng cũng như vậy. Vì chúng Tỳ Kheo kia nhờ vào sức công đức thù thắng đời trước hộ trì và nhờ sức công đức thù thắng của Phật hộ trì.
Bấy giờ, Mạng Giả Xá Lợi Phất biết mọi người đều im lặng, nương thần lực của Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo một bên, theo cách của Chúng Tăng, gối phải sát đất, chắp tay cúi cong mình, nhất tâm chiêm ngưỡng.
Vì muốn đại chúng được lợi ích an ổn, tâm thanh tịnh không chướng ngại, muốn được nghe pháp môn mà Tỳ Kheo kia hỏi Phật và lý do Đức Phật phóng hào quang và Chư Thiên loài người đều đến tập họp, bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Có nhơn duyên gì mà Như Lai mỉm cười và phóng hào quang. Hiện điềm tốt lành là có lý do. Cho đến Chư Thiên đều đến tập trung rất im lặng.
Xá Lợi Phất nói kệ:
Chư Phật tối thắng có nguyên nhân
Vì sao Ngài hiện tướng tốt lành?
Xin Thế Tôn mau thuyết nghĩa này
Vì sao Ngài hiện thần thông lớn
Hơn trăm ngàn chúng sanh
Và hơn na do tha
Ðều đến đây tập hợp
Vì thấy thần thông này
Thế Tôn vì cớ sao
Lại có nhơn duyên này
Trí Phật biết nghĩa đây
Do đâu người tập họp
Xin Thế Tôn thương con
Vì con thuyết nghĩa này
Chư Thiên và nhơn loại
Ðều khởi lòng tôn kính
Chắp tay hướng về Ngài
Chiêm ngưỡng Lưỡng Túc Tôn
Chư Thiên bỏ Cung Điện
Thiên Tử đều đến đây
Tôn trọng và nghe pháp
Chiêm ngưỡng Lưỡng Túc Tôn
Nên lìa bỏ cung Rồng
Vô lượng Rồng đều đến
Ngài nên thuyết lý do.
Nghĩa thần biến như vậy
Dạ Xoa bỏ Cung Điện
Nhiều Dạ Xoa đến đây
Nay Phật nên tuyên thuyết
Ý nghĩa thần biến này.
Xá Lợi Phất nói kệ rồi, đứng im lặng.
Thế Tôn thuyết kệ:
Là trượng phu phạm âm
Rống tiếng sấm vang động
Vì Xá Lợi Phất Thuyết
Nghĩa thần biến thế này
Có một tân Tỳ Kheo
Xuất gia thọ cụ túc
Tỳ Kheo ấy hỏi ta
Các hàng Ðại Bồ Tát
Vì sao khi xuất gia
Hành động như thế nào?
Thọ thức ăn tụ lạc
Sao gọi là tịnh thí
Xá Lợi, vì nghĩa đó
Hào quang giữa chặn mày
Phóng oai đức rộng lớn
Chiếu khắp cả Thế Giới
Chính vì lý do này
Chư thiên đến tập họp
Chắp tay rất cung kính
Chiêm ngưỡng Lưỡng Túc Tôn
Xá Lợi, chính ý này
Rồng, Dạ Xoa đều đến
Mây sấm chớp nổi tan
Ðến chỗ của Như Lai
Xá Lợi, chính vì thế
Nhiều chúng sanh tập trung
Ðều đắc A La Hán
Lậu tận đến Niết Bàn
Xá Lợi, vì nghĩa này
Vô số chúng tập họp
Nên phát tâm như vậy
Ðiều kiện đến Ðộc Giác
Xá Lợi Phất chính vậy
Nên tập họp đến đây
Mặc áo giáp trang nghiêm
Ở nơi trí huệ Phật
Xá Lợi Phất, chính vậy
Nhiều người đến tập họp
Không thối tâm đại thừa
Ðắc bồ đề tối thắng
Nghe ý nghĩa này rồi
Nên được Phật thọ ký
Rất nhiều người làm ác
Hối hận quyết không làm
Nghe thuyết nghĩa cú này
Ở đời mạt pháp sau
Ngàn ức số chúng sanh
Trụ nơi đạo tối thắng
Trừ Bồ Tát đã chứng
Ở đời mạt pháp sau
Nếu trì được Kinh này
Trọn không có việc ấy
Trừ Bồ Tát đã chứng
Ở đời mạt pháp sau
Nếu ai nghe Kinh này
Vô trí, không tin tưởng
Chúng sanh kia tin ít
Không thể phát bồ đề
Nếu khi nghe Kinh này
Vô số người nghi hoặc
Nếu không tin Kinh này
Thường ở trong sanh tử
Ðịa ngục là chỗ đi
Súc sanh là vườn rừng
Ở Cõi Trời cõi người
Không có phần vị ấy
Không phá hoại Kinh này
Ở đời mạt pháp sau
Chư Thiên và nhân loại
Ðều chứng A La Hán
Nếu thuyết những điều trên
Mà sanh tâm nghi hoặc
Chứng được đạo Ðộc Giác
Ở khắp mười phương cõi
Nếu thuyết những điều trên
Tâm không sanh nghi ngờ
Không có không tu thiện
Ðược nghe thuyết như vậy
Nếu thành tựu nghĩa này
Mới nghe được đạo này
Vì các hàng Bồ Tát
Ta thuyết Kinh pháp này
Trong chúng tu hành rồi
Sẽ thành Lưỡng Túc Tôn.
Thế Tôn dạy Xá Lợi Phất: Vị Tỳ Kheo kia mới xuất gia chưa được bao lâu.
Ngày nay được thọ giới, đến hỏi ta: Người phát tâm đại thừa, làm sao hưởng thọ thức ăn tụ lạc mà gọi là thiện thực. Thọ thực rồi có thể làm phước điền cho thí chủ.
Xá Lợi Phất! Vị Tỳ Kheo kia hỏi nghĩa này nên vô lượng A tăng kỳ, trăm ngàn na do tha chúng sanh đến đây tập họp đều muốn nghe ta thuyết nghĩa này.
Xá Lợi Phất! Nay ta muốn giải thích, trình bày, phân biệt nghĩa này để cho người kém cỏi được dễ hiểu, vô lượng chúng sanh được lợi ích lớn.
Xá Lợi Phất bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Nay đã đúng thời, xin Ngài vì con giảng thuyết.
Phật dạy: Xá Lợi Phất! Nếu khi thuyết nghĩa này, có chúng sanh tâm mê muội là vì sao?
Vì vị đại thí chủ đó không có thể suy nghĩ về bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Bậc rống tiếng Đại Sư Tử không thể tư nghì. Ðại chúng sanh này không thể suy nghĩ về pháp. Các phàm phu và nhị thừa đó không thể phân biệt, tin tưởng, thâm nhập, hiểu biết, chỉ trừ Ðại Bồ Tát bất thối.
Xá Lợi Phất! Ta thấy việc này, nên ba lần Tỳ Kheo kia thỉnh cầu mà vẫn im lặng không đáp.
Xá Lợi Phất lại bạch: Bạch Thế Tôn! Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, xin Ngài vì con giảng thuyết, để nhiều chúng sanh được lòng tin chân chánh.
Phật dạy: Xá Lợi Phất! Nếu khi ta giảng thuyết nghĩa này chúng sanh mê muội, vì sao?
Vì bố thí các pháp đều bất khả tư nghì, cho đến ta thấy điều này cho nên tuy thầy thỉnh ba lần, mà vẫn im lặng không thuyết.
Xá Lợi Phất lại bạch: Bạch Thế Tôn! Vì lợi ích an lạc nhiều chúng sanh vì từ bi thương xót họ, cúi xin Ngài vì con thuyết nghĩa trên. Ở đời vị lai, có Ðại Bồ Tát nào phát tâm đại thừa, nghe nghĩa này sanh lòng yêu kính tôn trọng, sẽ được chánh tín tu hành nhiều nghiệp thiện, mặc áo giáp nhẫn nhục để tự trang nghiêm thân mình.
Bấy giờ, Thế Tôn thấy Xá Lợi Phất ba lần cung thỉnh, dạy Xá Lợi Phất rằng: Ðại Bồ Tát không cần tịnh thí.
Vì sao?
Ðại Bồ Tát từ lúc mới phát tâm cho đến thành đạo, hoàn toàn thường tịnh thí.
Vì sao?
Vì Ðại Bồ Tát thành tựu phước điền cho các chúng sanh nên các chúng sanh nhờ đó được đầy đủ an lạc, dù cúng dường Bồ Tát cũng không thể báo được ân của Bồ Tát.
Thế Tôn thuyết kệ:
Giả sử như có người
Phát tâm cầu Phật trí
Mới phát tâm đến nay
Là ở trong tịnh thí
Còn nếu như có người
Phát tâm cầu Phật Đạo
Không cần tu tịnh thí
Vì vốn đã tịnh rồi
Chư Thiên và loài người
Thường siêng năng tinh tấn
Bậc dũng kiện vây giữ
Trí huệ Ðại Bồ Tát
Cõi của Trời và người
Ðều do Bồ Tát thành
Bậc trí phát nhất tâm
Ðã thanh tịnh các thí
Không bám dục và sắc
Cùng Cõi Vô Sắc Giới
Bằng tâm không chấp trước
Các thí đều thanh tịnh.
Thế Tôn dạy Xá Lợi Phất: Xá Lợi Phất! Ta sẽ dùng ví dụ để thầy hiểu rõ nghĩa này.
Vì sao?
Vì ta thuyết ví dụ là để cho người có trí hiểu rõ nghĩa này một cách chơn chánh.
Xá Lợi Phất! Giả sử như có Bồ Tát hưởng thọ y phục của chúng sanh cúng dường nhiều khắp cả cõi Diêm Phù. Từ lúc mới phát tâm ngày nào cũng thọ dụng. Y phục như vậy đều có thể tịnh thí.
Vì sao?
Vì Bồ Tát đó là phước điền vô thượng đối với các chúng sanh.
Xá Lợi Phất! Ví như có Bồ Tát hưởng thọ thức ăn của chúng sanh cúng dường lớn như núi Tu Mê Lưu, từ lúc phát tâm ngày nào cũng thọ dùng. Thức ăn như vậy đều có thể tịnh thí.
Vì sao?
Vì Bồ Tát đối với các chúng sanh là phước điền vô thượng.
Xá Lợi Phất! Ví như có Bồ Tát hưởng thọ sàng tòa của chúng sanh cúng dường nhiều khắp cả bốn châu thiên hạ, cao như núi Tu Mê Lưu, cũng như núi đó mà đem bảy báu đến để trang sức, dùng thiên y trải lên, y đó rất mềm mại nhu nhuyến. Từ lúc mới phát tâm ngày nào cũng thọ dụng. Sàng tòa vi diệu như vậy đều có thể tịnh thí.
Vì sao?
Vì Bồ Tát phước điền vô thượng đối với các chúng sanh.
Xá Lợi Phất! Nếu như có cung điện nhà lầu quí báu, cửa sổ của nhiều nhà lầu ấy trang hoàng bằng cờ, lọng, chuông, rèm đủ loại màu sắc. Có bảy lớp tường bao quanh giống như Cung Điện ở Cõi Trời Tha Hóa Tự Tại cũng có vô lượng cây Kiếp Ba, cây âm nhạc, cây hương hoa quả, cây anh lạc, mỗi mỗi nơi đều trưng bày vô số bình xông hương, đủ các loại hoa, ao thì đầy nước bát phần, đẹp mà lại trong vắt không cấu uế không bùn nhơ.
Hoa thì che trên, dưới đáy thì cát vàng màu nước trong suốt giống như ngọc Lưu Ly, lan can bảy báu bao bọc xung quanh bảy vòng.
Bốn hướng chính đều có lối đi, treo các loại tơ lụa và để bình báu, đủ màu sắc rất đẹp. Trong đó có vô lượng trăm ngàn na do tha tòa bằng bảy báu, Ðông, Tây, Nam, Bắc đều trải tòa, đốt hương, rải hoa, dùng màn báu che lên.
***
Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Năm - Phẩm Mười Bảy - Phẩm Tham Hành - Phần Hai
Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Ba - Phẩm Ba Mươi Mốt - Phẩm Tuyên Hóa - Phần Ba
Phật Thuyết Kinh Tiểu Bộ - Tập Năm - Kinh Tập - Chương Bốn - Phẩm Tám - Kinh Tranh Luận
Phật Thuyết Kinh Trung Bộ - Kinh Nên Hành Trì, Không Nên Hành Trì - Phần Hai - Lời Giảng đầu Tiên
Phật Thuyết Kinh Cựu Tạp Thí Dụ - Phần Ba Mươi Sáu
Phật Thuyết Kinh Cựu Tạp Thí Dụ - Phần Năm Mươi Tám
Phật Thuyết Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ - Phẩm Ba - Phẩm địa Ngục - Tập Mười Chín
Phật Thuyết Kinh Tiểu Bộ - Tập Tám - Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương Bảy - Phẩm Bảy Kệ
Phật Thuyết Kinh Chư Pháp Vô Hành - Phần Ba
Phật Thuyết Kinh Trung A Hàm - Phẩm Mười Hai - Phẩm Phạm Chí - Kinh Toán Số Mục Kiền Liên