|
Tạng Luật -
Bộ Phân Tích Giới Bổn
Vinaya Pitaka -
Suttavibhanga
Phân Tích Giới Tỳ-khưu - II
(Bhikkhuvibhanga II)
Tỳ-khưu Indacanda
Nguyệt Thiên dịch
Mục lục |
07a |
07b |
07c |
08a |
08b |
08c | 08d |
08e |
08f |
08g |
08h |
08i |
09 |
10 |
Phân tích Giới Tỳ-khưu I |
Phân tích Giới Tỳ-khưu Ni |
Giới thiệu
VIII. CHƯƠNG PĀCITTIYA (ƯNG ĐỐI TRỊ)
(tt)
PHẦN VẬT THỰC - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:
[470] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, ở không xa thành Sāvatthi có phường hội nọ sắp đặt sự
thí thực tại phước xá. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư vào buổi sáng sau khi mặc
y, cầm y bát, đi vào thành Sāvatthi để khất thực, khi không nhận được đồ
ăn khất thực đã đi đến phước xá. Dân chúng (nói rằng): “Lâu lắm các
ngài đại đức mới đến” rồi đã phục vụ một cách trịnh trọng. Sau đó
vào ngày thứ nhì, vào ngày thứ ba, các tỳ khưu nhóm Lục Sư vào buổi sáng
sau khi mặc y, cầm y bát, đã đi vào thành Sāvatthi để khất thực, khi
không nhận được đồ ăn khất thực đã đi đến phước xá và thọ thực. Sau đó,
các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã khởi ý điều này: “Chúng ta sẽ làm điều gì
đây, có nên đi về tu viện rồi cũng sẽ trở lại chính nơi này?” Các vị
tiếp tục cư ngụ tại chính nơi ấy và thọ dụng vật thực ở phước xá. Các
ngoại đạo lánh xa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại sao các sa-môn Thích tử
cứ tiếp tục cư trú và thọ dụng vật thực ở phước xá? Vật thực ở phước xá
được sắp đặt đâu có dành riêng cho các vị; vật thực ở phước xá được sắp
đặt dành cho tất cả!
Các tỳ khưu đã nghe được
những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục
Sư lại tiếp tục cư trú và thọ dụng vật thực ở phước xá?
…(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi tiếp tục cư trú và thọ dụng vật thực ở phước xá, có đúng không
vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi lại tiếp tục cư trú và thọ dụng vật thực ở phước xá vậy? Này
những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như
trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vật thực ở phước xá được thọ dụng một lần. Nếu vượt quá số ấy thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” Và điều học này đã được đức Thế
Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[471] Vào lúc bấy giờ, đại
đức Sārīputta trong khi đi đến thành Sāvatthi ở trong xứ sở Kosala đã
ghé lại phước xá nọ. Dân chúng (nói rằng): “Lâu lắm trưởng lão mới
đến” rồi đã phục vụ một cách trịnh trọng. Sau đó, khi đại đức
Sārīputta đã thọ thực xong, có cơn bệnh ngặt nghèo đã phát khởi. Đại đức
đã không thể rời trú xá ấy ra đi. Sau đó vào ngày thứ nhì, những người
ấy đã nói với đại đức Sārīputta điều này:
- Thưa ngài, xin hãy thọ
thực.
Khi ấy, đại đức Sārīputta
(nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm tiếp tục cư trú và thọ dụng vật thực
ở phước xá,” trong lúc ngần ngại đã không thọ lãnh nên bữa ăn đã bị
lỡ. Sau đó, đại đức Sārīputta đã đi đến thành Sāvatthi và kể lại sự việc
ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi
ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi
bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép vị tỳ khưu bị bệnh được tiếp tục cư trú và thọ thực ở phước xá. Và
này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ
khưu không bị bệnh được thọ dụng vật thực ở phước xá một lần. Nếu vượt
quá số ấy thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[472] Không bị bệnh
nghĩa là có thể lìa phước xá ấy ra đi.
Bệnh nghĩa là không
thể lìa phước xá ấy ra đi.
Vật thực ở phước xá
nghĩa là loại vật thực nào đó thuộc về năm loại vật thực được phân phát
theo nhu cầu không chỉ định (người thọ) ở trong phòng, hoặc ở mái che,
hoặc ở gốc cây, hoặc ở ngoài trời. Vị tỳ khưu không bị bệnh nên thọ thực
một lần, nếu (nghĩ rằng): “Ta sẽ ăn” rồi thọ lãnh vượt quá số lần
ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
[473] Khi không bị bệnh, nhận
biết là không bị bệnh, vị thọ dụng vật thực ở phước xá vượt quá số lần
ấy thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi không bị bệnh, có sự hoài
nghi, vị thọ dụng vật thực ở phước xá vượt quá số lần ấy thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Khi không bị bệnh, (lầm)
tưởng là có bệnh, vị thọ dụng vật thực ở phước xá vượt quá số lần ấy thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi bị bệnh, (lầm) tưởng là
không bị bệnh, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi bị bệnh, có sự hoài nghi,
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi bị bệnh, nhận biết là bị
bệnh thì vô tội.
[474] Vị bị bệnh, vị không bị
bệnh thọ thực một lần, vị thọ thực khi chuẩn bị ra đi hoặc khi vừa mới
đến, các người chủ thỉnh và mời ăn, được sắp đặt dành riêng (cho vị ấy),
được sắp đặt không đủ theo nhu cầu (phần ăn rất ít ỏi), trừ ra năm loại
vật thực (thọ dụng) tất cả (các thức khác) thì không phạm tội, vị bị
điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ nhất.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ:
[475] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc.
Vào lúc bấy giờ, Devadatta bị mất mát về lợi lộc và danh vọng nên cùng
với tùy tùng liên tục yêu cầu các gia đình rồi thọ thực. Dân chúng phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại sao các sa-môn Thích tử
lại liên tục yêu cầu các gia đình rồi thọ thực? Khi được đầy đủ ai mà
không vừa ý? Đồ ngon ngọt ai lại không thích thú?
Các tỳ khưu đã nghe được
những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao Devadatta cùng với
tùy tùng lại liên tục yêu cầu các gia đình rồi thọ thực?
…(như trên)…
- Này Devadatta, nghe nói
ngươi cùng với tùy tùng liên tục yêu cầu các gia đình rồi thọ thực, có
đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi
cùng với tùy tùng lại liên tục yêu cầu các gia đình rồi thọ thực vậy?
Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như
trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Trường hợp vật thực dâng chung nhóm thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu
như thế.
[476] Vào lúc bấy giờ, dân
chúng thỉnh mời các tỳ khưu bị bệnh với bữa trai phạn. Các tỳ khưu trong
lúc ngần ngại không nhận lời (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán
vật thực dâng chung nhóm.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp
thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép tỳ khưu bị bệnh được thọ dụng vật thực dâng chung nhóm. Và này các
tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Trường hợp vật
thực dâng chung nhóm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có
duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: trường hợp bị bệnh.
Đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.” Và điều học này đã được đức
Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[477] Vào lúc bấy giờ, trong
thời hạn dâng y dân chúng sau khi chuẩn bị bữa trai phạn có dâng y rồi
thỉnh mời các tỳ khưu (nói rằng): “Sau khi mời thọ thực, chúng tôi sẽ
dâng y.” Các tỳ khưu trong lúc ngần ngại không nhận lời (nghĩ rằng):
“Đức Thế Tôn đã cấm đoán vật thực dâng chung nhóm.” Y được phát
sanh ít ỏi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép thọ dụng vật thực dâng chung nhóm trong thời hạn dâng y. Và này các
tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Trường hợp vật
thực dâng chung nhóm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có
duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: trường hợp bị bệnh, trong
thời hạn dâng y. Đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.” Và
điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[478] Vào lúc bấy giờ, dân
chúng thỉnh mời các tỳ khưu là những vị đang may y với bữa trai phạn.
Các tỳ khưu trong lúc ngần ngại không nhận lời (nghĩ rằng): “Đức Thế
Tôn đã cấm đoán vật thực dâng chung nhóm.” Các vị đã trình sự việc
ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép thọ dụng vật thực dâng chung nhóm trong lúc may y. Và này các tỳ
khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Trường hợp vật
thực dâng chung nhóm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có
duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: trường hợp bị bệnh, trong
thời hạn dâng y, trong lúc may y. Đây là duyên cớ trong trường
hợp ấy.” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ
khưu như thế.
[479] Vào lúc bấy giờ, các tỳ
khưu đi đường xa cùng với dân chúng. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã nói
với những người ấy điều này:
- Này các đạo hữu, hãy chờ
đợi chốc lát. Chúng tôi sẽ đi khất thực.
Những người ấy đã nói như
vầy:
- Thưa các ngài, hãy thọ thực
ở ngay đây.
Các tỳ khưu trong lúc ngần
ngại không thọ lãnh (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán vật thực
dâng chung nhóm.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép thọ dụng vật thực dâng chung nhóm trong trường hợp đi đường xa. Và
này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Trường
hợp vật thực dâng chung nhóm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại
trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: trường hợp bị bệnh,
trong thời hạn dâng y, trong lúc may y, trong lúc đi đường xa.
Đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.” Và điều học này đã được đức
Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[480] Vào lúc bấy giờ, các tỳ
khưu đi thuyền cùng với dân chúng. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã nói với
những người ấy điều này:
- Này các đạo hữu, hãy đưa
thuyền vào bờ chốc lát. Chúng tôi sẽ đi khất thực.
Những người ấy đã nói như
vầy:
- Thưa các ngài, hãy thọ thực
ở ngay đây.
Các tỳ khưu trong lúc ngần
ngại không thọ lãnh (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán vật thực
dâng chung nhóm.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép thọ dụng vật thực dâng chung nhóm trong trường hợp lên thuyền. Và
này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Trường
hợp vật thực dâng chung nhóm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại
trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: trường hợp bị bệnh,
trong thời hạn dâng y, trong lúc may y, trường hợp đi đường xa, trường
hợp lên thuyền. Đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.” Và điều
học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[481] Vào lúc bấy giờ, các tỳ
khưu khi trải qua mùa (an cư) mưa ở các nơi đi đến thành Rājagaha để
diện kiến đức Thế Tôn. Dân chúng khi nhìn thấy các tỳ khưu người khác xứ
sở đã thỉnh mời với bữa trai phạn. Các vị tỳ khưu trong lúc ngần ngại
không nhận lời (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán vật thực dâng
chung nhóm.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép thọ dụng vật thực dâng chung nhóm trong trường hợp đông đảo (các tỳ
khưu). Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Trường hợp vật thực dâng chung nhóm thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị) ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: trường hợp
bị bệnh, trong thời hạn dâng y, trong lúc may y, trường hợp đi đường xa,
trường hợp lên thuyền, trường hợp đông đảo (các tỳ khưu). Đây là
duyên cớ trong trường hợp ấy.” Và điều học này đã được đức Thế Tôn
quy định cho các tỳ khưu như thế.
[482] Vào lúc bấy giờ, có
người thân quyến ruột thịt của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã
xuất gia nơi các đạo sĩ lõa thể. Khi ấy, người đạo sĩ lõa thể ấy đã đi
đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã nói với đức
vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:
- Tâu đại vương, tôi muốn làm
bữa ăn cho tất cả các giáo phái khác.
- Thưa ngài, nếu ngài có thể
dâng vật thực đến hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu trước tiên thì
trẫm có thể làm như thế.
Sau đó, người đạo sĩ lõa thể
ấy đã phái sứ giả đi gặp các tỳ khưu (nói rằng):
- Xin các tỳ khưu hãy nhận
lời bữa ăn vào ngày mai của tôi.
Các tỳ khưu trong lúc ngần
ngại không nhận lời (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán vật thực
dâng chung nhóm.” Sau đó, người đạo sĩ lõa thể ấy đã đi đến gặp đức
Thế Tôn, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao
đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng ở một bên. Khi đã đứng một bên,
người đạo sĩ lõa thể ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Ngài Gotama đã xuất gia,
tôi cũng đã xuất gia. Người đã xuất gia thì xứng đáng để thọ nhận vật
thực của người đã xuất gia. Xin ngài Gotama nhận lời tôi về bữa trai
phạn vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.
Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng
thái độ im lặng. Khi ấy, người đạo sĩ lõa thể ấy hiểu được sự nhận lời
của đức Thế Tôn nên đã ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự
kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép thọ dụng vật thực dâng chung nhóm trong trường hợp bữa trai phạn
của sa-môn. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như
vầy: “Trường hợp vật thực dâng chung nhóm thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị) ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: trường
hợp bị bệnh, trong thời hạn dâng y, trong lúc may y, trường hợp đi đường
xa, trường hợp lên thuyền, trường hợp đông đảo (các tỳ khưu), trường hợp
bữa trai phạn của sa-môn. Đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.”
[483] Vật thực thuộc về
nhóm nghĩa là nơi nào bốn vị tỳ khưu được thỉnh mời với loại vật
thực nào đó trong năm loại vật thực rồi thọ thực, việc này gọi là vật
thực dâng chung nhóm.
Ngoại trừ có duyên cớ:
trừ ra có duyên cớ.
Trường hợp bị bệnh
nghĩa là ngay cả (trường hợp) các bàn chân bị nứt nẻ. (Nghĩ rằng): “Trường
hợp bị bệnh” rồi nên thọ thực.
Trong thời hạn dâng y
nghĩa là khi Kaṭhina không được thành tựu thì tháng cuối cùng của
mùa mưa, khi Kaṭhina được thành tựu thì năm tháng. (Nghĩ rằng): “Trong
thời hạn dâng y” rồi nên thọ thực.
Trong lúc may y nghĩa
là trong lúc y đang được may. (Nghĩ rằng): “Trong lúc may y” rồi
nên thọ thực.
Trường hợp đi đường xa
nghĩa là (nghĩ rằng): “Ta sẽ đi nửa do tuần”
[1]
rồi nên thọ thực. Vị sắp sửa đi thì nên thọ thực. Vị vừa mới đến thì nên
thọ thực.
Trường hợp lên thuyền
nghĩa là (nghĩ rằng): “Ta sẽ lên thuyền” rồi nên thọ thực. Vị đã
lên thuyền thì nên thọ thực. Vị vừa rời (thuyền) thì nên thọ thực.
Trường hợp đông đảo (các
tỳ khưu) nghĩa là nơi nào hai hay ba vị tỳ khưu đi khất thực thì
khất thực được mau mắn (yāpenti). Khi có vị thứ tư đi đến thì khất thực
không được mau mắn (na yāpenti). (Nghĩ rằng): “Trường hợp đông đảo”
rồi nên thọ thực.
Trường hợp bữa trai phạn
của sa-môn nghĩa là bất cứ người nào thành tựu phẩm chất du sĩ thực
hiện bữa trai phạn. (Nghĩ rằng): “Trường hợp bữa trai phạn của sa-môn”
rồi nên thọ thực.
Ngoại trừ có duyên cớ,
(nghĩ rằng): “Ta sẽ thọ thực” rồi thọ lãnh thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
[484] Vật thực dâng chung
nhóm, nhận biết là vật thực dâng chung nhóm, vị thọ thực thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có duyên cớ.
Vật thực dâng chung nhóm, có
sự hoài nghi, vị thọ thực thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị)
ngoại trừ có duyên cớ.
Vật thực dâng chung nhóm,
(lầm) tưởng không phải là vật thực dâng chung nhóm, vị thọ thực thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có duyên cớ.
Không phải vật thực dâng
chung nhóm, (lầm) tưởng là vật thực dâng chung nhóm, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Không phải vật thực dâng
chung nhóm, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không phải vật thực dâng
chung nhóm, nhận biết không phải là vật thực dâng chung nhóm thì vô tội.
[485] Khi có duyên cớ, hai
hoặc ba vị thọ thực chung, sau khi đi khất thực tụ hội chung lại (một
chỗ) rồi thọ thực, trong bữa ăn thường kỳ, trong bữa ăn (phân phối) theo
thẻ, vào mỗi nửa tháng, vào ngày Uposatha, vào ngày đầu của mỗi
nửa tháng, (thọ dụng) tất cả (các thức khác) thì không phạm tội trừ ra
năm loại vật thực, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ nhì.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ BA:
[486] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Vesālī, Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc
bấy giờ, trong thành Vesālī sự luân phiên về các bữa trai phạn gồm các
thức ăn hảo hạng đã được ấn định. Khi ấy, có người lao công nghèo nọ đã
khởi ý điều này: “Theo như cách những người này thực hiện bữa trai
phạn một cách trịnh trọng thì việc này không phải là tầm thường, hay là
ta nên thực hiện bữa trai phạn?” Sau đó, người lao công nghèo ấy đã
đi đến gặp cậu chủ tên Kira, sau khi đến đã nói với cậu chủ tên Kira ấy
rằng:
- Thưa cậu chủ, tôi muốn thực
hiện bữa trai phạn dâng hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu, hãy cho
tôi tiền lương.
Cậu chủ tên Kira ấy cũng có
niềm tin và mộ đạo. Khi ấy, cậu chủ tên Kira ấy đã cho người lao công
nghèo ấy tiền lương phụ trội. Sau đó, người lao công nghèo ấy đã đi đến
gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một
bên. Khi đã ngồi xuống một bên, người lao công nghèo ấy đã nói với đức
Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, xin đức Thế Tôn
nhận lời con về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.
- Này đạo hữu, người hãy biết
hội chúng tỳ khưu là đông đảo.
- Bạch ngài, hội chúng tỳ
khưu hãy là đông đảo. Con đã chuẩn bị được nhiều táo. Các thức uống trộn
với táo sẽ được đầy đủ.
Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng
thái độ im lặng. Khi ấy, người lao công nghèo ấy hiểu được sự nhận lời
của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng
vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Các tỳ khưu đã nghe được
rằng: “Nghe nói hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu đã được người
lao công nghèo thỉnh mời vào ngày mai, các thức uống trộn với táo sẽ
được đầy đủ.” Các vị ấy đã đi khất thực vào lúc sáng sớm rồi đã thọ
thực. Dân chúng đã nghe được rằng: “Nghe nói hội chúng tỳ khưu có đức
Phật đứng đầu đã được người lao công nghèo thỉnh mời.” Họ đã mang
lại cho người lao công nghèo vô số vật thực loại cứng loại mềm.
Sau đó, khi trải qua đêm ấy
người lao công nghèo ấy đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng
loại cứng loại mềm rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn:
- Bạch ngài, đã đến giờ, thức
ăn đã chuẩn bị xong.
Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế
Tôn đã mặc y, cầm y bát, đi đến tư gia của người lao công nghèo ấy, sau
khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng
tỳ khưu. Sau đó, người lao công nghèo ấy đã phục vụ các tỳ khưu ở trong
nhà ăn. Các tỳ khưu đã nói như vầy:
- Này đạo hữu, hãy dâng chút
ít thôi. Này đạo hữu, hãy dâng chút ít thôi.
- Thưa các ngài, chớ có thọ
lãnh chỉ chút ít (vì nghĩ rằng): “Người lao công này nghèo.” Tôi
đã cho chuẩn bị sẵn sàng vô số vật thực loại cứng loại mềm. Thưa các
ngài, hãy thọ lãnh theo như ước muốn.
- Này đạo hữu, không phải vì
lý do này mà chúng tôi thọ lãnh chỉ chút ít, tuy nhiên vào lúc sáng sớm
chúng tôi đã đi khất thực và đã thọ thực rồi; vì thế chúng tôi thọ lãnh
chỉ chút ít.
Khi ấy, người lao công nghèo
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại sao các ngài đại đức đã
được tôi thỉnh mời còn thọ thực ở nơi khác? Không lẽ tôi không đủ khả
năng để bố thí theo như ước muốn hay sao?
Các tỳ khưu đã nghe được
người lao công nghèo ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham
muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu khi được
thỉnh mời ở nơi khác lại thọ thực ở nơi khác?
…(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các tỳ khưu khi được thỉnh mời ở nơi khác còn thọ thực ở nơi khác, có
đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi khi được thỉnh mời ở nơi khác lại thọ thực ở nơi khác vậy? Này
những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như
trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Trường hợp vật thực thỉnh sau thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[487] Vào lúc bấy giờ, có vị
tỳ khưu nọ bị bệnh. Có vị tỳ khưu khác đã cầm lấy đồ ăn khất thực đi đến
gặp vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:
- Này đại đức, hãy thọ thực.
- Này đại đức, thôi đi. Có sự
chuẩn bị về bữa ăn cho tôi rồi.
Thức ăn của vị tỳ khưu ấy đã
được mang lại khi đã trưa. Vị tỳ khưu ấy đã thọ thực không được như ý.
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý
do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép tỳ khưu bị bệnh được thọ dụng vật thực thỉnh sau. Và này các tỳ
khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Trường hợp vật
thực thỉnh sau thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có
duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: trường hợp bị bệnh.
Đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.” Và điều học này đã được đức
Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[488] Vào lúc bấy giờ, trong
thời hạn dâng y dân chúng sau khi chuẩn bị bữa trai phạn có dâng y rồi
thỉnh mời các tỳ khưu (nói rằng): “Sau khi mời thọ thực, chúng tôi sẽ
dâng y.” Các tỳ khưu trong lúc ngần ngại không nhận lời (nghĩ rằng):
“Đức Thế Tôn đã cấm đoán vật thực thỉnh sau.” Y được phát sanh ít
ỏi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép thọ dụng vật thực thỉnh sau trong thời hạn dâng y. Và này các tỳ
khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Trường hợp vật
thực thỉnh sau thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có
duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: trường hợp bị bệnh, trong
thời hạn dâng y. Đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.” Và
điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[489] Vào lúc bấy giờ, dân
chúng thỉnh mời các tỳ khưu là những vị đang may y với bữa trai phạn.
Các tỳ khưu trong lúc ngần ngại không nhận lời (nghĩ rằng): “Đức Thế
Tôn đã cấm đoán vật thực thỉnh sau.” Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép thọ dụng vật thực thỉnh sau trong lúc may y. Và này các tỳ khưu,
các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Trường hợp vật thực
thỉnh sau thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có duyên
cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: trường hợp bị bệnh, trong thời hạn
dâng y, trong lúc may y. Đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[490] Khi ấy vào buổi sáng,
đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, cùng với đại đức Ānanda là sa-môn hầu
cận đã đi đến gia đình nọ, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được
sắp đặt sẵn. Sau đó, những người ấy đã dâng vật thực đến đức Thế Tôn và
đại đức Ānanda. Đại đức Ānanda trong lúc ngần ngại nên không thọ lãnh.
- Này Ānanda, hãy nhận lấy.
- Bạch Thế Tôn, đã có đủ. Có
sự chuẩn bị về bữa ăn cho con rồi.
- Này Ānanda, như thế thì sau
khi nhường lại (cho vị khác) rồi hãy nhận lấy.
Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý
do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, khi đã
nhường lại sự chuẩn bị về bữa ăn ta cho phép thọ dụng vật thực thỉnh
sau. Và này các tỳ khưu, nên nhường lại như vầy: “Tôi cho đến vị tên
(như vầy) sự chuẩn bị về bữa ăn của tôi.”
[491] Vật thực thỉnh sau
nghĩa là khi đã được thỉnh mời với bất cứ loại vật thực nào thuộc về năm
loại vật thực, trừ ra món ấy vị thọ thực bất cứ loại vật thực nào khác
thuộc về năm loại vật thực; việc này gọi là vật thực thỉnh sau.
Ngoại trừ có duyên cớ:
trừ ra có duyên cớ.
Trường hợp bị bệnh
nghĩa là không thể ngồi ở một chỗ để thọ thực theo như ý muốn. (Nghĩ
rằng): “Trường hợp bị bệnh” rồi nên thọ thực.
Trong thời hạn dâng y
nghĩa là khi Kaṭhina không được thành tựu thì tháng cuối cùng của
mùa mưa, khi Kaṭhina được thành tựu thì năm tháng. (Nghĩ rằng): “Trong
thời hạn dâng y” rồi nên thọ thực.
Trong lúc may y nghĩa
là trong lúc y đang được may. (Nghĩ rằng): “Trong lúc may y” rồi
nên thọ thực.
Ngoại trừ có duyên cớ,
(nghĩ rằng): “Ta sẽ thọ thực” rồi thọ lãnh thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
[492] Vật thực thỉnh sau,
nhận biết là vật thực thỉnh sau, vị thọ thực thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị) ngoại trừ có duyên cớ.
Vật thực thỉnh sau, có sự
hoài nghi, vị thọ thực thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại
trừ có duyên cớ.
Vật thực thỉnh sau, (lầm)
tưởng không phải là vật thực thỉnh sau, vị thọ thực thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có duyên cớ.
Không phải vật thực thỉnh
sau, (lầm) tưởng là vật thực thỉnh sau, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Không phải vật thực thỉnh
sau, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không phải vật thực thỉnh
sau, nhận biết không phải là vật thực thỉnh sau thì vô tội.
[493] Khi có duyên cớ, sau
khi nhường lại (cho vị khác) rồi thọ thực, vị thọ thực hai hoặc ba sự
thỉnh mời chung một lượt, vị thọ thực theo tuần tự của sự thỉnh mời, khi
được toàn bộ cả làng thỉnh mời thì thọ thực ở bất cứ nơi nào ở trong
ngôi làng ấy, khi được toàn bộ cả phường hội thỉnh mời thì thọ thực ở
bất cứ nơi nào ở trong phường hội ấy, khi được thỉnh mời vị nói rằng: “Tôi
sẽ nhận đồ khất thực,” trong bữa ăn thường kỳ, trong bữa ăn (phân
phối) theo thẻ, vào mỗi nửa tháng, vào ngày Uposatha, vào ngày
đầu của mỗi nửa tháng, tất cả (các thức khác) trừ ra năm loại vật thực,
vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ ba.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ TƯ:
[494] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, mẹ của Kāṇā là nữ cư sĩ có niềm tin và mộ đạo. Kāṇā đã
được gả cho người đàn ông nọ ở thôn làng. Khi ấy, Kāṇā đã đi đến nhà mẹ
vì công việc cần làm nào đó. Sau đó, chồng của Kāṇā đã phái người đưa
tin đi đến gặp Kāṇā (nhắn rằng): “Kāṇā hãy trở về. Tôi muốn sự trở về
của Kāṇā.” Khi ấy, nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā (nghĩ rằng): “Thật xấu hổ
khi đi với tay không!” nên đã nấu bánh ngọt. Khi bánh ngọt chín, có
vị tỳ khưu đi khất thực nọ đã đi vào nhà của nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā. Khi
ấy, nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā đã bảo dâng bánh ngọt đến vị tỳ khưu ấy. Vị ấy
sau khi ra đi đã thông báo cho vị khác. Bà ta cũng đã bảo dâng bánh ngọt
đến vị ấy. Vị ấy sau khi ra đi đã thông báo cho vị khác. Bà ta cũng đã
bảo dâng bánh ngọt đến vị ấy. Bánh ngọt được chuẩn bị như thế đã không
còn.
Đến lần thứ nhì, chồng của
Kāṇā đã phái người đưa tin đi đến gặp Kāṇā (nhắn rằng): “Kāṇā hãy trở
về. Tôi muốn sự trở về của Kāṇā.” Đến lần thứ nhì, nữ cư sĩ mẹ của
Kāṇā (nghĩ rằng): “Thật xấu hổ khi đi với tay không!” nên đã nấu
bánh ngọt. Khi bánh ngọt chín, có vị tỳ khưu đi khất thực nọ đã đi vào
nhà của nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā. Khi ấy, nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā đã bảo dâng
bánh ngọt đến vị tỳ khưu ấy. Vị ấy sau khi ra đi đã thông báo cho vị
khác. Bà ta cũng đã bảo dâng bánh ngọt đến vị ấy. Vị ấy sau khi ra đi đã
thông báo cho vị khác. Bà ta cũng đã bảo dâng bánh ngọt đến vị ấy. Bánh
ngọt được chuẩn bị như thế đã không còn.
Đến lần thứ ba, chồng của
Kāṇā đã phái người đưa tin đi đến gặp Kāṇā (nhắn rằng): “Kāṇā hãy trở
về. Tôi muốn sự trở về của Kāṇā. Nếu Kāṇā không trở về, tôi sẽ dắt về
người vợ khác.” Đến lần thứ ba, nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā (nghĩ rằng): “Thật
xấu hổ khi đi với tay không!” nên đã nấu bánh ngọt. Khi bánh ngọt
chín, có vị tỳ khưu đi khất thực nọ đã đi vào nhà của nữ cư sĩ mẹ của
Kāṇā. Khi ấy, nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā đã bảo dâng bánh ngọt đến vị tỳ khưu
ấy. Vị ấy sau khi ra đi đã thông báo cho vị khác. Bà ta cũng đã bảo dâng
bánh ngọt đến vị ấy. Vị ấy sau khi ra đi đã thông báo cho vị khác. Bà ta
cũng đã bảo dâng bánh ngọt đến vị ấy. Bánh ngọt được chuẩn bị như thế đã
không còn.
Sau đó, chồng của Kāṇā đã dắt
về người vợ khác. Kāṇā đã nghe được rằng: “Nghe nói người vợ khác đã
được người đàn ông ấy dắt về.” Cô ấy đã đứng khóc lóc. Khi ấy vào
buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, đi đến nhà của nữ cư sĩ mẹ
của Kāṇā, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi
ấy, nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh
lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã nói với nữ cư sĩ
mẹ của Kāṇā đang ngồi một bên điều này:
- Vì sao Kāṇā này lại khóc
vậy?
Khi ấy, nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā
đã kể lại sự việc ấy cho đức Thế Tôn. Sau đó, đức Thế Tôn đã chỉ dạy,
thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā
bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
[495] Vào lúc bấy giờ, có
đoàn xe nọ có ý định từ thành Rājagaha đi về phía tây. Có vị tỳ khưu đi
khất thực nọ đã đi vào khất thực ở đoàn xe ấy. Có nam cư sĩ nọ đã bảo
dâng đến vị tỳ khưu ấy bánh lúa mạch. Vị ấy sau khi ra đi đã thông báo
cho vị khác. Ông ta cũng đã bảo dâng bánh lúa mạch đến vị ấy. Vị ấy sau
khi ra đi đã thông báo cho vị khác. Ông ta cũng đã bảo dâng bánh lúa
mạch đến vị ấy. Vật dự phòng đường xa được chuẩn bị như thế đã không
còn. Khi ấy, nam cư sĩ ấy đã nói với những người ấy điều này:
- Này các ông, hãy chờ đến
ngày mai. Vật dự phòng đường xa được chuẩn bị như thế đã được dâng đến
các ngài đại đức. Tôi sẽ chuẩn bị vật dự phòng đường xa.
- Này ông, chúng tôi không
thể chờ đợi. Đoàn xe đã khởi hành. Rồi họ đã ra đi.
Khi ấy, nam cư sĩ ấy sau khi
chuẩn bị vật dự phòng đường xa đã đi sau. Bọn đạo tặc đã cướp đoạt. Dân
chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại sao các sa-môn Thích tử
lại thọ lãnh không biết chừng mực? Người này sau khi bố thí cho các vị
ấy rồi trong khi đi sau đã bị cướp đoạt bởi bọn cướp.
Các tỳ khưu đã nghe được
những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân
sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, như thế
thì ta sẽ quy định điều học cho các tỳ khưu vì mười điều lợi ích: Nhằm
đem lại sự tốt đẹp cho hội chúng, nhằm đem lại sự an lạc cho hội chúng,
...(như trên)... và nhằm sự hỗ trợ Luật. Và này các tỳ khưu, các ngươi
nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu khi đi đến gia đình
được yêu cầu nhận lãnh các bánh ngọt hoặc các bánh lúa mạch, vị tỳ khưu
đang mong mỏi thì nên thọ lãnh hai hoặc ba bình bát đầy. Nếu thọ lãnh
quá số lượng ấy thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Sau khi thọ lãnh
hai hoặc ba bình bát đầy, khi mang về từ nơi ấy thì nên chia sẻ cùng với
các tỳ khưu. Đây là sự đúng đắn trong trường hợp ấy.”
[496] Khi vị tỳ khưu đi
đến gia đình: Gia đình nghĩa là có bốn loại gia đình: gia
đình sát-đế-lỵ, gia đình bà-la-môn, gia đình thương buôn, và gia đình
hạng cùng đinh.
Đi đến: là đi đến nơi
ấy.
Bánh ngọt nghĩa là bất
cứ thức gì được chuẩn bị nhằm mục đích làm quà biếu.
Bánh lúa mạch nghĩa là
bất cứ thức gì được chuẩn bị nhằm mục đích làm vật dự phòng đường xa.
Được yêu cầu nhận lãnh:
(Nói rằng): “Ngài thích chừng nào hãy lấy chừng ấy.”
(Với vị) đang mong mỏi:
(với vị) đang ước muốn.
Nên thọ lãnh hai hoặc ba
bình bát đầy: Nên thọ lãnh đầy hai hoặc ba bình bát.
Nếu thọ lãnh quá số lượng
ấy: Vị thọ lãnh quá số lượng ấy thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị). Sau khi thọ lãnh hai hoặc ba bình bát đầy, vị đi ra khỏi nơi
ấy nhìn thấy vị tỳ khưu khác nên thông báo rằng: “Tôi đã thọ lãnh hai
ba bình bát đầy ở nơi kia, chớ thọ lãnh ở đó.” Nếu sau khi nhìn
thấy, vị không thông báo thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Nếu đã
được thông báo vị thọ lãnh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[497] Khi mang về từ nơi
ấy thì nên chia sẻ cùng với các tỳ khưu: là sự đi trở về, sau khi
mang về thì nên chia sẻ.
Đây là sự đúng đắn trong
trường hợp ấy: đây là sự hợp lý trong trường hợp ấy.
Hơn hai ba bình bát đầy, nhận
biết là hơn, vị thọ lãnh thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Hơn hai ba bình bát đầy, có
sự hoài nghi, vị thọ lãnh thì phạm tội pācittiya.
Hơn hai ba bình bát đầy,
(lầm) tưởng là còn kém, vị thọ lãnh thì phạm tội pācittiya.
Còn kém hai ba bình bát đầy,
(lầm) tưởng là hơn, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Còn kém hai ba bình bát đầy,
có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Còn kém hai ba bình bát đầy,
nhận biết là còn kém thì vô tội.
[498] Vị thọ lãnh hai hoặc ba
bình bát đầy, vị thọ lãnh còn kém hai hoặc ba bình bát đầy, họ bố thí
vật đã được chuẩn bị không vì mục đích làm quà biếu hoặc không vì mục
đích làm vật dự phòng đường xa, họ bố thí phần còn thừa khi đã chuẩn bị
vì mục đích làm quà biếu hoặc vì mục đích làm vật dự phòng đường xa, họ
bố thí khi sự ra đi đã bị hủy bỏ, của các thân quyến, của những người
nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân,
vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ tư.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ NĂM:
[499] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, có người bà-la-môn nọ đã thỉnh mời và dâng bữa ăn đến
các tỳ khưu. Khi thọ thực xong và đã từ chối (vật thực dâng thêm), các
tỳ khưu đã đi đến các gia đình thân quyến rồi một số vị đã thọ thực
thêm, một số vị đã nhận lấy đồ khất thực rồi đi. Sau đó, người bà-la-môn
ấy đã nói với hàng xóm điều này:
- Này quý ông, các tỳ khưu đã
được tôi làm hài lòng. Hãy đến, tôi cũng sẽ làm hài lòng quý ông.
Những người ấy đã nói như
vầy:
- Này ông, có phải ông sẽ làm
hài lòng chúng tôi không? Ngay cả những vị đã được ông thỉnh mời còn đi
đến các nhà của chúng tôi, một số đã thọ thực thêm, một số đã nhận lấy
đồ khất thực rồi đi.
Khi ấy, người bà-la-môn ấy
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại sao các ngài đại đức
sau khi thọ thực trong nhà của chúng tôi lại thọ thực ở nơi khác? Không
lẽ tôi không đủ khả năng để bố thí theo như ước muốn hay sao?
Các tỳ khưu đã nghe được
người bà-la-môn ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu thọ thực
xong và đã từ chối (vật thực dâng thêm) lại thọ thực ở nơi khác?
...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các tỳ khưu thọ thực xong và đã từ chối (vật thực dâng thêm) lại thọ
thực ở nơi khác, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này các tỳ khưu, vì sao
những kẻ rồ dại ấy thọ thực xong và đã từ chối (vật thực dâng thêm) lại
thọ thực ở nơi khác vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm
tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những
người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào thọ thực xong và đã từ
chối (vật thực dâng thêm) lại nhai hoặc ăn vật thực cứng hoặc vật thực
mềm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” Và điều học này đã
được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[500] Vào lúc bấy giờ, các tỳ
khưu mang lại các đồ ăn khất thực hảo hạng cho các tỳ khưu bị bệnh. Các
vị bị bệnh ăn không được như ý. Các tỳ khưu đổ bỏ các đồ ăn ấy. Đức Thế
Tôn đã nghe được tiếng động ồn, tiếng động lớn, tiếng kêu của các con
quạ, sau khi nghe đã bảo đại đức Ānanda rằng:
- Này Ānanda, tiếng động ồn,
tiếng động lớn, tiếng kêu của các con quạ ấy là gì vậy?
Khi ấy, đại đức Ānanda đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này Ānanda, các tỳ khưu có
thọ thực thức ăn thừa của vị bệnh không vậy?
- Bạch Thế Tôn, không thọ
thực.
Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý
do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép thọ thực thức ăn thừa của vị bị bệnh và của vị không bị bệnh. Và
này các tỳ khưu, nên làm thành thức ăn thừa như vầy: “Tất cả chừng
này là đủ rồi.” Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Vị tỳ khưu nào thọ thực xong và đã từ chối (vật thực
dâng thêm) lại nhai hoặc ăn vật thực cứng hoặc vật thực mềm không phải
là thức ăn thừa thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[501] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Thọ thực xong nghĩa là
bất cứ loại vật thực nào thuộc về năm loại vật thực đã được ăn, dầu chỉ
với (một chút ở) đầu cọng cỏ kusa.
Đã từ chối (vật thực dâng
thêm) nghĩa là việc ăn được ghi nhận, vật thực được ghi nhận, (thí
chủ) đứng trong tầm tay (1 mét 25) dâng lên (vật thực) và sự từ chối
được ghi nhận.
Không phải là thức ăn thừa
nghĩa là việc làm thành được phép chưa được thực hiện, việc thọ lãnh
chưa được thực hiện, việc nâng lên chưa được thực hiện, (việc dâng) đã
được thực hiện ở ngoài tầm tay, đã được thực hiện bởi vị chưa thọ thực
xong, được thực hiện bởi vị đã thọ thực xong đã từ chối (vật thực dâng
thêm) đã từ chỗ ngồi đứng dậy nhưng chưa nói: “Tất cả chừng này là đủ
rồi,” không phải là thức ăn thừa của vị bị bệnh; vật này gọi là
không phải thức ăn thừa.
Thức ăn thừa nghĩa là
việc làm thành được phép đã được thực hiện, việc thọ lãnh đã được thực
hiện, việc nâng lên đã được thực hiện, (việc dâng) đã được thực hiện ở
trong tầm tay, đã được thực hiện bởi vị đã thọ thực xong, được thực hiện
bởi vị đã thọ thực xong đã từ chối (vật thực dâng thêm) đã từ chỗ ngồi
đứng dậy và đã nói: “Tất cả chừng này là đủ rồi,” là thức ăn thừa
của vị bị bệnh; vật này gọi là thức ăn thừa.
Vật thực cứng nghĩa là
trừ ra năm loại vật thực, vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày,
và vật dùng suốt đời; phần còn lại gọi là vật thực cứng.
Vật thực mềm nghĩa là
năm loại vật thực (gồm có) cơm, xúp, bánh, cá, thịt. (Nghĩ rằng): “Ta
sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ lãnh thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác). Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[502] Không phải thức ăn
thừa, nhận biết không phải là thức ăn thừa, vị nhai hoặc ăn vật thực
cứng hoặc vật thực mềm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Không phải thức ăn thừa, có
sự hoài nghi, vị nhai hoặc ăn vật thực cứng hoặc vật thực mềm thì phạm
tội pācittiya.
Không phải thức ăn thừa,
(lầm) tưởng là thức ăn thừa, vị nhai hoặc ăn vật thực cứng hoặc vật thực
mềm thì phạm tội pācittiya.
Vị thọ lãnh vật dùng đến hết
đêm, vật dùng trong bảy ngày, vật dùng suốt đời vì mục đích vật thực thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Thức ăn thừa, (lầm) tưởng
không phải là thức ăn thừa, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Thức ăn thừa, có sự hoài
nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Thức ăn thừa, nhận biết là
thức ăn thừa thì vô tội.
[503] Sau khi bảo làm thành
thức ăn thừa rồi thọ thực, sau khi bảo làm thành thức ăn thừa vị (nghĩ
rằng): “Ta sẽ ăn” rồi thọ lãnh, vị mang theo vì nhu cầu của vị
khác rồi đi, vị thọ thực phần còn thừa của vị bị bệnh, vị thọ dụng vật
dùng đến hết đêm vật dùng trong bảy ngày vật dùng suốt đời khi có duyên
cớ,[2]
vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ năm.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ SÁU:
[504] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, có hai vị tỳ khưu đang đi đường xa đến thành Sāvatthi ở
trong xứ Kosala. Một vị tỳ khưu hành xử sai nguyên tắc. Vị tỳ khưu thứ
nhì đã nói với vị tỳ khưu kia điều này:
- Này đại đức, chớ làm như
thế. Điều này không được phép.
Vị kia đã kết oan trái với vị
ấy. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã đi đến thành Sāvatthi. Vào lúc bấy giờ,
ở thành Sāvatthi có bữa trai phạn dâng đến hội chúng của phường hội nọ.
Vị tỳ khưu thứ nhì thọ thực xong và đã từ chối (vật thực dâng thêm). Còn
vị tỳ khưu kết oan trái sau khi đi đến nhà thân quyến đã cầm lấy đồ ăn
rồi đi đến gặp vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với vị tỳ khưu ấy điều
này:
- Này đại đức, hãy thọ thực.
- Này đại đức, thôi đi. Tôi
đã đầy.
- Này đại đức, đồ ăn ngon
lắm. Hãy thọ thực.
Khi ấy, vị tỳ khưu ấy trong
lúc bị vị tỳ khưu kia nài ép nên đã thọ thực đồ ăn ấy. Vị tỳ khưu kết
oan trái đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:
- Này đại đức, chính ngươi
mới cần được ta nhắc nhở. Hãy suy nghĩ việc ngươi đã thọ thực xong và đã
từ chối (vật thực dâng thêm) lại thọ thực thức ăn không phải là đồ còn
thừa.
- Này đại đức, sao lại không
chỉ bảo?
- Này đại đức, sao lại không
hỏi?
Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã kể
lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…,
các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao vị tỳ khưu lại yêu
cầu vị tỳ khưu đã thọ thực xong và đã từ chối (vật thực dâng thêm) nhận
lãnh thức ăn không phải là đồ còn thừa?
...(như trên)...
- Này tỳ khưu, nghe nói ngươi
yêu cầu vị tỳ khưu đã thọ thực xong và đã từ chối (vật thực dâng thêm)
nhận lãnh thức ăn không phải là đồ còn thừa, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi
lại yêu cầu vị tỳ khưu đã thọ thực xong và đã từ chối (vật thực dâng
thêm) nhận lãnh thức ăn không phải là đồ còn thừa vậy? Này kẻ rồ dại, sự
việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm
tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và này
các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu
nào có ý muốn bươi móc lỗi lầm biết rõ vị tỳ khưu đã thọ thực xong và đã
từ chối (vật thực dâng thêm) vẫn yêu cầu nhận lãnh vật thực cứng hoặc
vật thực mềm không phải là thức ăn thừa (nói rằng): “Này tỳ khưu, hãy
nhai hoặc hãy ăn đi;” khi vị kia đã ăn thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).”
[505] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Vị tỳ khưu: là vị tỳ
khưu khác.
Thọ thực xong nghĩa là
bất cứ loại vật thực nào thuộc về năm loại vật thực đã được ăn, dầu chỉ
với (một chút ở) đầu cọng cỏ kusa.
Đã từ chối (vật thực dâng
thêm) nghĩa là việc ăn được ghi nhận, vật thực được ghi nhận, (thí
chủ) đứng trong tầm tay (1 mét 25) dâng lên (vật thực) và sự từ chối
được ghi nhận.
Không phải là thức ăn thừa
nghĩa là việc làm thành được phép chưa được thực hiện, việc thọ lãnh
chưa được thực hiện, việc nâng lên chưa được thực hiện, (việc dâng) đã
được thực hiện ở ngoài tầm tay, được thực hiện bởi vị chưa thọ thực
xong, được thực hiện bởi vị đã thọ thực xong đã từ chối (vật thực dâng
thêm) đã từ chỗ ngồi đứng dậy nhưng chưa nói: “Tất cả chừng này là đủ
rồi,” không phải là thức ăn thừa của vị bị bệnh; vật này gọi là
không phải thức ăn thừa.
Vật thực cứng nghĩa là
trừ ra năm loại vật thực, vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày,
và vật dùng suốt đời; phần còn lại gọi là vật thực cứng.
Vật thực mềm nghĩa là
năm loại vật thực (gồm có) cơm, xúp, bánh, cá, thịt.
Yêu cầu nhận lãnh:
(Nói rằng): “Đại đức thích chừng nào hãy lấy chừng ấy.”
Biết nghĩa là tự mình
biết, hoặc các người khác thông báo cho vị ấy, hoặc vị kia thông báo.
Có ý muốn bươi móc lỗi lầm:
(nghĩ rằng): “Ta sẽ quở trách, ta sẽ nhắc nhở, ta sẽ làm cho hối lỗi,
ta sẽ làm cho nhớ lại, ta sẽ làm cho xấu hổ.” Vị mang lại thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác). Với lời nói của vị ấy, (vị kia nghĩ rằng):
“Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ lãnh thì (vị ấy) phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần (vị kia) nuốt xuống thì (vị ấy) phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
[506] Vị đã từ chối (vật thực
dâng thêm), nhận biết là đã từ chối (vật thực dâng thêm), vị yêu cầu
nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm không phải là thức ăn
thừa thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị đã từ chối (vật thực dâng
thêm), có sự hoài nghi, vị yêu cầu nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực
mềm không phải là thức ăn thừa thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Vị đã từ chối (vật thực dâng
thêm), (lầm) tưởng là chưa từ chối (vật thực dâng thêm), vị yêu cầu nhận
lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm không phải là thức ăn thừa
thì vô tội.
Vị mang lại vật dùng đến hết
đêm, vật dùng trong bảy ngày, vật dùng suốt đời vì mục đích vật thực thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác). Với lời nói của vị ấy, (vị kia nghĩ
rằng): “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ lãnh thì (vị ấy) phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần (vị kia) nuốt xuống thì (vị ấy) phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Vị chưa từ chối (vật thực
dâng thêm), (lầm) tưởng là đã từ chối (vật thực dâng thêm), phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Vị chưa từ chối (vật thực
dâng thêm), có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị chưa từ chối (vật thực
dâng thêm), nhận biết là chưa từ chối (vật thực dâng thêm) thì vô tội.
[507] Vị sau khi bảo làm
thành thức ăn thừa rồi cho; sau khi bảo làm thành thức ăn thừa rồi cho
(nói rằng): “Hãy thọ thực;” vị cho (nói rằng): “Hãy đi (và)
mang theo vì nhu cầu của vị khác;” vị cho phần còn thừa của vị bị
bệnh; vị cho vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày, vật dùng
suốt đời (nói rằng): “Hãy thọ dụng khi có duyên cớ;” vị bị điên;
vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ sáu.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ BẢY:
[508] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc.
Vào lúc bấy giờ, ở thành Rājagaha có lễ hội ở trên đỉnh núi. Các tỳ khưu
nhóm Mười Bảy Sư đã đi để xem lễ hội ở trên đỉnh núi. Dân chúng sau khi
nhìn thấy các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư đã cho các vị ấy tắm, đã cho xức
dầu, đã mời ăn, rồi đã dâng vật thực cứng. Các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư
sau khi nhận lấy vật thực cứng đã đi về tu viện và đã nói với các tỳ
khưu nhóm Lục Sư điều này:
- Này các đại đức, hãy nhận
lấy. Hãy nhai vật thực cứng.
- Này các đại đức, vật thực
cứng đã được các ngươi nhận từ đâu vậy?
Các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư
đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu nhóm Lục Sư.
- Này các đại đức, có phải
các ngươi đã thọ dụng vật thực vào lúc sái thời?
- Này các đại đức, đúng vậy.
Các tỳ khưu nhóm Lục Sư phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm
Mười Bảy Sư lại thọ dụng vật thực vào lúc sái thời?
Sau đó, các tỳ khưu nhóm Lục
Sư đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như
trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm
Mười Bảy Sư lại thọ dụng vật thực vào lúc sái thời?
...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi thọ dụng vật thực vào lúc sái thời, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi lại thọ dụng vật thực vào lúc sái thời vậy? Này những kẻ rồ
dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)…
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị
tỳ khưu nào nhai hoặc ăn vật thực cứng hoặc vật thực mềm vào lúc sái
thời thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[509] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Lúc sái thời nghĩa là
từ lúc đã quá nửa ngày cho đến rạng đông (ngày hôm sau).
Vật thực cứng nghĩa là
trừ ra năm loại vật thực, vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày,
và vật dùng suốt đời; phần còn lại gọi là vật thực cứng.
Vật thực mềm nghĩa là
năm loại vật thực (gồm có) cơm, xúp, bánh, cá, thịt. Vị (nghĩ rằng): “Ta
sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ lãnh thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác). Mỗi lần nuốt xuống thì (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
[510] Vào lúc sái thời, nhận
biết là lúc sái thời, vị nhai hoặc ăn vật thực cứng hoặc vật thực mềm
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vào lúc sái thời, có sự hoài
nghi, vị nhai hoặc ăn vật thực cứng hoặc vật thực mềm thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Vào lúc sái thời, (lầm) tưởng
là lúc đúng thời, vị nhai hoặc ăn vật thực cứng hoặc vật thực mềm
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị thọ lãnh vật dùng đến hết
đêm, vật dùng trong bảy ngày, vật dùng suốt đời vì mục đích vật thực thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Vào lúc đúng thời, (lầm)
tưởng là lúc sái thời, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vào lúc đúng thời, có sự hoài
nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vào lúc đúng thời, nhận biết
là lúc đúng thời thì vô tội.
[511] Vị thọ dụng vật dùng
đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày, vật dùng suốt đời khi có duyên cớ;
vị bị điên; vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ bảy.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ TÁM:
[512] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, thầy tế độ của đại đức Ānanda là đại đức Veḷaṭṭhasīsa
cư ngụ ở trong rừng. Vị ấy đi khất thực sau khi nhận được nhiều đồ ăn đã
đem về tu viện phần cơm không bị dính thức ăn rồi đem phơi khô và để
riêng. Khi có nhu cầu về thực phẩm vị ấy ngâm nước rồi thọ dụng; năm ba
bữa vị ấy mới đi vào làng để khất thực. Các tỳ khưu đã nói với đại đức
Veḷaṭṭhasīsa điều này:
- Này đại đức, vì sao năm ba
bữa đại đức mới đi vào làng để khất thực?
Khi ấy, đại đức Veḷaṭṭhasīsa
đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu.
- Này đại đức, có phải đại
đức thọ dụng vật thực đã được tích trữ?
- Nảy các đại đức, đúng vậy.
Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao đại đức Veḷaṭṭhasīsa
lại thọ dụng vật thực đã được tích trữ?
...(như trên)...
- Này Veḷaṭṭhasīsa, nghe nói
ngươi thọ dụng vật thực đã được tích trữ, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này Veḷaṭṭhasīsa, vì sao
ngươi lại thọ dụng vật thực đã được tích trữ vậy? Này Veḷaṭṭhasīsa, sự
việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm
tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và này
các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu
nào nhai hoặc ăn vật thực cứng hoặc vật thực mềm đã được tích trữ thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[513] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Đã được tích trữ nghĩa
là đã được thọ lãnh hôm nay và được nhai vào ngày kế tiếp.
Vật thực cứng nghĩa là
trừ ra năm loại vật thực, vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày,
và vật dùng suốt đời; phần còn lại gọi là vật thực cứng.
Vật thực mềm nghĩa là
năm loại vật thực (gồm có) cơm, xúp, bánh, cá, thịt. Vị (nghĩ rằng): “Ta
sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ lãnh thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác). Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[514] Vật đã được tích trữ,
nhận biết là vật đã được tích trữ, vị nhai hoặc ăn vật thực cứng hoặc
vật thực mềm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vật đã được tích trữ, có sự
hoài nghi, vị nhai hoặc ăn vật thực cứng hoặc vật thực mềm thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vật đã được tích trữ, (lầm)
tưởng không phải là vật đã được tích trữ, vị nhai hoặc ăn vật thực cứng
hoặc vật thực mềm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị thọ lãnh vật dùng đến hết
đêm, vật dùng trong bảy ngày, vật dùng suốt đời vì mục đích vật thực thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội
dukkaṭa.
Không phải là vật đã được
tích trữ, (lầm) tưởng là vật đã được tích trữ, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Không phải là vật đã được
tích trữ, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không phải là vật đã được
tích trữ, nhận biết là không phải là vật đã được tích trữ thì vô tội.
[511] Vị cất giữ vật dùng đến
hết ngọ rồi thọ dụng cho đến hết ngọ, vị cất giữ vật dùng đến hết đêm
rồi thọ dụng trong đêm, vị cất giữ vật dùng trong bảy ngày rồi thọ dụng
trong bảy ngày, vị thọ dụng vật dùng suốt đời khi có duyên cớ, vị bị
điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ tám.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN:
[516] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư yêu cầu các loại vật thực
thượng hạng cho nhu cầu của bản thân rồi thọ dụng. Dân chúng phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Tại sao các sa-môn Thích tử
lại yêu cầu các loại vật thực thượng hạng cho nhu cầu của bản thân rồi
thọ dụng? Khi được đầy đủ ai mà không vừa ý? Đồ ngon ngọt ai lại không
thích thú?
Các tỳ khưu đã nghe được
những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục
Sư lại yêu cầu các loại vật thực thượng hạng cho nhu cầu của bản thân
rồi thọ dụng?
…(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi yêu cầu các loại vật thực thượng hạng cho nhu cầu của bản thân
rồi thọ dụng, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi lại yêu cầu các loại vật thực thượng hạng cho nhu cầu của bản
thân rồi thọ dụng vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại
niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của
những người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi
nên phổ biến điều học này như vầy: “Các loại vật thực thượng hạng như
là bơ lỏng (sappi), bơ đặc (navanītaṃ), dầu ăn (telaṃ), mật ong (madhu),
đường mía (phāṇitaṃ), cá (maccho), thịt (maṃsaṃ), sữa tươi (khīraṃ), sữa
đông (dadhi); vị tỳ khưu nào yêu cầu các loại vật thực thượng hạng như
thế cho nhu cầu của bản thân rồi thọ dụng thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho
các tỳ khưu như thế.
[517] Vào lúc bấy giờ, có các
tỳ khưu bị bệnh. Các tỳ khưu theo dõi bệnh tình đã nói với các tỳ khưu
bị bệnh điều này:
- Này các đại đức, sức khoẻ
có khá không? Mọi việc có được thuận tiện không?
- Này các đại đức, trước đây
chúng tôi yêu cầu các loại vật thực thượng hạng cho nhu cầu của bản thân
rồi thọ dụng, nhờ thế chúng tôi được thoải mái. Giờ đây, (nghĩ rằng): “Đức
Thế Tôn đã cấm đoán,” trong lúc ngần ngại chúng tôi đã không yêu
cầu, vì thế không được thoải mái.
Các vị đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã
thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép vị tỳ khưu bị bệnh được yêu cầu các loại vật thực thượng hạng cho
nhu cầu của bản thân rồi thọ dụng. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Các loại vật thực thượng hạng như là bơ
lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía, cá, thịt, sữa tươi, sữa đông;
vị tỳ khưu nào không bị bệnh mà yêu cầu các loại vật thực thượng hạng
như thế cho nhu cầu của bản thân rồi thọ dụng thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).”
[518] Các loại vật thực
thượng hạng: Bơ lỏng nghĩa là bơ lỏng từ loài bò, hoặc là bơ
lỏng từ loài dê, hoặc là bơ lỏng từ loài trâu, hoặc bơ lỏng từ các loài
thú nào có thịt được phép (thọ thực).[3]
Bơ đặc nghĩa là bơ đặc của chính các loài thú ấy. Dầu ăn
nghĩa là dầu mè, dầu hạt mù tạt, dầu có chứa mật ong (madhukatelaṃ), dầu
cây eraṇḍa, dầu từ mỡ thú. Mật ong nghĩa là mật của loài
ong. Đường mía nghĩa là được sản xuất từ cây mía. Cá nghĩa
là loài di chuyển trong nước được đề cập đến. Thịt nghĩa là thịt
của các loài thú nào có thịt được phép (thọ dụng). Sữa tươi nghĩa
là sữa tươi từ loài bò, hoặc là sữa tươi từ loài dê, hoặc là sữa tươi từ
loài trâu, hoặc là sữa tươi từ các loài thú nào có thịt được phép (thọ
dụng). Sữa đông nghĩa là sữa đông của các loài thú ấy.
[519] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Các loại vật thực thượng
hạng như thế: các loại vật thực thượng hạng có hình thức như thế.
Không bị bệnh nghĩa là
vị có được sự thoải mái khi không có các loại vật thực thượng hạng.
Bị bệnh nghĩa là vị
không có sự thoải mái khi không có các loại vật thực thượng hạng.
Vị không bị bệnh mà yêu cầu
cho nhu cầu của bản thân, trong lúc thực hiện thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). (Nghĩ rằng): “Với sự đạt được, ta sẽ thọ dụng” rồi thọ
lãnh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt xuống thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
[520] Không bị bệnh, nhận
biết là không bị bệnh, vị yêu cầu các loại vật thực thượng hạng cho nhu
cầu của bản thân rồi thọ dụng thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Không bị bệnh, có sự hoài
nghi, vị yêu cầu các loại vật thực thượng hạng cho nhu cầu của bản thân
rồi thọ dụng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Không bị bệnh, (lầm) tưởng là
bị bệnh, vị yêu cầu các loại vật thực thượng hạng cho nhu cầu của bản
thân rồi thọ dụng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Bị bệnh, (lầm) tưởng là không
bị bệnh, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Bị bệnh, có sự hoài nghi,
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Bị bệnh, nhận biết là bị bệnh
thì vô tội.
[521] Vị bị bệnh, sau khi bị
bệnh rồi yêu cầu thì hết bệnh và thọ dụng, vị thọ dụng phần còn lại của
vị bị bệnh, của các thân quyến, của những người nói lời thỉnh cầu, vì
nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân, vị bị điên, vị vi
phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ chín.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI:
[522] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Vesālī, Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc
bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ là vị chuyên sử dụng vật quăng bỏ
(sabbapaṃsukūliko) cư ngụ ở nghĩa địa. Vị ấy khi được dân chúng bố thí
lại không muốn thọ lãnh. Vị ấy tự mình nhặt lấy các vật cúng vong ở
trong nghĩa địa, ở gốc cây, ở ngưỡng cửa rồi thọ dụng. Dân chúng phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại sao vị tỳ khưu này lại
tự mình nhặt lấy các vật cúng vong của chúng tôi rồi thọ dụng? Vị tỳ
khưu này cứng cáp vạm vỡ chắc hẳn có ăn thịt người?
Các tỳ khưu đã nghe được
những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao vị tỳ khưu lại đưa
thức ăn chưa được bố thí vào miệng?
…(như trên)…
- Này tỳ khưu, nghe nói ngươi
đưa thức ăn chưa được bố thí vào miệng, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi
lại đưa thức ăn chưa được bố thí vào miệng vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc
này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng
thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ
khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào
đưa thức ăn chưa được bố thí vào miệng thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định
cho các tỳ khưu như thế.
[523] Vào lúc bấy giờ, các tỳ
khưu ngần ngại về nước và tăm xỉa răng. Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép tự mình cầm lấy nước và tăm xỉa răng rồi thọ dụng. Và này các tỳ
khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào
đưa thức ăn chưa được bố thí vào miệng ngoại trừ nước và tăm xỉa răng
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[524] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Chưa được bố thí nghĩa
là chưa thọ lãnh được đề cập đến.
Đã được bố thí nghĩa
là trong khi cho (vật thí) bằng thân, hoặc bằng vật dính liền với thân,
hoặc bằng cách buông ra, (thí chủ) đứng trong tầm tay (1 mét 25), vị
nhận lãnh bằng thân hoặc bằng vật được gắn liền với thân; điều này gọi
là đã được bố thí.
Thức ăn nghĩa là bất
cứ vật gì nên được nuốt vào vật ấy gọi là thức ăn ngoại trừ nước và tăm
xỉa răng.
Ngoại trừ nước và tăm xỉa
răng: trừ ra nước và tăm xỉa răng. Vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ nhai,
ta sẽ ăn” rồi cầm lấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần
nuốt xuống thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[525] Chưa được thọ lãnh,
nhận biết là chưa được thọ lãnh, vị đưa thức ăn chưa được bố thí vào
miệng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ nước và tăm
xỉa răng.
Chưa được thọ lãnh, có sự
hoài nghi, vị đưa thức ăn chưa được bố thí vào miệng thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ nước và tăm xỉa răng.
Chưa được thọ lãnh, (lầm)
tưởng là đã được thọ lãnh, vị đưa thức ăn chưa được bố thí vào miệng thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ nước và tăm xỉa răng.
Đã được thọ lãnh, (lầm) tưởng
là chưa được thọ lãnh, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Đã được thọ lãnh, có sự hoài
nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Đã được thọ lãnh, nhận biết
là đã được thọ lãnh thì vô tội.
[526] Trường hợp nước và tăm
xỉa răng, vị tự mình nhặt lấy rồi thọ dụng bốn loại vật dơ có tính quan
trọng[4]
khi có duyên cớ và không có người làm cho được phép, vị bị điên, vị vi
phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ mười.
Phần Vật Thực là phần thứ tư.
*******
Tóm lược phần
này:
Vật thực (ở phước xá),
vật thực dâng chung nhóm,
mời đây thọ nơi kia,
bánh ngọt, và hai chuyện
ăn xong đã chối từ,
sái thời, được tích trữ,
(các thức ăn) thượng hạng,
vào cửa miệng là mười.
*******
[1]
Tài liệu The Buddhist Monastic Code cho biết khoảng cách của
nửa yojana là 8 km hoặc 5 miles.
[2]
Khi có cơn khát vị thọ dụng vật dùng hết đêm để chận đứng cơn khát;
khi có bệnh sanh khởi, vị thọ dụng vật dùng trong bảy ngày hoặc vật
dùng suốt đời để làm giảm nhẹ cơn bệnh thì vô tội (giải thích theo
ngài Buddhaghosa).
[3]
Thịt của mười loài thú vị tỳ khưu không được phép thọ thực được đề cập
ở Đại Phẩm – Mahāvagga, chương VI, [59, 60] gồm có: thịt người,
thịt voi, thịt ngựa, thịt chó, thịt rắn, thịt sư tử, thịt hổ, thịt
beo, thịt gấu, thịt chó sói.
[4]
Cattāri mahāvikatāni: bốn loại vật dơ có tính quan trọng là:
phân (gūthaṃ), nước tiểu (muttaṃ), tro (chārikaṃ), và đất sét
(mattikaṃ) được sử dụng trong trường hợp bị rắn cắn (Sđd., VI,
[43]).
-ooOoo-
Đầu trang |
Mục lục |
07a |
07b |
07c |
08a |
08b |
08c | 08d |
08e |
08f |
08g |
08h |
08i |
09 |
10 |
Phân tích Giới Tỳ-khưu I |
Phân tích Giới Tỳ-khưu Ni |
Giới thiệu
|