|
Tạng Luật -
Bộ Phân Tích Giới Bổn
Vinaya Pitaka -
Suttavibhanga
Phân Tích Giới Tỳ-khưu - II
(Bhikkhuvibhanga II)
Tỳ-khưu Indacanda
Nguyệt Thiên dịch
Mục lục |
07a |
07b |
07c |
08a | 08b |
08c |
08d |
08e |
08f |
08g |
08h |
08i |
09 |
10 |
Phân tích Giới Tỳ-khưu I |
Phân tích Giới Tỳ-khưu Ni |
Giới thiệu
VIII. CHƯƠNG PĀCITTIYA (ƯNG ĐỐI TRỊ)
(tt)
PHẦN THẢO MỘC - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:
[354] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Āḷavī, nơi tháp thờ Aggāḷava. Vào lúc bấy giờ,
trong lúc thực hiện công trình mới, các tỳ khưu ở thành Āḷavī chặt cây
và bảo người chặt. Có vị tỳ khưu nọ ở thành Āḷavī chặt cây. Vị thiên
nhân ngụ ở trên cây ấy đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:
- Thưa ngài, ngài có ý định
làm chỗ ở cho mình thì xin ngài chớ phá hủy chỗ ở của chúng tôi.
Vị tỳ khưu ấy trong lúc không
lưu tâm đã chặt đi và đã đánh trúng cánh tay đứa bé trai của vị thiên
nhân ấy. Khi ấy, vị thiên nhân ấy đã khởi ý điều này: “Có lẽ ta nên
đoạt mạng sống của vị tỳ khưu này ngay tại nơi đây?” Rồi vị thiên
nhân ấy đã khởi ý điều này: “Việc ta đoạt mạng sống của vị tỳ khưu
này ngay tại nơi đây là không đúng đắn, có lẽ ta nên trình sự việc này
lên đức Thế Tôn?”
Sau đó, vị thiên nhân ấy đã
đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này thiên nhân, lành thay,
lành thay! Này thiên nhân, lành thay ngươi đã không đoạt lấy mạng sống
của vị tỳ khưu ấy. Này thiên nhân, nếu hôm nay ngươi đã đoạt lấy mạng
sống của vị tỳ khưu ấy, này thiên nhân ngươi đã gây ra nhiều sự vô
phước. Này thiên nhân, hãy đi, ở chỗ kia có thân cây mọc riêng biệt. Hãy
đi đến nơi ấy.
Dân chúng phàn nàn, phê phán,
chê bai rằng:
- Tại sao các sa-môn Thích tử
lại chặt cây và bảo người chặt? Các sa-môn Thích tử giết hại mạng sống
chỉ có một giác quan.
Các tỳ khưu đã nghe được
những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu ở thành
Āḷavī lại chặt cây và bảo người chặt?
Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. …(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi chặt cây và bảo người chặt, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi lại chặt cây và bảo người chặt vậy? Này những kẻ rồ dại, bởi
vì dân chúng nghĩ rằng có mạng sống ở trong thân cây. Này những kẻ rồ
dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)…
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Khi
phá hoại sự sống của thảo mộc thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[355] Thảo mộc nghĩa
là có năm sự sanh ra bởi mầm giống: mầm giống từ rễ, mầm giống từ thân,
mầm giống từ mắt chồi, mầm giống từ phần ngọn, mầm giống từ hạt là loại
thứ năm.
Mầm giống từ rễ nghĩa
là củ nghệ, củ gừng, cây vacā, cây vacattaṃ, cây ngải cứu,
cây lê lư (trị bệnh điên?), cây usīraṃ, cỏ bhaddamuttakaṃ,
hoặc là có các loại nào khác được sanh ra từ rễ, được nảy mầm từ rễ, vật
ấy được gọi là mầm giống từ rễ.
Mầm giống từ thân
nghĩa là cây sung, cây đa, cây pilakkha, cây udumbara, cây
tuyết tùng, cây kapiṭhana, hoặc là có các loại nào khác được sanh
ra từ thân, được nảy mầm từ thân, vật ấy được gọi là mầm giống từ thân.
Mầm giống từ mắt chồi
nghĩa là cây mía, cây tre, cây sậy, hoặc là có các loại nào khác được
sanh ra từ đoạn nối, được nảy mầm từ đoạn nối, vật ấy được gọi là mầm
giống từ mắt chồi.
Mầm giống từ phần ngọn
nghĩa là cây húng quế, cỏ lạc đà (phaṇijjakaṃ), cỏ thơm hiriveraṃ,
hoặc là có các loại nào khác được sanh ra từ phần ngọn, được nảy mầm từ
phần ngọn, điều ấy được gọi là mầm giống từ phần ngọn.
Mầm giống từ hạt nghĩa
là hạt lúa bắp, hạt rau cải, hoặc là có các loại nào khác được sanh ra
từ hạt, được nảy mầm từ hạt, vật ấy được gọi là mầm giống từ hạt là loại
thứ năm.
[356] Mầm giống, nhận biết là
mầm giống, vị chặt, hoặc bảo chặt, hoặc làm vỡ ra, hoặc bảo làm vỡ ra,
hoặc nấu, hoặc bảo nấu thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Mầm giống, có sự hoài nghi,
vị chặt, hoặc bảo chặt, hoặc làm vỡ ra, hoặc bảo làm vỡ ra, hoặc nấu,
hoặc bảo nấu thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Mầm giống, (lầm) tưởng không
phải là mầm giống, vị chặt, hoặc bảo chặt, hoặc làm vỡ ra, hoặc bảo làm
vỡ ra, hoặc nấu, hoặc bảo nấu thì vô tội.
Không phải mầm giống, (lầm)
tưởng là mầm giống, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không phải là mầm giống, có
sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không phải là mầm giống, nhận
biết không phải là mầm giống thì vô tội.
[357] Vị nói rằng: “Hãy
tìm vật này, hãy bố thí vật này, hãy mang lại vật này, có nhu cầu về vật
này, hãy làm vật này thành được phép,” không cố ý, khi thất niệm, vị
không biết, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ nhất.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ:
[358] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Kosambī, ở tu viện Ghosita. Vào lúc bấy giờ, đại
đức Channa tự mình hành xử sai nguyên tắc và trong lúc được xác định tội
ở giữa hội chúng lại phản kháng cách này hoặc cách khác (nói rằng):
- Ai đã vi phạm? Đã vi phạm
điều gì? Đã vi phạm ở đâu? Đã vi phạm thế nào? Ngươi nói ai? Ngươi nói
điều gì?
Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao đại đức Channa trong
lúc được xác định tội ở giữa hội chúng lại phản kháng cách này hoặc cách
khác (nói rằng): “Ai đã vi phạm? Đã vi phạm điều gì? Đã vi phạm ở
đâu? Đã vi phạm thế nào? Ngươi nói ai? Ngươi nói điều gì?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã hỏi đại đức
Channa rằng:
- Này Channa, nghe nói ngươi
trong lúc được xác định tội ở giữa hội chúng lại phản kháng cách này
hoặc cách khác (nói rằng): “Ai đã vi phạm? ...(như trên)... Ngươi nói
điều gì?” có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi
trong lúc được xác định tội ở giữa hội chúng lại phản kháng cách này
hoặc cách khác (nói rằng): “Ai đã vi phạm? ...(như trên)... Ngươi nói
điều gì?” Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho
những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)…
Sau khi khiển trách, ngài đã
thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, như thế
thì hội chúng hãy phán quyết tội nói tránh né đến tỳ khưu Channa. Và này
các tỳ khưu, nên phán quyết như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị
tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội
chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Channa này trong lúc được xác định tội
ở giữa hội chúng lại phản kháng cách này hoặc cách khác. Nếu là thời
điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên phán quyết tội nói tránh né
đến tỳ khưu Channa. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội
chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Channa này trong lúc được xác định tội
ở giữa hội chúng lại phản kháng cách này hoặc cách khác. Hội chúng phán
quyết tội nói tránh né đến tỳ khưu Channa. Đại đức nào đồng ý việc phán
quyết tội nói tránh né đến tỳ khưu Channa xin im lặng; vị nào không đồng
ý có thể nói lên.
Tội nói tránh né đã được
hội chúng phán quyết đến tỳ khưu Channa. Sự việc được hội chúng đồng ý
nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[359] Sau đó, đức Thế Tôn đã
khiển trách đại đức Channa bằng nhiều phương thức về sự khó khăn trong
việc cấp dưỡng, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Khi nói tránh né thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định
cho các tỳ khưu như thế.
[360] Vào lúc bấy giờ, trong
lúc được xác định tội ở giữa hội chúng, đại đức Channa (nghĩ rằng): “Trong
khi phản kháng cách này hoặc cách khác, ta sẽ vi phạm tội” nên đã im
lặng gây khó khăn cho hội chúng.
Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao đại đức Channa trong
lúc được xác định tội ở giữa hội chúng lại im lặng gây khó khăn cho hội
chúng?
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. …(như trên)… Khi ấy, đức Thế Tôn đã
hỏi đại đức Channa rằng:
- Này Channa, nghe nói ngươi
trong lúc được xác định tội ở giữa hội chúng đã im lặng gây khó khăn cho
hội chúng, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi
trong lúc được xác định tội ở giữa hội chúng lại im lặng gây khó khăn
cho hội chúng vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho
những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)…
Sau khi khiển trách, ngài đã
thuyết Pháp thoại và bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, như thế
thì hội chúng hãy phán quyết tội gây khó khăn đến tỳ khưu Channa. Và này
các tỳ khưu, nên phán quyết như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị
tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội
chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Channa này trong lúc được xác định tội
ở giữa hội chúng lại im lặng gây khó khăn cho hội chúng. Nếu là thời
điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên phán quyết tội gây khó khăn
đến tỳ khưu Channa. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội
chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Channa này trong lúc được xác định tội
ở giữa hội chúng lại im lặng gây khó khăn cho hội chúng. Hội chúng phán
quyết tội gây khó khăn đến tỳ khưu Channa. Đại đức nào đồng ý việc phán
quyết tội gây khó khăn đến tỳ khưu Channa xin im lặng; vị nào không đồng
ý có thể nói lên.
Tội gây khó khăn đã được
hội chúng phán quyết đến tỳ khưu Channa. Sự việc được hội chúng đồng ý
nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[361] Sau đó, đức Thế Tôn đã
khiển trách đại đức Channa bằng nhiều phương thức về sự khó khăn trong
việc cấp dưỡng, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Khi nói tránh né, gây khó khăn thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).”
[362] Nói tránh né
nghĩa là trong lúc được xác định sự việc hoặc tội ở giữa hội chúng, vị
không có ý định nói lên điều ấy, không có ý định khơi lại điều ấy, rồi
phản kháng cách này hoặc cách khác (nói rằng): “Ai đã vi phạm? Đã vi
phạm điều gì? Đã vi phạm ở đâu? Đã vi phạm thế nào? Ngươi nói ai? Ngươi
nói điều gì?” việc này nghĩa là nói tránh né.
[363] Gây khó khăn
nghĩa là trong lúc được xác định sự việc hoặc tội vi phạm ở giữa hội
chúng, vị không có ý định nói lên điều ấy, không có ý định khơi lại điều
ấy, rồi giữ im lặng và gây khó khăn cho hội chúng; việc này nghĩa là gây
khó khăn.
[364] Khi tội nói tránh né
chưa được phán quyết, trong lúc được xác định sự việc hay tội vi phạm ở
giữa hội chúng, vị không có ý định nói lên điều ấy, không có ý định khơi
lại điều ấy, rồi phản kháng cách này hoặc cách khác (nói rằng): “Ai
đã vi phạm? Đã vi phạm điều gì? Đã vi phạm ở đâu? Đã vi phạm thế nào?
Ngươi nói ai? Ngươi nói điều gì?” thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Khi tội gây khó khăn chưa
được phán quyết, trong lúc được xác định sự việc hay tội vi phạm ở giữa
hội chúng, vị không có ý định nói lên điều ấy, không có ý định khơi lại
điều ấy, rồi giữ im lặng và gây khó khăn cho hội chúng thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
[365] Khi tội nói tránh né đã
được phán quyết, trong lúc được xác định sự việc hay tội vi phạm ở giữa
hội chúng, vị không có ý định nói lên điều ấy, không có ý định khơi lại
điều ấy, rồi phản kháng cách này hoặc cách khác (nói rằng): “Ai đã vi
phạm? ...(như trên)... Ngươi nói điều gì?” thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Khi tội gây khó khăn đã được
phán quyết, trong lúc được xác định sự việc hay tội vi phạm ở giữa hội
chúng, vị không có ý định nói lên điều ấy, không có ý định khơi lại điều
ấy, rồi giữ im lặng và gây khó khăn cho hội chúng thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
[366] Hành sự đúng pháp, nhận
biết là hành sự đúng pháp, khi nói tránh né gây khó khăn thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Hành sự đúng pháp, có sự hoài
nghi, khi nói tránh né gây khó khăn thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị).
Hành sự đúng pháp, (lầm)
tưởng là hành sự sai pháp, khi nói tránh né gây khó khăn thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Hành sự sai pháp, (lầm tưởng)
là hành sự đúng pháp, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hành sự sai pháp, có sự hoài
nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hành sự sai pháp, nhận biết
là hành sự sai pháp thì vô tội.
[367] Vị không biết rồi hỏi,
vị bị bệnh rồi không nói, (nghĩ rằng): “Hội chúng sẽ có xung đột,
hoặc cãi cọ, hoặc tranh luận, hoặc tranh cãi” rồi không nói, (nghĩ
rằng): “Sẽ có sự chia rẽ hội chúng hoặc là sự bất đồng hội chúng”
rồi không nói, (nghĩ rằng): “Sẽ thực hiện hành sự hoặc là sai pháp,
hoặc là theo phe nhóm, hoặc là đến vị không xứng đáng với hành sự”
rồi không nói, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ nhì.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ BA:
[368] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc.
Vào lúc bấy giờ, đại đức Dabba Mallaputta phân bố chỗ trú ngụ và sắp xếp
các bữa ăn của hội chúng. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Mettiya và
Bhummajaka chỉ là các vị mới tu có phước báu ít ỏi. Các vị ấy thường
nhận được những chỗ trú ngụ kém thuộc về hội chúng và những bữa ăn tồi.
Các vị ấy phàn nàn về đại đức Dabba Mallaputta với các tỳ khưu rằng:
- Dabba Mallaputta phân bố
chỗ trú ngụ theo sự ưa thích và sắp xếp các bữa ăn theo sự ưa thích.
Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm
Mettiya và Bhummajaka lại phàn nàn về đại đức Dabba Mallaputta với các
tỳ khưu?
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn …(như trên)… đã
hỏi các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka rằng:
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi phàn nàn về Dabba Mallaputta với các tỳ khưu, có đúng không
vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi lại phàn nàn về Dabba Mallaputta với các tỳ khưu vậy? Này
những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều
học này như vầy: “Khi phàn nàn thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như
thế.
[369] Vào lúc bấy giờ, các tỳ
khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka (nghĩ rằng): “Việc phê phán đã bị đức
Thế Tôn cấm đoán, đã thế thì các tỳ khưu chỉ sẽ được nghe thôi” rồi
phê phán đại đức Dabba Mallaputta ở xung quanh các vị tỳ khưu rằng:
- Dabba Mallaputta phân bố
chỗ trú ngụ theo sự ưa thích và sắp xếp các bữa ăn theo sự ưa thích.
Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm
Mettiya và Bhummajaka lại phê phán đại đức Dabba Mallaputta?
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn …(như trên)… đã
hỏi các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka rằng:
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi phê phán Dabba Mallaputta, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi lại phê phán Dabba Mallaputta vậy? Này những kẻ rồ dại, sự
việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như
trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Khi phàn nàn, phê phán thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[370] Phê phán nghĩa
là vị có ý định làm mất thể diện, có ý định làm mất danh dự, có ý định
làm xấu hổ vị đã tu lên bậc trên được hội chúng chỉ định làm vị phân bố
chỗ trú ngụ, hoặc là vị sắp xếp bữa ăn, hoặc là vị phân chia cháo, hoặc
là vị phân chia trái cây, hoặc là vị phân chia thức ăn khô, hoặc là vị
phân chia vật linh tinh rồi phàn nàn hoặc phê phán vị đã tu lên bậc trên
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[371] Hành sự đúng pháp, nhận
biết là hành sự đúng pháp, khi phàn nàn phê phán thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Hành sự đúng pháp, có sự hoài
nghi, khi phàn nàn phê phán thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Hành sự đúng pháp, (lầm)
tưởng là hành sự sai pháp, khi phàn nàn phê phán thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
[372] Vị phàn nàn hoặc phê
phán người chưa tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị có ý định làm mất thể
diện, có ý định làm mất danh dự, có ý định làm xấu hổ vị đã tu lên bậc
trên không được hội chúng chỉ định làm vị phân bố chỗ trú ngụ
hoặc là vị sắp xếp bữa ăn, hoặc là vị phân chia cháo, hoặc là vị phân
chia trái cây, hoặc là vị phân chia thức ăn khô, hoặc là vị phân chia
vật linh tinh rồi phàn nàn hoặc phê phán với vị đã tu lên bậc trên hoặc
với người chưa tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị có ý định làm mất thể
diện, có ý định làm mất danh dự, có ý định làm xấu hổ người chưa tu lên
bậc trên được hội chúng chỉ định hoặc không được chỉ định làm vị phân bố
chỗ trú ngụ, hoặc là vị sắp xếp bữa ăn, hoặc là vị phân chia cháo, hoặc
là vị phân chia trái cây, hoặc là vị phân chia thức ăn khô, hoặc là vị
phân chia vật linh tinh, rồi phê phán hoặc phàn nàn với vị đã tu lên bậc
trên hoặc với người chưa tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Hành sự sai pháp, (lầm tưởng)
là hành sự đúng pháp, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hành sự sai pháp, có sự hoài
nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hành sự sai pháp, nhận biết
là hành sự sai pháp, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[373] Vị phàn nàn hoặc phê
phán vị (khác) đang hành động theo thói thường vì ưa thích, vì sân hận,
vì si mê, vì sợ hãi; vị bị điên; vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ ba.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ TƯ:
[374] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ nhằm lúc mùa lạnh, các tỳ khưu sắp đặt tọa cụ và ngọa cụ
ở ngoài trời rồi sưởi ấm thân hình. Khi thời giờ được thông báo, các vị
trong lúc rời đi đã không thu dọn cũng không bảo (người khác) thu dọn
vật ấy, rồi đã ra đi không thông báo. Tọa cụ và ngọa cụ trở nên ẩm ướt.
Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu sau khi
sắp đặt tọa cụ và ngọa cụ ở ngoài trời, trong lúc rời đi lại không thu
dọn cũng không bảo (người khác) thu dọn vật ấy, rồi lại ra đi không
thông báo khiến tọa cụ và ngọa cụ bị ẩm ướt?
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã hỏi các tỳ khưu
rằng:
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các tỳ khưu sau khi sắp đặt tọa cụ và ngọa cụ ở ngoài trời, trong lúc
rời đi không thu dọn cũng không bảo (người khác) thu dọn vật ấy, rồi ra
đi không thông báo khiến tọa cụ và ngọa cụ bị ẩm ướt, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này các tỳ khưu, vì sao
những kẻ rồ dại ấy sau khi sắp đặt tọa cụ và ngọa cụ ở ngoài trời, trong
lúc rời đi lại không thu dọn cũng không bảo (người khác) thu dọn vật ấy,
rồi lại ra đi không thông báo khiến tọa cụ và ngọa cụ bị ẩm ướt vậy? Này
các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức
tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Vị tỳ khưu nào sau khi tự trải ra hoặc bảo trải ra
giường, hoặc ghế, hoặc nệm, hoặc gối kê thuộc về hội chúng ở ngoài trời,
trong lúc rời đi không thu dọn cũng không bảo thu dọn vật ấy, hoặc ra đi
không thông báo thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” Và
điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[375] Vào lúc bấy giờ, các tỳ
khưu sau khi ngụ ở ngoài trời rồi mang cất tọa cụ và ngọa cụ lúc còn
sớm. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy đang mang cất tọa cụ và
ngọa cụ lúc còn sớm; sau khi nhìn thấy đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự
kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, trong tám
tháng thông thường không có mưa ta cho phép cất giữ tọa cụ và ngọa cụ ở
nơi mái che, hoặc ở gốc cây, hoặc ngay tại chỗ nào các con quạ hoặc chim
kên kên không phóng uế.
[376] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Thuộc về hội chúng
nghĩa là đã được dâng đến, đã được giao hẳn cho hội chúng.
Giường nghĩa là có bốn
loại giường: giường lắp ráp (masārako), giường xếp (bundikābaddho),
giường chân cong (kulirapādako), giường có chân tháo rời được
(āhaccapādako).
Ghế nghĩa là có bốn
loại ghế: ghế lắp ráp, ghế xếp, ghế chân cong, ghế có chân tháo rời
được.
Nệm nghĩa là có năm
loại nệm: nệm len, nệm bông vải, nệm vỏ cây, nệm cỏ, nệm lá.
Vật kê nghĩa là làm
bằng bông vải, hoặc làm bằng cây usīra, hoặc làm bằng cỏ muñja,
hoặc làm bằng cỏ pabbaja sau khi đã độn vào bên trong thì được
buộc lại.
Sau khi tự trải ra:
sau khi tự mình trải ra.
Sau khi bảo trải ra:
sau khi bảo người khác trải ra. Vị bảo người chưa tu lên bậc trên trải
ra thì trách nhiệm thuộc về vị ấy. Vị bảo người đã tu lên bậc trên trải
ra thì trách nhiệm thuộc về người trải ra.
Trong lúc rời đi không thu
dọn vật ấy: không tự mình thu dọn.
Cũng không bảo thu dọn:
không bảo người khác thu dọn.
Hoặc ra đi không thông báo:
không thông báo vị tỳ khưu, hoặc vị sa di, hoặc người giúp việc tu viện.
Vị vượt quá chỗ rơi của cục đất được ném đi bởi người nam (có sức mạnh)
bậc trung
[1]
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[377] Thuộc về hội chúng,
nhận biết là thuộc về hội chúng, sau khi trải ra hoặc bảo trải ra ở
ngoài trời, trong lúc rời đi lại không thu dọn cũng không bảo thu dọn
vật ấy, hoặc ra đi không thông báo thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị).
Thuộc về hội chúng, có sự
hoài nghi, sau khi trải ra hoặc bảo trải ra ở ngoài trời, trong lúc rời
đi lại không thu dọn cũng không bảo thu dọn vật ấy, hoặc ra đi không
thông báo thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Thuộc về hội chúng, (lầm)
tưởng là thuộc về cá nhân, sau khi trải ra hoặc bảo trải ra ở ngoài
trời, trong lúc rời đi lại không thu dọn cũng không bảo thu dọn vật ấy,
hoặc ra đi không thông báo thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Sau khi trải ra hoặc bảo trải
ra ở ngoài trời tấm lót nền hoặc vải phủ giường ghế hoặc thảm trải nền
hoặc thảm lót ngồi hoặc tấm da thú hoặc thảm chùi chân hoặc ghế kê chân,
trong lúc rời đi lại không thu dọn cũng không bảo thu dọn vật ấy, hoặc
ra đi không thông báo thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân, (lầm tưởng)
là thuộc về hội chúng, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân, có sự hoài
nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân, (lầm tưởng)
là thuộc về cá nhân (này) trong lúc lại thuộc về cá nhân khác, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân của mình thì
vô tội.
[378] Sau khi thu dọn rồi đi,
sau khi bảo thu dọn rồi đi, vị đi có thông báo, vị đi khi (các vật ấy)
đang còn được phơi nắng,[2]
(vật) đã được bất cứ ai chiếm hữu, trong những lúc có sự cố, vị bị điên,
vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ tư.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ NĂM:
[379] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư là bạn hữu. Các vị ấy
trong khi sống thì sống chung, trong khi ra đi thì ra đi chung. Các vị
ấy sau khi trải ra vật lót nằm ở trong trú xá thuộc về hội chúng, trong
lúc rời đi đã không thu dọn cũng không bảo (người khác) thu dọn vật ấy,
rồi đã ra đi không thông báo. Chỗ trú ngụ đã bị mối gặm nhấm.
Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm
Mười Bảy Sư sau khi trải ra vật lót nằm ở trong trú xá thuộc về hội
chúng, trong lúc rời đi lại không thu dọn cũng không bảo (người khác)
thu dọn vật ấy, rồi lại ra đi không thông báo khiến chỗ trú ngụ bị mối
gặm nhấm?
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã hỏi các tỳ khưu
rằng:
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư sau khi trải ra vật lót nằm ở trong trú xá
thuộc về hội chúng, trong lúc rời đi không thu dọn cũng không bảo (người
khác) thu dọn vật ấy, rồi ra đi không thông báo khiến chỗ trú ngụ bị mối
gặm nhấm, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này các tỳ khưu, vì sao
những kẻ rồ dại ấy sau khi trải ra vật lót nằm ở trong trú xá thuộc về
hội chúng, trong lúc rời đi lại không thu dọn cũng không bảo (người
khác) thu dọn vật ấy, rồi lại ra đi không thông báo khiến chỗ trú ngụ bị
mối gặm nhấm vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin
cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người
đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến
điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào sau khi tự trải ra hoặc bảo
trải ra vật lót nằm trong trú xá thuộc về hội chúng, trong lúc rời đi
không thu dọn cũng không bảo thu dọn vật ấy, hoặc ra đi không thông báo
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[380] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Trú xá thuộc về hội chúng
nghĩa là đã được dâng đến, đã được giao hẳn cho hội chúng.
Vật lót nằm nghĩa là
nệm, tấm lót nền, vải phủ giường ghế, thảm trải nền, thảm lót ngồi, tấm
da thú, tấm lót ngồi, tấm trải nằm, thảm cỏ, thảm lá.
Sau khi tự trải ra:
sau khi tự mình trải ra.
Sau khi bảo trải ra:
sau khi bảo người khác trải ra.
Trong lúc rời đi không thu
dọn vật ấy: không tự mình thu dọn.
Cũng không bảo thu dọn:
không bảo người khác thu dọn.
Hoặc ra đi không thông báo:
không thông báo vị tỳ khưu, hoặc vị sa di, hoặc người giúp việc tu viện.
Vị vượt quá hàng rào của tu viện được rào lại thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị). Vị vượt qua vùng phụ cận của tu viện không được rào lại
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[381] Thuộc về hội chúng,
nhận biết là thuộc về hội chúng, vị sau khi trải ra hoặc bảo trải ra vật
lót nằm, trong lúc rời đi lại không thu dọn cũng không bảo thu dọn vật
ấy, hoặc ra đi không thông báo thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Thuộc về hội chúng, có sự
hoài nghi, vị sau khi trải ra hoặc bảo trải ra vật lót nằm, trong lúc
rời đi lại không thu dọn cũng không bảo thu dọn vật ấy, hoặc ra đi không
thông báo thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Thuộc về hội chúng, (lầm)
tưởng là thuộc về cá nhân, vị sau khi trải ra hoặc bảo trải ra vật lót
nằm, trong lúc rời đi lại không thu dọn cũng không bảo thu dọn vật ấy,
hoặc ra đi không thông báo thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Sau khi trải ra hoặc bảo trải
ra vật lót nằm ở vùng phụ cận của trú xá hoặc trong phòng phục vụ hoặc ở
mái che hoặc ở gốc cây, trong lúc rời đi lại không thu dọn cũng không
bảo thu dọn vật ấy, hoặc ra đi không thông báo thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Sau khi trải ra hoặc bảo trải
ra giường hoặc ghế ở trong trú xá hoặc ở vùng phụ cận của trú xá hoặc
trong phòng phục vụ hoặc ở mái che hoặc ở gốc cây, trong lúc rời đi lại
không thu dọn cũng không bảo thu dọn vật ấy, hoặc ra đi không thông báo
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân, (lầm tưởng)
là thuộc về hội chúng, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân, có sự hoài
nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân, (lầm tưởng)
là thuộc về cá nhân (này) trong khi lại thuộc về cá nhân khác, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân của mình thì
vô tội.
[382] Sau khi thu dọn rồi đi,
sau khi bảo thu dọn rồi đi, vị đi có thông báo, (vật) đã được bất cứ ai
chiếm hữu, vị có dự tính sau khi đi đến nơi ấy rồi (nhắn tin về) hỏi, vị
bị cản trở bởi bất cứ điều gì, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị
vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ năm.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ SÁU:
[383] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư chiếm hữu các chỗ nằm tốt nhất;
các tỳ khưu trưởng lão bảo các vị ấy đứng dậy. Khi ấy, các tỳ khưu nhóm
Lục Sư đã khởi ý điều này: “Bằng phương kế gì chúng ta có thể sống
mùa (an cư) mưa ở chính nơi này?” Sau đó, các tỳ khưu nhóm Lục Sư
chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi nằm xuống (nghĩ rằng): “Người
nào bực bội thì sẽ ra đi.”
Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục
Sư lại chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi nằm xuống?
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. …(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi nằm xuống, có đúng
không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này các tỳ khưu, vì sao
những kẻ rồi dại ấy lại chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi nằm
xuống vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những
kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào ở trong trú xá thuộc về
hội chúng dầu biết vẫn chen vào (chỗ) của vị tỳ khưu đã đến trước rồi
nằm xuống (nghĩ rằng): ‘Người nào bực bội thì sẽ ra đi.’ Sau khi thực
hiện chỉ nguyên nhân ấy không điều nào khác thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị).”
[384] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Trú xá thuộc về hội chúng
nghĩa là đã được dâng đến, đã được giao hẳn cho hội chúng.
Biết nghĩa là vị biết
rằng: “Vị già cả;” vị biết rằng: “Vị bệnh;” vị biết rằng:
“Đã được hội chúng giao cho.”
Chen vào: là sau khi
lấn chiếm.
Nằm xuống: Sau khi
trải ra hoặc bảo trải ra chỗ nằm ở khu vực lân cận của giường hoặc của
ghế hoặc của lối vào hoặc của lối ra thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác). Vị nằm xuống hoặc ngồi xuống (ở chỗ ấy) thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Sau khi thực hiện chỉ
nguyên nhân ấy không điều nào khác: không có bất cứ nguyên nhân nào
khác khiến (vị ấy) chen vào rồi nằm xuống.
[385] Thuộc về hội chúng,
nhận biết là thuộc về hội chúng, vị chen vào rồi nằm xuống thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Thuộc về hội chúng, có sự
hoài nghi, vị chen vào rồi nằm xuống thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị).
Thuộc về hội chúng, (lầm)
tưởng là thuộc về cá nhân, vị chen vào rồi nằm xuống thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Vị trải ra hoặc bảo trải ra
chỗ nằm không thuộc khu vực lân cận của giường hoặc của ghế hoặc của lối
vào hoặc của lối ra thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị nằm xuống
hoặc ngồi xuống (chỗ ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị trải ra hoặc bảo trải ra
vật lót nằm ở vùng phụ cận của trú xá hoặc trong phòng phục vụ hoặc ở
mái che hoặc ở gốc cây hoặc ở ngoài trời thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Vị nằm xuống hoặc ngồi xuống (chỗ ấy) thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Thuộc về cá nhân, (lầm tưởng)
là thuộc về hội chúng, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân, có sự hoài
nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân, (lầm tưởng)
là thuộc về cá nhân (này) trong khi lại thuộc về cá nhân khác, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân của mình thì
vô tội.
[386] Vị đi vào khi bị bệnh,
vị đi vào vì lạnh hoặc vì nóng hoặc bị áp bức, trong những lúc có sự cố,
vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ sáu.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ BẢY:
[387] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư đang sửa chữa ngôi trú xá
lớn nọ ở vùng ven (nghĩ rằng): “Chúng ta sẽ sống mùa (an cư) mưa ở
đây.” Các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã nhìn thấy các tỳ khưu nhóm Mười Bảy
Sư đang sửa chữa ngôi trú xá, sau khi nhìn thấy đã nói như vầy:
- Này các đại đức, các tỳ
khưu nhóm Mười Bảy Sư này đang sửa chữa ngôi trú xá. Giờ chúng ta sẽ bảo
họ rút đi.
Một số vị đã nói như vầy:
- Này các đại đức, hãy chờ
đợi trong lúc họ đang sửa chữa. Khi đã được sửa chữa xong thì chúng ta
sẽ bảo họ rút đi.
Sau đó, các tỳ khưu nhóm Lục
Sư đã nói với các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư điều này:
- Này các đại đức, hãy đi đi,
trú xá được giao cho chúng tôi.
- Này các đại đức, sao lại
không nói cho biết trước, chúng tôi đã có thể sửa chữa cái khác?
- Này các đại đức, không phải
trú xá thuộc về hội chúng hay sao?
- Này các đại đức, đúng vậy,
trú xá thuộc về hội chúng.
- Này các đại đức, hãy đi đi,
trú xá được giao cho chúng tôi.
- Này các đại đức, trú xá thì
lớn, các vị ở được, thì chúng tôi cũng sẽ ở được.
- Này các đại đức, hãy đi đi,
trú xá được giao cho chúng tôi.
Rồi đã nổi giận, bất bình nắm
(các vị ấy) ở cổ lôi kéo ra ngoài. Trong lúc bị lôi kéo ra ngoài, các vị
ấy khóc lóc. Các tỳ khưu đã nói như vầy:
- Này các đại đức, vì sao các
vị khóc lóc vậy?
- Thưa các đại đức, những tỳ
khưu nhóm Lục Sư này nổi giận, bất bình rồi lôi kéo chúng tôi ra khỏi
trú xá thuộc về hội chúng.
Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)… Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục
Sư này khi nổi giận, bất bình lại lôi kéo các tỳ khưu ra khỏi trú xá
thuộc về hội chúng?
Sau đó, các tỳ khưu ấy đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã hỏi các tỳ khưu
nhóm Lục Sư rằng:
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi nổi giận, bất bình rồi lôi kéo các tỳ khưu ra khỏi trú xá
thuộc về hội chúng, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi khi nổi giận, bất bình lại lôi kéo các tỳ khưu ra khỏi trú xá
thuộc về hội chúng vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm
tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào nổi giận,
bất bình rồi lôi kéo hoặc bảo lôi kéo vị tỳ khưu ra khỏi trú xá thuộc về
hội chúng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[388] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Vị tỳ khưu: là vị tỳ
khưu khác.
Nổi giận, bất bình:
không được hài lòng, có tâm bực bội, sanh khởi lòng cay cú.
[389] Trú xá thuộc về hội
chúng nghĩa là đã được dâng đến, đã được giao hẳn cho hội chúng.
Lôi kéo ra: sau khi
nắm lấy ở trong phòng rồi lôi kéo ra phía trước thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị). Sau khi nắm lấy ở phía trước rồi lôi kéo ra
bên ngoài thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Với một lần ra
sức, mặc dầu kéo đi qua nhiều cánh cửa phạm (chỉ một) tội pācittiya
(ưng đối trị).
Bảo lôi kéo ra: vị ra
lệnh người khác thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Được ra
lệnh một lần, mặc dầu kéo đi qua nhiều cánh cửa (vị ra lệnh) phạm (chỉ
một) tội pācittiya (ưng đối trị).
[390] Thuộc về hội chúng,
nhận biết là thuộc về hội chúng, vị nổi giận bất bình rồi lôi kéo ra
hoặc bảo lôi kéo ra thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Thuộc về hội chúng, có sự
hoài nghi, vị nổi giận bất bình rồi lôi kéo ra hoặc bảo lôi kéo ra thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Thuộc về hội chúng, (lầm)
tưởng là thuộc về cá nhân, vị nổi giận bất bình rồi lôi kéo ra hoặc bảo
lôi kéo ra thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị lôi kéo ra hoặc bảo lôi
kéo ra vật dụng của vị kia thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị lôi kéo ra hoặc bảo lôi
kéo ra khỏi vùng phụ cận của trú xá, hoặc ra khỏi phòng phục vụ, hoặc ra
khỏi mái che, hoặc ra khỏi gốc cây, hoặc ra khỏi khuôn viên bên ngoài
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị lôi kéo ra hoặc bảo lôi kéo ra
vật dụng của vị kia thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị lôi kéo ra hoặc bảo lôi
kéo người chưa tu lên bậc trên ra khỏi trú xá, hoặc ra khỏi vùng phụ cận
của trú xá, hoặc ra khỏi phòng phục vụ, hoặc ra khỏi mái che, hoặc ra
khỏi gốc cây, hoặc ra khỏi khuôn viên bên ngoài thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Vị lôi kéo ra hoặc bảo lôi kéo ra vật dụng của vị kia thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân, (lầm tưởng)
là thuộc về hội chúng, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân, có sự hoài
nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân, (lầm tưởng)
là thuộc về cá nhân (này) trong khi lại thuộc về cá nhân khác, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân của mình thì
vô tội.
[391] Vị lôi kéo hoặc bảo lôi
kéo ra vị không biết hổ thẹn, vị lôi kéo hoặc bảo lôi kéo ra vật dụng
của vị kia; vị lôi kéo hoặc bảo lôi kéo ra vị bị điên, vị lôi kéo hoặc
bảo lôi kéo ra vật dụng của vị kia; vị lôi kéo hoặc bảo lôi kéo ra vị
thường gây nên các sự xung đột, hoặc vị thường gây nên các sự cãi cọ,
hoặc vị thường gây nên các sự tranh luận, hoặc vị thường gây nên các sự
nói chuyện nhảm nhí, hoặc vị thường gây nên các sự tranh tụng trong hội
chúng, vị lôi kéo hoặc bảo lôi kéo ra vật dụng của vị kia; vị lôi kéo
hoặc bảo lôi kéo ra người đệ tử hoặc người học trò không thực hành phận
sự đúng đắn, vị lôi kéo hoặc bảo lôi kéo ra vật dụng của vị kia; vị bị
điên; vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ bảy.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ TÁM:
[392] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, có hai vị tỳ khưu sống trong trú xá của hội chúng có
căn gác lầu, một vị ở bên dưới, một vị ở phía trên. Vị tỳ khưu ở trên đã
ngồi lên một cách vội vã trên chiếc giường loại có chân tháo rời được.
Chân giường đã rơi xuống và chạm vào đầu của vị tỳ khưu ở bên dưới. Vị
tỳ khưu ấy đã thét lên. Các tỳ khưu đã chạy lại và đã nói với vị tỳ khưu
ấy điều này:
- Này đại đức, vì sao đại
đức đã thét lên?
Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã kể
lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…,
các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao vị tỳ khưu lại ngồi
lên một cách vội vã trên chiếc giường loại có chân tháo rời được ở căn
gác lầu trong trú xá của hội chúng?
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã
trình sự việc lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã hỏi vị tỳ khưu ấy
rằng:
- Này tỳ khưu, nghe nói ngươi
ngồi lên một cách vội vã trên chiếc giường loại có chân tháo rời được ở
căn gác lầu trong trú xá của hội chúng, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi
lại ngồi lên một cách vội vã trên chiếc giường loại có chân tháo rời
được ở căn gác lầu trong trú xá của hội chúng vậy? Này kẻ rồ dại, sự
việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như
trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu nào ngồi lên hoặc nằm lên trên chiếc giường hoặc ghế loại
có chân tháo rời được ở căn gác lầu trong trú xá của hội chúng thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).”
[393] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Vị tỳ khưu: là vị tỳ
khưu khác.
Trú xá thuộc về hội chúng
nghĩa là đã được dâng đến, đã được giao hẳn cho hội chúng.
[394] Căn gác lầu
nghĩa là không đụng vào đầu của người đàn ông (có chiều cao) bậc trung.
Giường loại có chân
tháo rời được nghĩa là sau khi khoan lỗ rồi được gắn vào.
Ghế loại có chân tháo rời
được nghĩa là sau khi khoan lỗ rồi được gắn vào.
Ngồi lên: vị ngồi lên
trên chỗ ấy thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Nằm lên: vị nằm lên
trên chỗ ấy thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[395] Thuộc về hội chúng,
nhận biết là thuộc về hội chúng, vị ngồi lên hoặc nằm lên trên chiếc
giường hoặc ghế loại có chân tháo rời được ở căn gác lầu thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Thuộc về hội chúng, có sự
hoài nghi, vị ngồi lên hoặc nằm lên trên chiếc giường hoặc ghế loại có
chân tháo rời được ở căn gác lầu thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Thuộc về hội chúng, (lầm)
tưởng là thuộc về cá nhân, vị ngồi lên hoặc nằm lên trên chiếc giường
hoặc ghế loại có chân tháo rời được ở căn gác lầu thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Thuộc về cá nhân, (lầm tưởng)
là thuộc về hội chúng, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân, có sự hoài
nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân, (lầm tưởng)
là thuộc về cá nhân (này) trong khi lại thuộc về cá nhân khác, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Thuộc về cá nhân của mình thì
vô tội.
[396] Ở chỗ không phải là gác
lầu, ở gác lầu (thấp) bị va chạm vào đầu, nhà dưới không được sử dụng,
(gác lầu) đã được lót sàn, (giường ghế) đã được đóng đinh, vị đứng ở
trên chỗ ấy lấy xuống hoặc treo lên, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì
vô tội.
Dứt điều học thứ tám.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN:
[397] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Kosambī, ở tu viện Ghosita. Vào lúc bấy giờ, vị
quan đại thần người hộ độ cho đại đức Channa ra lệnh xây dựng trú xá cho
đại đức Channa. Khi ấy, lúc trú xá đã được làm hoàn tất, đại đức Channa
đã cho người lợp thêm ở mái nhiều lớp, tô trét thêm ở tường nhiều lớp,
khiến trú xá trở nên quá nặng nề rồi sụp đổ xuống. Sau đó, đại đức
Channa trong lúc gom góp cỏ và cây gỗ đã làm hư hỏng ruộng lúa mạch của
người bà-la-môn nọ. Khi ấy, người bà-la-môn ấy phàn nàn, phê phán, chê
bai rằng:
- Tại sao các ngài đại đức
lại làm hư hỏng ruộng lúa mạch của chúng tôi?
Các tỳ khưu đã nghe được
người bà-la-môn ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao lúc trú xá đã được
làm hoàn tất, đại đức Channa lại cho người lợp thêm ở mái nhiều lớp, tô
trét thêm ở tường nhiều lớp, khiến trú xá trở nên quá nặng nề rồi sụp đổ
xuống?
Sau đó, các tỳ khưu ấy đã
trình sự việc lên đức Thế Tôn. …(như trên)…
- Này Channa, nghe nói lúc
trú xá đã được làm hoàn tất ngươi còn cho người lợp thêm ở mái nhiều
lớp, tô trét thêm ở tường nhiều lớp, khiến trú xá trở nên quá nặng nề
rồi sụp đổ xuống, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này kẻ rồ dại, vì sao lúc
trú xá đã được làm hoàn tất, ngươi lại cho người lợp thêm ở mái nhiều
lớp, tô trét thêm ở tường nhiều lớp, khiến trú xá trở nên quá nặng nề
rồi sụp đổ xuống vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin
cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi
nên phổ biến điều học này như vầy: “Trong lúc cho xây dựng trú xá
lớn, vị tỳ khưu nên đứng ở chỗ không trồng trọt mà quyết định phương
thức của việc lợp mái hai ba lớp, của việc lắp đặt chốt cửa, của việc
trang hoàng các lỗ thông hơi, cho đến khung cửa lớn. Nếu vượt quá phương
thức ấy, cho dầu vị đứng ở chỗ không trồng trọt mà quyết định vẫn phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).”
[398] Trú xá lớn:
nghĩa là có thí chủ được đề cập đến.
Trú xá: nghĩa là được
tô ở bên trong, hoặc được tô ở bên ngoài, hoặc được tô bên trong lẫn bên
ngoài.
Trong lúc cho xây dựng:
là (tự mình) đang làm hoặc đang bảo người làm.
Cho đến khung cửa lớn:
là (khoảng rộng) một tầm tay (1,25 m) ở các khu vực xung quanh của đà
ngang và trụ cửa.
Của việc lắp đặt chốt cửa:
của việc lắp đặt cánh cửa lớn.
Của việc trang hoàng các
lỗ thông hơi: là của việc trang hoàng các cửa sổ (gồm có các việc):
sơn màu trắng, sơn màu đen, sơn màu đỏ, trang hoàng hình vòng hoa, trang
hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng năm loại.
Nên đứng ở chỗ không trồng
trọt mà quyết định phương thức của việc lợp mái hai ba lớp: Được
trồng trọt nghĩa là các loại lúa bắp và rau cải. Nếu đứng ở chỗ được
trồng trọt mà xác định thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Khi đang
lợp lượt thứ nhất, vị quyết định hai lượt, sau khi chỉ thị lượt thứ ba
thì nên rời đi. Khi đang lợp theo phương thức thứ nhất, vị quyết định
hai phương thức, sau khi chỉ thị phương thức thứ ba thì nên rời đi.
[399] Nếu vượt quá phương
thức ấy, cho dầu vị đứng ở chỗ không trồng trọt mà quyết định: Vị
đang lợp bằng ngói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng
viên ngói.
Vị đang lợp bằng đá phiến thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng viên đá phiến.
Vị đang lợp bằng vữa hồ thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng cục vữa hồ.
Vị đang lợp bằng cỏ thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng nắm cỏ.
Vị đang lợp bằng lá thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng tấm lá.
[400] Vượt quá hai hay ba
phương thức, nhận biết là vượt quá, vị quyết định thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Vượt quá hai hay ba phương
thức, có sự hoài nghi, vị quyết định thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị).
Vượt quá hai hay ba phương
thức, (lầm) tưởng là chưa quá, vị quyết định thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Chưa vượt quá hai hay ba
phương thức, (lầm tưởng) là đã vượt quá, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Chưa vượt quá hai hay ba
phương thức, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Chưa vượt quá hai hay ba
phương thức, nhận biết là chưa quá thì vô tội.
[401] Trong hai hay ba phương
thức, khi chưa đủ hai hay ba phương thức, trong hang đá, trong hang
động, trong cốc liêu bằng cỏ, vì nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu
của bản thân, trừ ra nhà ở còn tất cả các nơi thì không phạm tội, vị bị
điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ chín.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI:
[402] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Āḷavī, nơi tháp thờ Aggāḷava. Vào lúc bấy giờ,
trong lúc thực hiện công trình mới các tỳ khưu ở thành Āḷavī dầu biết
nước có sinh vật vẫn tưới và bảo tưới lên cỏ và đất sét. Các tỳ khưu ít
ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu ở thành
Āḷavī dầu biết nước có sinh vật vẫn tưới và bảo tưới lên cỏ và đất sét?
Sau đó, các tỳ khưu ấy đã
trình sự việc lên đức Thế Tôn. …(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi dầu biết nước có sinh vật vẫn tưới và bảo tưới lên cỏ và đất
sét, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi dầu biết nước có sinh vật vẫn tưới và bảo tưới lên cỏ và đất
sét vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho
những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã
có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào biết nước có sinh vật vẫn tưới hoặc
bảo tưới lên cỏ hay đất sét thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[403] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Biết nghĩa là tự mình
biết hoặc các người khác thông báo cho vị ấy.
[404] Tưới: vị tự mình
tưới thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Bảo tưới: Vị ra lệnh
cho người khác thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Được ra lệnh
một lần, mặc dầu (vị kia) tưới nhiều lần, (vị ra lệnh) phạm (chỉ một)
tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi có sinh vật, nhận biết là
có sinh vật, vị tưới hoặc bảo tưới lên cỏ hay đất sét thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi có sinh vật, có sự hoài
nghi, vị tưới hoặc bảo tưới lên cỏ hay đất sét thì phạm tội tội
dukkaṭa (tác ác).
Khi có sinh vật, (lầm) tưởng
là không có sinh vật, vị tưới hoặc bảo tưới lên cỏ hay đất sét
thì vô tội.
Khi không có sinh vật, (lầm
tưởng) là có sinh vật, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi không có sinh vật, có sự
hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi không có sinh vật, nhận
biết là không có sinh vật thì vô tội.
[405] Không cố ý, khi thất
niệm, vị không biết, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ mười.
Phần Thảo Mộc là phần thứ nhì.
*******
Tóm lược phần
này:
Thảo mộc, nói tráo trở,
việc phê phán (phàn nàn),
hai điều khi bỏ đi,
vị đến trước, lôi ra,
(giường ghế) chân tháo rời,
cửa lớn, có sinh vật.
*******
[1]
Tài liệu The Buddhist Monastic Code cho biết khoảng cách là 6
mét (không rõ nguồn trích dẫn).
[2]
Nghĩ rằng: “Khi quay trở lại, ta sẽ thu dọn” (theo lời giải
thích của ngài Buddhaghosa).
-ooOoo-
Đầu trang |
Mục lục |
07a |
07b |
07c |
08a | 08b |
08c |
08d |
08e |
08f |
08g |
08h |
08i |
09 |
10 |
Phân tích Giới Tỳ-khưu I |
Phân tích Giới Tỳ-khưu Ni |
Giới thiệu
|