|
Tạng Luật -
Bộ Phân Tích Giới Bổn
Vinaya Pitaka -
Suttavibhanga
Phân Tích Giới Tỳ-khưu - II
(Bhikkhuvibhanga II)
Tỳ-khưu Indacanda
Nguyệt Thiên dịch
Mục lục |
07a |
07b |
07c |
08a |
08b |
08c |
08d |
08e |
08f |
08g |
08h | 08i |
09 |
10 |
Phân tích Giới Tỳ-khưu I |
Phân tích Giới Tỳ-khưu Ni |
Giới thiệu
VIII. CHƯƠNG PĀCITTIYA (ƯNG ĐỐI TRỊ)
(tt)
PHẦN BÁU VẬT - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:
[731] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, đức vua Pasenadi xứ Kosala đã ra lệnh cho người giữ
công viên rằng:
- Này khanh, hãy đi và làm
sạch sẽ công viên. Ta sẽ đi đến công viên.
- Tâu đại vương, xin vâng.
Rồi người giữ công viên nghe
lệnh đức vua Pasenadi xứ Kosala, trong lúc làm sạch sẽ công viên đã nhìn
thấy đức Thế Tôn đang ngồi ở gốc cây nọ, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp
đức vua Pasenadi xứ Kosala, sau khi đến đã tâu với đức vua Pasenadi xứ
Kosala điều này:
- Tâu bệ hạ, công viên đã
được sạch sẽ. Tuy nhiên, đức Thế Tôn đang ngồi ở đó.
- Này khanh, hãy vậy đi.
Chúng ta sẽ thăm viếng đức Thế Tôn.
Sau đó, đức vua Pasenadi xứ
Kosala đã đi đến công viên và đã đi đến gần đức Thế Tôn. Vào lúc bấy
giờ, có nam cư sĩ nọ đang ngồi thăm viếng đức Thế Tôn. Đức vua Pasenadi
xứ Kosala đã nhìn thấy nam cư sĩ ấy đang ngồi thăm viếng đức Thế Tôn,
sau khi nhìn thấy đã hoảng sợ đứng lại. Khi ấy, đức vua Pasenadi xứ
Kosala đã khởi ý điều này: “Theo như việc người đàn ông này thăm
viếng đức Thế Tôn thì không phải là kẻ ác” nên đã đi đến gặp đức Thế
Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi
ấy, nam cư sĩ ấy do sự tôn kính đức Thế Tôn đã không cúi lạy đức vua
Pasenadi xứ Kosala cũng không đứng dậy chào. Khi ấy, đức vua Pasenadi xứ
Kosala đã không được hài lòng (nghĩ rằng): “Tại sao người đàn ông này
lại không cúi lạy cũng không đứng dậy chào khi ta đi đến?” Khi ấy,
đức Thế Tôn nhận biết sự không hài lòng của đức vua Pasenadi xứ Kosala
nên đã nói với đức vua Pasenadi xứ Kosala điều này:
- Tâu đại vương, vị nam cư sĩ
này là vị nghe nhiều, kinh điển đã được truyền thừa, và tham ái trong
các dục đã được đoạn tận.
Khi ấy, đức vua Pasenadi xứ
Kosala đã khởi ý điều này: “Nam cư sĩ này quả không phải là thấp
thỏi. Đức Thế Tôn còn khen ngợi người này” rồi đã nói với nam
cư sĩ ấy điều này:
- Này nam cư sĩ, ngươi có thể
nói lên vì việc ấy có lợi ích.
- Tâu bệ hạ, rất đúng.
Sau đó, đức Thế Tôn đã chỉ
dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Pasenadi
xứ Kosala bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy,
thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đức
vua Pasenadi xứ Kosala đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn,
hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
[732] Vào lúc bấy giờ, đức
vua Pasenadi xứ Kosala đang ngự ở tầng trên của tòa lâu đài. Đức vua
Pasenadi xứ Kosala đã nhìn thấy nam cư sĩ ấy tay cầm dù đang đi ở trên
đường, sau khi nhìn thấy đã ra lệnh mời đến rồi đã nói điều này:
- Này nam cư sĩ, nghe nói
ngươi nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa. Này nam cư sĩ, tốt thay
ngươi hãy nói Pháp cho các cung phi của trẫm.
- Tâu bệ hạ, điều thần biết
được là nhờ vào các ngài đại đức. Chính các ngài đại đức sẽ nói Pháp cho
các cung phi của bệ hạ.
Khi ấy, đức vua Pasenadi xứ
Kosala (nghĩ rằng): “Nam cư sĩ đã nói đúng” nên đã đi đến gặp đức
Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên.
Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Pasenadi xứ Kosala đã nói với đức Thế
Tôn điều này:
- Bạch ngài, tốt thay xin đức
Thế Tôn hãy chỉ thị một vị tỳ khưu là vị sẽ nói Pháp cho các cung phi
của trẫm.
Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ
dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Pasenadi
xứ Kosala bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy,
thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đức
vua Pasenadi xứ Kosala đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn,
hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo
đại đức Ānanda rằng:
- Này Ānanda, như thế thì
ngươi hãy nói Pháp cho các cung phi của đức vua.
- Bạch ngài, xin vâng.
Rồi đại đức Ānanda nghe theo
đức Thế Tôn đã đi vào lần này lần khác và đã nói Pháp cho các cung phi
của đức vua.
Khi ấy vào buổi sáng, đại đức
Ānanda đã mặc y cầm y bát đi đến tư dinh của đức vua Pasenadi xứ Kosala.
Vào lúc bấy giờ, đức vua Pasenadi xứ Kosala đang nằm cùng với hoàng hậu
Mallikā. Hoàng hậu Mallikā đã nhìn thấy đại đức Ānanda từ đàng xa đang
đi lại, sau khi nhìn thấy đã vội vàng đứng lên. Tấm hoàng bào sáng chói
đã rơi xuống. Khi ấy, đại đức Ānanda ngay tại chỗ đó đã quay lại, đi trở
về tu viện, và đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu ít ham
muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao đại đức Ānanda khi
chưa được báo tin trước lại đi vào hậu cung của đức vua?
…(như trên)…
- Này Ānanda, nghe nói ngươi
khi chưa được báo tin trước lại đi vào hậu cung của đức vua, có đúng
không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này Ānanda, vì sao ngươi
khi chưa được báo tin trước lại đi vào hậu cung của đức vua vậy? Này
Ānanda, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. … (như trên)…
Sau khi khiển trách, ngài đã
thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
[733] Này các tỳ khưu, đây là
mười điều nguy hiểm trong việc đi vào hậu cung của đức vua. Thế nào là
mười?
Này các tỳ khưu, trường hợp
đức vua đang ngồi với hoàng hậu. Vị tỳ khưu đi vào nơi ấy. Hoặc là khi
nhìn thấy vị tỳ khưu hoàng hậu nở nụ cười, hoặc là khi nhìn thấy hoàng
hậu vị tỳ khưu nở nụ cười. Trong trường hợp ấy, đức vua khởi ý như vầy:
“Rõ ràng giữa những người này đã xảy ra chuyện, hoặc họ sẽ làm ra
chuyện.” Này các tỳ khưu, đây là điều nguy hiểm thứ nhất trong việc
đi vào hậu cung của đức vua.
Này các tỳ khưu, còn có điều
khác nữa, đức vua có nhiều phận sự có nhiều công việc cần phải làm, sau
khi đi đến với người đàn bà nào đó rồi không nhớ. Do việc ấy, cô ấy mang
thai. Trong trường hợp ấy, đức vua khởi ý như vầy: “Ở đây, không có
người nào khác đi vào ngoại trừ vị xuất gia; có thể là việc làm của vị
xuất gia?” Này các tỳ khưu, đây là điều nguy hiểm thứ hai trong việc
đi vào hậu cung của đức vua.
Này các tỳ khưu, còn có điều
khác nữa, trong hậu cung của đức vua có vật báu nào đó bị mất trộm.
Trong trường hợp ấy, đức vua khởi ý như vầy: “Ở đây, không có người
nào khác đi vào ngoại trừ vị xuất gia; có thể là việc làm của vị xuất
gia?” Này các tỳ khưu, đây là điều nguy hiểm thứ ba trong việc đi
vào hậu cung của đức vua.
Này các tỳ khưu, còn có điều
khác nữa, trong hậu cung của đức vua các chuyện nội vụ đang được giữ kín
lại bị tiết lộ ra bên ngoài. Trong trường hợp ấy, đức vua khởi ý như
vầy: “Ở đây, không có người nào khác đi vào ngoại trừ vị xuất gia; có
thể là việc làm của vị xuất gia?” Này các tỳ khưu, đây là điều nguy
hiểm thứ tư trong việc đi vào hậu cung của đức vua.
Này các tỳ khưu, còn có điều
khác nữa, trong hậu cung của đức vua, hoặc là con muốn giết cha hoặc là
cha muốn giết con. Họ khởi ý như vầy: “Ở đây, không có người nào khác
đi vào ngoại trừ vị xuất gia; có thể là việc làm của vị xuất gia?”
Này các tỳ khưu, đây là điều nguy hiểm thứ năm trong việc đi vào hậu
cung của đức vua.
Này các tỳ khưu, còn có điều
khác nữa, đức vua đưa người có địa vị thấp lên địa vị cao. Những người
không hài lòng với điều ấy khởi ý như vầy: “Đức vua thân cận với vị
xuất gia; có thể là việc làm của vị xuất gia?” Này các tỳ khưu, đây
là điều nguy hiểm thứ sáu trong việc đi vào hậu cung của đức vua.
Này các tỳ khưu, còn có điều
khác nữa, đức vua đưa người có địa vị cao xuống địa vị thấp. Những người
không hài lòng với điều ấy khởi ý như vầy: “Đức vua thân cận với vị
xuất gia; có thể là việc làm của vị xuất gia?” Này các tỳ khưu, đây
là điều nguy hiểm thứ bảy trong việc đi vào hậu cung của đức vua.
Này các tỳ khưu, còn có điều
khác nữa, đức vua điều động quân đội không đúng thời. Những người không
hài lòng với điều ấy khởi ý như vầy: “Đức vua thân cận với vị xuất
gia; có thể là việc làm của vị xuất gia?” Này các tỳ khưu, đây là
điều nguy hiểm thứ tám trong việc đi vào hậu cung của đức vua.
Này các tỳ khưu, còn có điều
khác nữa, đức vua điều động quân đội đúng thời, giữa đường lại quay trở
về. Những người không hài lòng với điều ấy khởi ý như vầy: “Đức vua
thân cận với vị xuất gia; có thể là việc làm của vị xuất gia?” Này
các tỳ khưu, đây là điều nguy hiểm thứ chín trong việc đi vào hậu cung
của đức vua.
Này các tỳ khưu, còn có điều
khác nữa, hậu cung của đức vua là đông đúc với những voi, đông đúc với
những ngựa, đông đúc với những xe, các sắc thinh hương vị xúc đều gợi
lên sự đắm nhiễm không thích hợp cho vị xuất gia. Này các tỳ khưu, đây
là điều nguy hiểm thứ mười trong việc đi vào hậu cung của đức vua.
Này các tỳ khưu, đây là mười
điều nguy hiểm trong việc đi vào hậu cung của đức vua.
[734] Sau đó, đức Thế Tôn đã
khiển trách đại đức Ānanda bằng nhiều phương thức về sự khó khăn trong
việc cấp dưỡng, về sự khó khăn trong việc ăn uống, ...(như trên)... Và
này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ
khưu nào khi chưa được báo tin trước mà vượt qua ngưỡng cửa
(phòng ngủ) của đức vua dòng sát-đế-lỵ đã được đội lên vương miện lúc
đức vua chưa đi khỏi lúc báu vật (hoàng hậu) chưa lui ra thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).”
[735] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Dòng sát-đế-lỵ nghĩa
là hậu duệ thuần khiết được khéo sanh ra từ cả hai bên là từ dòng bên mẹ
và từ dòng bên cha cho đến bảy thế hệ tổ tiên, không bị gièm pha, không
bị chỉ trích khi nói về nguồn gốc.
Đã được đội lên vương miện:
đã được đăng quang với lễ phong vương của dòng sát-đế-lỵ.
Lúc đức vua chưa đi khỏi:
đức vua chưa ra khỏi phòng ngủ
Lúc báu vật (hoàng hậu)
chưa lui ra: hoàng hậu chưa ra khỏi phòng ngủ hoặc cả hai chưa ra
khỏi.
Chưa được báo tin trước:
chưa được thỉnh mời (đi vào).
Ngưỡng cửa nghĩa là
ngạch cửa của phòng ngủ được đề cập đến.
Phòng ngủ nghĩa là bất
cứ nơi nào được quy định là chỗ nằm của đức vua, thậm chí chỉ được bao
quanh bằng khung màn che.
Vượt qua ngưỡng cửa:
vị vượt qua ngạch cửa bước thứ nhất thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác). Vượt qua bước thứ nhì thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[736] Khi chưa được báo tin,
nhận biết là chưa được báo tin, vị vượt qua ngưỡng cửa thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Khi chưa được báo tin, có sự
hoài nghi, vị vượt qua ngưỡng cửa thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Khi chưa được báo tin, (lầm)
tưởng là đã được báo tin, vị vượt qua ngưỡng cửa thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Khi đã được báo tin, (lầm)
tưởng là chưa được báo tin, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi đã được báo tin, có sự
hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi đã được báo tin, nhận
biết là đã được báo tin thì vô tội.
[737] Khi đã được báo tin,
đức vua không phải là dòng sát-đế-lỵ, chưa được đăng quang với lễ phong
vương của dòng sát-đế-lỵ, đức vua đã ra khỏi phòng ngủ, hoàng hậu đã ra
khỏi phòng ngủ, hoặc cả hai đã ra khỏi phòng ngủ, không phải ở trong
phòng ngủ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ nhất.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ:
[738] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ tắm ở giòng sông Aciravatī. Có người
bà-la-môn nọ sau khi bỏ xuống trên bờ túi xách có năm trăm (đồng tiền)
rồi tắm ở giòng sông Aciravatī, sau đó đã quên lửng rồi ra đi. Khi ấy,
vị tỳ khưu ấy (nghĩ rằng): “Đây là túi xách của người bà-la-môn ấy,
chớ để bị mất cắp” rồi đã giữ lấy. Sau đó, người bà-la-môn ấy khi
nhớ ra đã vội vã chạy trở lại và đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:
- Này ông, vậy ông có nhìn
thấy túi xách của tôi không?
- Này Bà-la-môn, đây này. Rồi
đã trao cho.
Khi ấy, người bà-la-môn ấy đã
khởi ý điều này: “Bằng phương kế gì để ta khỏi phải biếu vị tỳ khưu
này một bình bát đầy?” (nên đã nói rằng):
- Này ông, của tôi không phải
là năm trăm, của tôi là một ngàn.
Sau khi giữ lại rồi đã thả
ra. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đi đến tu viện và kể lại sự việc ấy cho các
tỳ khưu. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai rằng:
- Vì sao vị tỳ khưu lại nhặt
lấy vật quý giá?
…(như trên)…
- Này tỳ khưu, nghe nói ngươi
nhặt lấy vật quý giá, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi
lại nhặt lấy vật quý giá vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại
niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của
những người đã có đức tin. … (như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi
nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào nhặt lấy hoặc bảo
nhặt lấy vật quý giá hoặc vật được xem là quý giá thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các
tỳ khưu như thế.
[739] Vào lúc bấy giờ, ở
thành Sāvatthi có lễ hội. Dân chúng chưng diện trang điểm đi đến công
viên. Bà Visākhā mẹ của Migāra cũng chưng diện trang điểm (nghĩ rằng): “Ta
sẽ đi đến công viên.” Sau khi đi ra khỏi làng (nghĩ rằng): “Ta sẽ
làm gì sau khi đi đến công viên? Hay là ta nên thăm viếng đức Thế Tôn?”
rồi đã tháo ra đồ trang sức, dùng thượng y buộc lại thành gói rồi trao
cho người tớ gái (nói rằng):
- Này em, hãy cầm lấy gói đồ
này.
Sau đó, bà Visākhā mẹ của
Migāra đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi
ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích,
và tạo niềm phấn khởi cho bà Visākhā mẹ của Migāra đang ngồi một bên
bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh,
khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, bà Visākhā mẹ
của Migāra đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải
nhiễu quanh, rồi ra đi. Khi ấy, cô tớ gái ấy đã quên lửng gói đồ ấy và
ra đi. Các tỳ khưu đã nhìn thấy rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, như thế
thì các ngươi hãy nhặt lấy và để riêng ra.
Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý
do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép nhặt lấy hoặc bảo nhặt lấy vật quý giá hoặc vật được xem là quý giá
ở trong khuôn viên tu viện rồi để riêng ra (nghĩ rằng): “Là của ai,
người ấy sẽ đem đi.” Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào nhặt lấy hoặc bảo nhặt lấy vật quý
giá hoặc vật được xem là quý giá thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị)
ngoại trừ ở trong khuôn viên tu viện.” Và điều học này đã được đức
Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[740] Vào lúc bấy giờ, trong
xứ Kāsī có ngôi làng là nơi thương mãi của gia chủ Anāthapiṇḍika. Và vị
gia chủ ấy đã dặn dò viên quản lý rằng: “Nếu các ngài đại đức đi đến,
ngươi có thể dọn bữa ăn.” Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu trong
khi đi du hành trong xứ Kāsī đã đi đến ngôi làng là nơi thương mãi của
gia chủ Anāthapiṇḍika. Người đàn ông ấy đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy
từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp các vị tỳ khưu
ấy, sau khi đến đã đảnh lễ các vị tỳ khưu ấy và đã nói điều này:
- Thưa các ngài, xin các ngài
đại đức hãy nhận lời bữa ăn của gia chủ vào ngày mai.
Các vị tỳ khưu ấy đã nhận lời
bằng thái độ im lặng. Sau đó, khi trải qua đêm ấy người đàn ông ấy đã
cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm rồi cho
người thông báo thời giờ. Vị ấy sau khi tháo ra chiếc nhẫn đeo ngón tay
rồi đã dâng bữa ăn đến các vị tỳ khưu ấy (nói rằng):
- Các ngài đại đức sau khi
thọ thực xin cứ việc đi. Tôi cũng sẽ đi làm công việc.
Rồi đã quên lửng chiếc nhẫn
đeo ngón tay và ra đi. Các vị tỳ khưu sau khi nhìn thấy (nghĩ rằng): “Nếu
chúng ta đi, chiếc nhẫn đeo ngón tay này sẽ bị mất trộm” nên đã ngồi
lại ngay tại chỗ ấy. Sau đó, người đàn ông ấy khi xong công việc quay
trở lại đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy nên đã nói điều này:
- Thưa các ngài, tại sao các
ngài đại đức ngồi lại ngay tại chỗ này?
Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã
kể lại sự việc ấy cho người đàn ông ấy rồi sau khi đi đến thành Sāvatthi
đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã
thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép nhặt lấy hoặc bảo nhặt lấy vật quý giá hoặc vật được xem là quý giá
ở trong khuôn viên tu viện hoặc ở trong khuôn viên chỗ ngụ rồi để riêng
ra (nghĩ rằng): “Là của ai, người ấy sẽ đem đi.” Và này các tỳ
khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào
nhặt lấy hoặc bảo nhặt lấy vật quý giá hoặc vật được xem là quý giá thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ trong khuôn viên tu viện hoặc
trong khuôn viên chỗ ngụ. Vị tỳ khưu sau khi nhặt lấy hoặc bảo nhặt lấy
vật quý giá hoặc vật được xem là quý giá ở trong khuôn viên tu viện hoặc
ở trong khuôn viên chỗ ngụ nên để riêng ra (nghĩ rằng): ‘Là của ai,
người ấy sẽ đem đi.’ Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy.”
[741] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Vật quý giá nghĩa là
ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc pha lê, ngọc xa-cừ, đá quý, ngọc san hô,
vàng, bạc, hồng ngọc, ngọc mắt mèo; vật này gọi là vật quý giá.
Vật được xem là quý giá
nghĩa là vật gì được dân chúng ưa chuộng và bảo quản,vật này gọi là vật
được xem là quý giá.
Ngoại trừ trong khuôn viên
tu viện hoặc trong khuôn viên chỗ ngụ: trừ ra khuôn viên tu viện
(và) khuôn viên chỗ ngụ.
Khuôn viên tu viện
nghĩa là bên trong tu viện đối với tu viện đã được rào lại, là vùng phụ
cận đối với tu viện không được rào lại.
Khuôn viên chỗ ngụ
nghĩa là bên trong chỗ ngụ đối với chỗ ngụ đã được rào lại, là vùng phụ
cận đối với chỗ ngụ không được rào lại.
Nhặt lấy: tự mình nhặt
lấy thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Bảo nhặt lấy: bảo
người khác nhặt lấy thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[742] Vị tỳ khưu sau khi
nhặt lấy hoặc bảo nhặt lấy vật quý giá hoặc vật được xem là quý giá ở
trong khuôn viên tu viện hoặc ở trong khuôn viên chỗ ngụ nên để riêng ra:
sau khi ghi nhận hình dáng hoặc đặc điểm rồi để riêng ra và nên thông
báo rằng: “Ai có vật bị mất, người ấy hãy đi đến.” Trong trường
hợp ấy, nếu có người đi đến nên nói với người ấy rằng: “Này đạo hữu,
vật của đạo hữu như thế nào?” Nếu mô tả đúng hình dáng hoặc đặc điểm
thì nên trao cho. Nếu không mô tả đúng thì nên nói rằng: “Này đạo
hữu, hãy tìm kiếm.” Vị sắp sửa rời khỏi trú xứ ấy, nên trao lại tận
tay của những vị tỳ khưu thích hợp ở tại nơi ấy rồi ra đi. Nếu không có
những vị tỳ khưu thích hợp, nên trao lại tận tay của những vị gia chủ
thích hợp ở tại nơi ấy rồi ra đi.
Đây là điều đúng đắn trong
trường hợp ấy: đây là sự hợp lý trong trường hợp ấy.
[743] Vị sau khi nhặt lấy
hoặc bảo nhặt lấy vật quý giá hoặc vật được xem là quý giá ở trong khuôn
viên tu viện hoặc ở trong khuôn viên chỗ ngụ rồi để riêng ra (nghĩ
rằng): “Là của ai, người ấy sẽ đem đi,” vị lấy vật được
xem là quý giá theo lối thân thiết, vị lấy trong một thời hạn, vị nghĩ
là vật quăng bỏ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ nhì.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ BA:
[744] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đi vào làng lúc sái thời rồi
ngồi ở đám đông nói chuyện nhảm nhí liên quan đến nhiều vấn đề như là:
chuyện đức vua, chuyện kẻ trộm, chuyện quan đại thần, chuyện binh lính,
chuyện kinh dị, chuyện chiến trường, chuyện thức ăn, chuyện nước uống,
chuyện vải vóc, chuyện giường nằm, chuyện vòng hoa, chuyện hương thơm,
chuyện thân quyến, chuyện xe cộ, chuyện làng xóm, chuyện thị trấn,
chuyện thành thị, chuyện quốc gia, chuyện đàn bà, chuyện người hùng,
chuyện đường xá, chuyện về chỗ có hũ (của cải chôn giấu), chuyện ma quỷ,
chuyện linh tinh, chuyện tiên đoán về thế gian, chuyện tiên đoán về đại
dương, chuyện sẽ xảy ra và sẽ không xảy ra như vầy hay là như vầy. Dân
chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại sao các sa-môn Thích tử
lại đi vào làng lúc sái thời rồi ngồi ở đám đông nói chuyện nhảm nhí
liên quan đến nhiều vấn đề như là: chuyện đức vua, chuyện kẻ trộm,
chuyện quan đại thần, chuyện binh lính, chuyện kinh dị, chuyện chiến
trường, chuyện thức ăn, chuyện nước uống, chuyện vải vóc, chuyện giường
nằm, chuyện vòng hoa, chuyện hương thơm, chuyện thân quyến, chuyện xe
cộ, chuyện làng xóm, chuyện thị trấn, chuyện thành thị, chuyện quốc gia,
chuyện đàn bà, chuyện người hùng, chuyện đường xá, chuyện về chỗ có hũ
(của cải chôn giấu), chuyện ma quỷ, chuyện linh tinh, chuyện tiên đoán
về thế gian, chuyện tiên đoán về đại dương, chuyện sẽ xảy ra và sẽ không
xảy ra như vầy hay là như vầy giống như các người tại gia hưởng dục vậy?
Các tỳ khưu đã nghe được
những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn,
...(như trên)..., các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục
Sư lại đi vào làng lúc sái thời rồi ngồi ở đám đông nói chuyện nhảm nhí
liên quan đến nhiều vấn đề như là: chuyện đức vua, ...(như trên)...
chuyện sẽ xảy ra và sẽ không xảy ra như vầy hay là như vầy?
…(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi đi vào làng lúc sái thời rồi ngồi ở đám đông nói chuyện nhảm
nhí liên quan đến nhiều vấn đề như là: chuyện đức vua, ...(như trên)...
chuyện sẽ xảy ra và sẽ không xảy ra như vầy hay là như vầy, có đúng
không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi lại đi vào làng lúc sái thời rồi ngồi ở đám đông nói chuyện
nhảm nhí liên quan đến nhiều vấn đề như là: chuyện đức vua, ...(như
trên)... chuyện sẽ xảy ra và sẽ không xảy ra như vầy hay là như vầy? Này
những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …
(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như
vầy: “Vị tỳ khưu nào đi vào làng lúc sái thời thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các
tỳ khưu như thế.
[745] Vào lúc bấy giờ, nhiều
vị tỳ khưu trong lúc đi đến thành Sāvatthi thuộc xứ Kosala đã đi đến gần
ngôi làng nọ vào lúc chiều tối. Dân chúng sau khi nhìn thấy các vị tỳ
khưu ấy đã nói điều này:
- Thưa các ngài, xin hãy vào.
Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy
(nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đi vào làng lúc sái thời” rồi
trong lúc ngần ngại đã không đi vào. Bọn đạo tặc đã cướp đoạt các vị tỳ
khưu ấy. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã đi đến thành Sāvatthi và đã kể lại
sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp
thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép đi vào làng lúc sái thời khi đã thông báo. Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào đi vào làng
lúc sái thời không thông báo thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[746] Vào lúc bấy giờ, có vị
tỳ khưu nọ trong lúc đi đến thành Sāvatthi thuộc xứ Kosala đã đi đến gần
ngôi làng nọ vào lúc chiều tối. Dân chúng sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu
ấy đã nói điều này:
- Thưa ngài, xin hãy vào.
Khi ấy, vị tỳ khưu ấy (nghĩ
rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đi vào làng lúc sái thời không thông báo”
rồi trong lúc ngần ngại đã không đi vào. Bọn đạo tặc đã cướp đoạt vị tỳ
khưu ấy. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đi đến thành Sāvatthi và đã kể lại sự
việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp
thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép đi vào làng lúc sái thời khi đã thông báo vị tỳ khưu hiện diện. Và
này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ
khưu nào đi vào làng lúc sái thời không thông báo vị tỳ khưu hiện diện
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” Và điều học này đã được đức
Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[747] Vào lúc bấy giờ, có vị
tỳ khưu nọ bị rắn cắn. Vị tỳ khưu khác (nghĩ rằng): “Ta sẽ mang lại
lửa” rồi đi đến làng. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy (nghĩ rằng): “Đức Thế
Tôn đã cấm đi vào làng không thông báo vị tỳ khưu hiện diện” rồi
trong lúc ngần ngại đã không đi vào. Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết
Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, trong
trường hợp có việc cần làm khẩn cấp như thế ta cho phép đi vào làng lúc
sái thời không thông báo vị tỳ khưu hiện diện. Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào đi vào làng
lúc sái thời không thông báo vị tỳ khưu hiện diện thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị) ngoại trừ trường hợp có việc cần làm khẩn cấp như thế.”
[748] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Vị tỳ khưu hiện diện
nghĩa là có thể có sự thông báo để đi vào (làng).
Vị tỳ khưu không hiện diện
nghĩa là không thể có sự thông báo để đi vào (làng).
Lúc sái thời nghĩa là
từ lúc đã quá nửa ngày cho đến rạng đông (ngày hôm sau).
Đi vào làng: vị vượt
qua hàng rào của ngôi làng được rào lại thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị). Vị đi vào vùng phụ cận của ngôi làng không được rào lại
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Ngoại trừ trường hợp có
việc cần làm khẩn cấp như thế: trừ ra trường hợp có việc cần làm
khẩn cấp như thế.
[749] Vào lúc sái thời, nhận
biết là vào lúc sái thời, vị đi vào làng không thông báo vị tỳ khưu hiện
diện thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ trường hợp có
việc cần làm khẩn cấp như thế.
Vào lúc sái thời, có sự hoài
nghi, vị đi vào làng không thông báo vị tỳ khưu hiện diện thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ trường hợp có việc cần làm khẩn
cấp như thế.
Vào lúc sái thời, (lầm) tưởng
là vào lúc hợp thời, vị đi vào làng không thông báo vị tỳ khưu hiện diện
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ trường hợp có việc
cần làm khẩn cấp như thế.
Vào lúc hợp thời, (lầm) tưởng
là lúc sái thời, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vào lúc hợp thời, có sự hoài
nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vào lúc hợp thời, nhận biết
là lúc hợp thời thì vô tội.
[750] Trong trường hợp có
việc cần làm khẩn cấp như thế, có thông báo vị tỳ khưu hiện diện rồi đi
vào (làng), không có vị tỳ khưu hiện diện rồi đi vào (làng) không có
thông báo, vị đi đến tu viện ở giữa làng, vị đi đến ni viện của các tỳ
khưu ni, vị đi đến chỗ ngụ của các tu sĩ ngoại đạo, vị đi trở về, con
đường đi ngang qua ngôi làng, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị
vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ ba.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ TƯ:
[751] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự giữa dân chúng dòng Sākya, trong thành Kapilavatthu, tu viện
Nigrodha. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đã được người thợ làm đồ sừng nọ
thỉnh cầu rằng : “Các ngài đại đức nào có nhu cầu về ống đựng kim,
tôi sẽ dâng ống đựng kim.” Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu yêu cầu
nhiều ống đựng kim. Những vị có các ống đựng kim nhỏ thì yêu cầu các ống
đựng kim lớn. Những vị có các ống đựng kim lớn thì yêu cầu các ống đựng
kim nhỏ. Khi ấy, trong lúc làm nhiều ống đựng kim cho các tỳ khưu, người
thợ làm đồ sừng ấy không thể làm hàng khác để bán nên không nuôi nổi bản
thân, ngay cả vợ con của người này cũng phải chịu khổ sở. Dân chúng phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại sao các sa-môn Thích tử
lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều ống đựng kim? Người này trong
lúc làm nhiều ống đựng kim cho các vị này không thể làm hàng khác để bán
nên không nuôi nổi bản thân, ngay cả vợ con của người này cũng phải chịu
khổ sở.
Các tỳ khưu đã nghe được
những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu lại
không biết chừng mực và yêu cầu nhiều ống đựng kim?
…(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi không biết chừng mực và yêu cầu nhiều ống đựng kim, có đúng
không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này các tỳ khưu, vì sao
những kẻ rồ dại ấy lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều ống đựng
kim vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những
kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức
tin. … (như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Vị tỳ khưu nào bảo làm ống đựng kim bằng xương, hoặc
bằng ngà, hoặc bằng sừng thì (ống đựng kim ấy) nên được đập vỡ và phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).”
[752] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Xương nghĩa là bất cứ
loại xương gì.
Ngà nghĩa là ngà voi
được đề cập đến.
Sừng nghĩa là
bất cứ loại sừng gì.
Bảo làm: Vị (tự) làm
hoặc bảo làm, trong lúc thực hiện thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Do sự đạt được thì nên đập vỡ rồi nên sám hối tội pācittiya (ưng
đối trị).
[753] Vị tự mình hoàn tất
phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị bảo những người khác hoàn
tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Vị tự mình hoàn tất phần
những người khác chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Vị bảo những người khác hoàn
tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Vị (tự) làm hoặc bảo làm vì
nhu cầu của vị khác thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Được làm bởi người khác, vị
nhận được rồi sử dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[754] Trong trường hợp hột
nút, đồ đánh lửa, cái khóa thắt lưng,
[1]
hộp đựng thuốc cao, que bôi thuốc cao,[2]
cán dao cạo, đồ gạt nước,[3]
vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ tư.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ NĂM:
[755] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai dòng Sākya nằm giường cao.
Khi ấy, đức Thế Tôn trong lúc đi dạo quanh các chỗ trú ngụ cùng với
nhiều vị tỳ khưu đã đi đến trú xá của đại đức Upananda con trai dòng
Sākya. Đại đức Upananda con trai dòng Sākya đã nhìn thấy đức Thế Tôn từ
đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, xin hãy đi đến.
Xin đức Thế Tôn hãy nhìn xem cái giường của con.
Khi ấy, đức Thế Tôn ngay tại
chỗ ấy đã quay lại và bảo các vị tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, kẻ rồ dại
cần được chỉ bảo về chỗ nằm.
Sau đó, đức Thế Tôn đã khiển
trách đại đức Upananda con trai dòng Sākya bằng nhiều phương thức về sự
khó khăn trong việc cấp dưỡng, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Trong lúc cho thực hiện
giường hoặc ghế mới, vị tỳ khưu nên bảo làm chân cao tám ngón tay theo
ngón tay của đức Thiện Thệ[4]
ngoại trừ phần khung giường ở bên dưới. Nếu vượt quá mức ấy thì nên cắt
bớt và phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[756] Mới nghĩa là có
liên quan đến việc làm (giường hoặc ghế) được đề cập.
Giường nghĩa là có bốn
loại giường: giường lắp ráp (masārako), giường xếp (bundikābaddho),
giường chân cong (kulirapādako), giường có chân tháo rời được
(āhaccapādako).
Ghế nghĩa là có bốn
loại ghế: ghế lắp ráp, ghế xếp, ghế chân cong, ghế có chân tháo rời
được.
Trong lúc cho thực hiện:
trong khi (tự) làm hoặc trong khi bảo làm.
Nên bảo làm chân cao tám
ngón tay theo ngón tay của đức Thiện Thệ ngoại trừ phần khung giường ở
bên dưới: trừ ra phần khung giường ở bên dưới. Vị (tự) làm hoặc bảo
làm vượt quá mức ấy, trong lúc thực hiện thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Do sự đạt được thì nên cắt bớt rồi nên sám hối tội
pācittiya (ưng đối trị).
[757] Vị tự mình hoàn tất
phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị bảo những người khác hoàn
tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Vị tự mình hoàn tất phần
những người khác chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Vị bảo những người khác hoàn
tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Vị (tự) làm hoặc bảo làm vì
nhu cầu của vị khác thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Được làm bởi người khác, vị
đạt được rồi sử dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[758] Vị làm theo kích thước,
vị làm thấp hơn, do người khác làm quá kích thước sau khi đạt được thì
cắt bớt rồi sử dụng, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ năm.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ SÁU:
[759] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư cho thực hiện giường ghế độn
bông gòn. Dân chúng trong lúc đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy rồi phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại sao các sa-môn Thích tử
lại cho thực hiện giường ghế độn bông gòn
giống như những kẻ tại gia hưởng dục vậy?
Các tỳ khưu đã nghe được
những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục
Sư lại cho thực hiện giường ghế độn bông gòn?
…(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi cho thực hiện giường ghế độn bông gòn, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi lại cho thực hiện giường ghế độn bông gòn vậy? Này những kẻ rồ
dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. … (như trên)…
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị
tỳ khưu nào bảo thực hiện giường ghế độn bông gòn thì (bông gòn) nên
được móc ra và phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[760] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Giường nghĩa là có bốn
loại giường: giường lắp ráp, giường xếp, giường chân cong, giường có
chân tháo rời được.
Ghế nghĩa là có bốn
loại ghế: ghế lắp ráp, ghế xếp, ghế chân cong, ghế có chân tháo rời
được.
Bông gòn nghĩa là có
ba loại bông gòn: bông gòn từ cây, bông gòn từ dây leo, bông gòn từ cỏ.
Bảo thực hiện: vị (tự)
làm hoặc bảo làm, trong lúc thực hiện thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác). Do sự đạt được thì nên móc ra rồi nên sám hối tội pācittiya
(ưng đối trị).
[761] Vị tự mình hoàn tất
phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị bảo những người khác hoàn
tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Vị tự mình hoàn tất phần
những người khác chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Vị bảo những người khác hoàn
tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Vị (tự) làm hoặc bảo làm vì
nhu cầu của vị khác thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Được làm bởi người khác, vị
đạt được rồi sử dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[762] Trong trường hợp vị làm
đồ băng bó, dây buộc lưng, dây đeo vai, túi đựng bát, đồ lọc nước, gối
kê; sau khi đạt được (giường ghế) do người khác làm thì móc ra rồi sử
dụng, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ sáu.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ BẢY:
[763] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, tọa cụ đã được đức Thế Tôn cho phép đến các tỳ khưu.
Các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Tọa cụ đã được đức Thế Tôn cho
phép” nên đã sử dụng các tọa cụ không theo kích thước. Các vị treo ở
phía trước và phía sau của giường và của ghế. Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục
Sư lại sử dụng các tọa cụ không theo kích thước?
…(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi sử dụng các tọa cụ không theo kích thước, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi lại sử dụng các tọa cụ không theo kích thước vậy? Này những kẻ
rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. … (như trên)…
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Trong
lúc cho thực hiện tọa cụ, vị tỳ khưu nên bảo làm theo kích thước. Ở đây,
kích thước này là chiều dài hai gang tay, chiều rộng một gang rưỡi theo
gang tay của đức Thiện Thệ. Nếu vượt quá mức ấy thì (tọa cụ) nên được
cắt bớt và phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” Và điều học này đã
được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[764] Vào lúc bấy giờ, đại
đức Udāyi có thân hình to lớn. Vị ấy khi sắp đặt tọa cụ ở phía trước đức
Thế Tôn cứ kéo căng ra khắp các phía rồi mới ngồi xuống. Khi ấy, đức Thế
Tôn đã nói với đại đức Udāyi điều này:
- Này Udāyi, vì sao sau khi
sắp đặt tọa cụ ngươi cứ kéo căng ra khắp các phía giống như là căng ra
tấm da bị nhăn vậy?
- Bạch ngài, bởi vì theo như
tấm tọa cụ đã được đức Thế Tôn cho phép đến các tỳ khưu thì quá nhỏ.
Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý
do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép đường viền của tọa cụ là một gang. Và này các tỳ khưu, các ngươi
nên phổ biến điều học này như vầy: “Trong lúc cho thực hiện tọa cụ,
vị tỳ khưu nên bảo làm theo kích thước. Ở đây, kích thước này là chiều
dài hai gang tay chiều rộng một gang rưỡi, đường viền một gang theo gang
tay của đức Thiện Thệ. Nếu vượt quá mức ấy thì (tọa cụ) nên được cắt bớt
và phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[765] Tọa cụ nghĩa là
có đường viền được nói đến.
Trong lúc cho thực hiện:
trong khi (tự) làm hoặc trong khi bảo làm.
Nên bảo làm theo kích
thước: Ở đây, kích thước này là chiều dài hai gang tay, chiều rộng
một gang rưỡi, đường viền một gang theo gang tay của đức Thiện Thệ.[5]
Vị (tự) làm hoặc bảo làm vượt quá mức ấy, trong lúc thực hiện thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác). Do sự đạt được thì nên cắt bớt rồi nên sám
hối tội pācittiya (ưng đối trị).
[766] Vị tự mình hoàn tất
phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị bảo những người khác hoàn
tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Vị tự mình hoàn tất phần
những người khác chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Vị bảo những người khác hoàn
tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Vị (tự) làm hoặc bảo làm vì
nhu cầu của vị khác thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Được làm bởi người khác, vị
đạt được rồi sử dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[767] Vị làm theo kích thước,
vị làm nhỏ hơn, sau khi đạt được (tọa cụ) do người khác làm quá kích
thước thì cắt bớt rồi sử dụng, vị làm mái che hoặc tấm lót nền hoặc
khung màn chắn xung quanh hoặc nệm hoặc gối kê, vị bị điên, vị vi phạm
đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ bảy.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ TÁM:
[768] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, y đắp ghẻ đã được đức Thế Tôn cho phép đến các tỳ khưu.
Các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Y đắp ghẻ đã được đức Thế Tôn
cho phép” nên đã sử dụng các y đắp ghẻ không theo kích thước. Các vị
trong lúc để lòng thòng ở phía trước và phía sau rồi đi đó đây. Các tỳ
khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai
rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục
Sư lại sử dụng các y đắp ghẻ không theo kích thước?
…(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi sử dụng các y đắp ghẻ không theo kích thước, có đúng không
vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi lại sử dụng các y đắp ghẻ không theo kích thước vậy? Này những
kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức
tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. … (như
trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Trong lúc cho thực hiện y đắp ghẻ, vị tỳ khưu nên bảo làm theo kích
thước. Ở đây, kích thước này là chiều dài bốn gang tay, chiều rộng hai
gang theo gang tay của đức Thiện Thệ. Nếu vượt quá mức ấy thì (y đắp
ghẻ) nên được cắt bớt và phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[769] Y đắp ghẻ nghĩa
là nhằm mục đích băng bó cho vị có ghẻ hoặc mụt nhọt hoặc vết thương
hoặc bệnh lở loét ở phía dưới lỗ rún và ở phía trên đầu gối.
Trong lúc cho thực hiện:
trong khi (tự) làm hoặc trong khi bảo làm.
Nên bảo làm theo kích
thước: Ở đây, kích thước này là chiều dài bốn gang tay chiều rộng
hai gang theo gang tay của đức Thiện Thệ (1m x 0,5 m). Vị (tự) làm hoặc
bảo làm vượt quá mức ấy, trong lúc thực hiện thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Do sự đạt được thì nên cắt bớt rồi nên sám hối tội
pācittiya (ưng đối trị).
[770] Vị tự mình hoàn tất
phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị bảo những người khác hoàn
tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Vị tự mình hoàn tất phần
những người khác chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Vị bảo những người khác hoàn
tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Vị (tự) làm hoặc bảo làm vì
nhu cầu của vị khác thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Được làm bởi người khác, vị
đạt được rồi sử dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[771] Vị làm theo kích thước,
vị làm nhỏ hơn, sau khi đạt được (y đắp ghẻ) do người khác làm quá kích
thước thì cắt bớt rồi sử dụng, vị làm mái che hoặc tấm lót nền hoặc
khung màn chắn xung quanh hoặc nệm hoặc gối kê, vị bị điên, vị vi phạm
đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ tám.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN:
[772] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, vải choàng tắm mưa đã được đức Thế Tôn cho phép đến các
tỳ khưu. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Vải choàng tắm mưa đã
được đức Thế Tôn cho phép” nên đã sử dụng các vải choàng tắm mưa
không theo kích thước. Các vị trong lúc để lòng thòng ở phía trước và
phía sau rồi đi đó đây. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục
Sư lại sử dụng các vải choàng tắm mưa không theo kích thước?
…(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi sử dụng các vải choàng tắm mưa không theo kích thước, có đúng
không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi lại sử dụng các vải choàng tắm mưa không theo kích thước vậy?
Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ
chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức
tin. … (như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Trong lúc cho thực hiện vải choàng tắm mưa, vị tỳ khưu
nên bảo làm theo kích thước. Ở đây, kích thước này là chiều dài sáu gang
tay, chiều rộng hai gang rưỡi theo gang tay của đức Thiện Thệ. Nếu vượt
quá mức ấy thì (vải choàng tắm mưa) nên được cắt bớt và phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).”
[773] Vải choàng tắm mưa
nghĩa là nhằm nhu cầu của bốn tháng mùa mưa.
Trong lúc cho thực hiện:
trong khi (tự) làm hoặc trong khi bảo làm.
Nên bảo làm theo kích
thước: Ở đây, kích thước này là chiều dài sáu gang tay chiều rộng
hai gang rưỡi theo gang tay của đức Thiện Thệ (1,50 m x 0,625 m). Vị
(tự) làm hoặc bảo làm vượt quá mức ấy, trong lúc thực hiện thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Do sự đạt được thì nên cắt bớt rồi nên sám hối
tội pācittiya (ưng đối trị).
[774] Vị tự mình hoàn tất
phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị bảo những người khác hoàn
tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Vị tự mình hoàn tất phần
những người khác chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Vị bảo những người khác hoàn
tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Vị (tự) làm hoặc bảo làm vì
nhu cầu của vị khác thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Được làm bởi người khác, vị
đạt được rồi sử dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[775] Vị làm theo kích thước,
vị làm nhỏ hơn, sau khi đạt được (vải choàng tắm mưa) do người khác làm
quá kích thước thì cắt bớt rồi sử dụng, vị làm mái che hoặc tấm lót nền
hoặc khung màn chắn xung quanh hoặc nệm hoặc gối kê, vị bị điên, vị vi
phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ chín.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI:
[776] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, đại đức Nanda con trai người dì của đức Thế Tôn là đẹp
dáng, đáng nhìn, khả ái, và thấp hơn đức Thế Tôn bốn ngón tay. Vị ấy mặc
y có kích thước y của đức Thiện Thệ. Các tỳ khưu trưởng lão đã nhìn thấy
đại đức Nanda từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy (nghĩ rằng): “Đức
Thế Tôn đi đến” rồi đã rời chỗ ngồi đứng dậy. Các vị ấy sau khi nhận
ra người đang đi đến liền phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao đại đức Nanda lại
mặc y có kích thước y của đức Thiện Thệ?
…(như trên)…
- Này Nanda, nghe nói ngươi
mặc y có kích thước y của đức Thiện Thệ, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này Nanda, vì sao ngươi lại
mặc y có kích thước y của đức Thiện Thệ vậy? Này Nanda, sự việc này
không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm
niềm tin của những người đã có đức tin. … (như trên)… Và này các tỳ
khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào
cho thực hiện y có kích thước y của đức Thiện Thệ hoặc rộng hơn thì (y
ấy) nên được cắt bớt và phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Trong trường
hợp này, kích thước y của đức Thiện Thệ dành cho đức Thiện Thệ là chiều
dài chín gang tay, chiều rộng sáu gang theo gang tay của đức Thiện Thệ.
Đây là kích thước y của đức Thiện Thệ dành cho đức Thiện Thệ.”
[777] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Kích thước y của đức Thiện
Thệ nghĩa là chiều dài chín gang tay, chiều rộng sáu gang theo gang
tay của đức Thiện Thệ.[6]
Cho thực hiện: vị (tự)
làm hoặc bảo làm, trong lúc thực hiện phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Do sự đạt được thì nên cắt bớt rồi nên sám hối tội pācittiya (ưng
đối trị).
[778] Vị tự mình hoàn tất
phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị bảo những người khác hoàn
tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Vị tự mình hoàn tất phần
những người khác chưa làm xong thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Vị bảo những người khác hoàn
tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Vị (tự) làm hoặc bảo làm vì
nhu cầu của vị khác thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Được làm bởi người khác, vị
đạt được rồi sử dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[779] Vị làm nhỏ hơn, sau khi
đạt được (y) do người khác làm quá kích thước thì cắt bớt rồi sử dụng,
vị làm mái che hoặc tấm lót nền hoặc khung màn chắn xung quanh hoặc nệm
hoặc gối kê, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ mười.
Phần Báu Vật là phần thứ chín.
*******
Tóm lược phần
này:
Của vua, vật quý giá,
vị hiện diện, kim may,
(chân) giường, độn bông gòn,
tọa cụ, và ghẻ lở,
(choàng tắm) thuộc mùa mưa,
và (y) đức Thiện Thệ.
*******
[780] Bạch chư đại đức, chín
mươi hai điều pācittiya (ưng đối trị) đã được đọc tụng
xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức rằng: Chắc hẳn các vị được
thanh tịnh trong vấn đề này?
Đến lần thứ nhì, tôi hỏi
rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?
Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng:
Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?
Các đại đức được thanh tịnh
nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Dứt Chương Pācittiya (Ưng Đối Trị).
*******
[1]
Vidha được đề cập ở Tiểu Phẩm - Cullavagga, V, [165].
[2]
Añjanī, añjanīsalākā được đề cập ở Tiểu Phẩm -
Cullavagga, V, [160].
[3]
Udakapuñchanī được đề cập ở Tiểu Phẩm - Cullavagga, V,
[100].
[4]
Sugataṅgulena: theo ngón tay của đức Thiện Thệ. Theo từ điển
của Childers, aṅgula là bề rộng của ngón tay, tương dương 1
inch =2,54 cm; vậy 8 aṅgula = 2,54 x 8 = 20,32 cm. Tài liệu
The Buddhist Monsatic Code cho biết chiều dài của 8 aṅgula
vào khoảng 16,6 cm; đó là nói về chân giường (pādakaṃ). Tuy nhiên, do
câu sau: “ngoại trừ phần khung giường ở bên dưới” nên chân
giường được tính từ dưới đất lên phần bên dưới mối nối của thanh ngang
và chân giường, hay nói cách khác 8 aṅgula chính là khoảng hở
giữa mặt đất và thanh ngang của khung giường. Hiểu theo cách này thì
chỗ nằm cách mặt đất bao nhiêu cũng không được xác định rõ, có thể là
40 cm hoặc 50 cm tùy theo bề rộng của thanh ngang (độ cao như vậy xét
ra cũng hợp lý). Nếu tính ngón tay của đức Thiện Thệ có chiều dài gấp
ba lần ngón tay của người bình thường thì giường nằm có vẻ hơi cao
(tối thiểu là 70 cm nếu tính thanh ngang của giường có bề rộng là 20
cm).
[5]
Với những kích thước của tọa cụ, y đắp ghẻ, và y tắm mưa, độ dài gang
tay của đức Thiện Thệ nên lấy số đo là 25 cm tức là độ dài gang tay
của người nam bậc trung thay vì gấp ba lần (xem thêm điều
saṅghādisesa (tăng tàng) thứ 6 về làm cốc liêu). Như thế, kích
thước tọa cụ căn bản không đường viền là 50 cm x 37,5 cm. Đức Phật cho
phép đường viền là 25 cm, chúng tôi nghĩ là viền cả bốn cạnh; nhưng
khi đọc lời trình bày về tọa cụ có kèm theo hình vẽ của ngài
Mahāsamaṇa Chao trong tài liệu Vinayamukha vấn đề xem ra phức
tạp hơn nhiều, quý vị nên tìm đọc để suy nghiệm.
[6]
2,25 m x 1,50 m, theo kích thước này thì lớn hơn y nội nhưng nhỏ hơn y
vai trái đang sử dụng hiện nay.
-ooOoo-
Đầu trang |
Mục lục |
07a |
07b |
07c |
08a |
08b |
08c |
08d |
08e |
08f |
08g |
08h | 08i |
09 |
10 |
Phân tích Giới Tỳ-khưu I |
Phân tích Giới Tỳ-khưu Ni |
Giới thiệu
|