|
Tạng Luật -
Bộ Phân Tích Giới Bổn
Vinaya Pitaka -
Suttavibhanga
Phân Tích Giới Tỳ-khưu - II
(Bhikkhuvibhanga II)
Tỳ-khưu Indacanda
Nguyệt Thiên dịch
Mục lục |
07a |
07b |
07c |
08a |
08b |
08c |
08d |
08e | 08f |
08g |
08h |
08i |
09 |
10 |
Phân tích Giới Tỳ-khưu I |
Phân tích Giới Tỳ-khưu Ni |
Giới thiệu
VIII. CHƯƠNG PĀCITTIYA (ƯNG ĐỐI TRỊ)
(tt)
PHẦN UỐNG RƯỢU - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:
[575] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn trong khi du hành ở xứ Cetiya đã đi đến ngôi làng Bhaddavatikā.
Những người giữ bò, chăn dê, nông phu, khách đi đường đã nhìn thấy đức
Thế Tôn từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn
điều này:
- Bạch ngài, xin đức Thế Tôn
chớ đi đến Ambatittha. Bạch ngài, ở Ambatittha có con rồng sống trong
khu ẩn cư của đạo sĩ thờ lửa là con rắn có pháp thuật, có nọc độc khủng
khiếp, chớ để nó hãm hại đức Thế Tôn.
Khi được nói như thế, đức Thế
Tôn đã im lặng. Đến lần thứ nhì, ...(như trên)...
Đến lần thứ ba, những người
giữ bò, chăn dê, nông phu, khách đi đường đã nói với đức Thế Tôn điều
này:
- Bạch ngài, xin đức Thế Tôn
chớ đi đến Ambatittha. Bạch ngài, ở Ambatittha có con rồng sống trong
khu ẩn cư của đạo sĩ thờ lửa là con rắn có pháp thuật, có nọc độc khủng
khiếp, chớ để nó hãm hại đức Thế Tôn.
Đến lần thứ ba, đức Thế Tôn
đã im lặng.
Sau đó, trong khi tuần tự du
hành đức Thế Tôn đã ngự đến ngôi làng Bhaddavatikā. Tại nơi đó, đức Thế
Tôn đã trú ngụ ở ngôi làng Bhaddavatikā.
Khi ấy, đại đức Sāgata đã đi
về phía Ambatittha đến khu ẩn cư của đạo sĩ thờ lửa, sau khi đến đã đi
vào nhà thờ lửa, rồi đã sắp đặt tấm thảm trải bằng cỏ, ngồi xuống, xếp
(chân) thế kiết già, giữ thân thẳng, tập trung niệm ở phía trước. Con
rồng ấy đã nhìn thấy đại đức Sāgata đi vào, sau khi nhìn thấy đã trở nên
không vui, bực bội, rồi đã phun khói. Đại đức Sāgata cũng đã phun khói.
Khi ấy, con rồng không còn đè nén được cơn giận nên đã phun ra lửa. Đại
đức Sāgata cũng đã nhập thiền đề mục lửa và đã phun ra lửa. Sau đó, đại
đức Sāgata đã dùng lửa (của ngài) đoạt lấy ngọn lửa của con rồng ấy rồi
đã đi về phía Bhaddavatikā.
Sau đó, khi đã ngự tại
Bhaddavatikā theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía
thành Kosambī. Các cư sĩ ở thành Kosambī đã nghe được rằng: “Nghe nói
ngài đại đức Sāgata đã gây chiến với con rồng ở Ambatittha.” Sau đó,
trong khi tuần tự du hành, đức Thế Tôn đã ngự đến thành Kosambī. Khi ấy,
các cư sĩ ở thành Kosambī sau khi đi ra tiếp đón đức Thế Tôn đã đi đến
gặp đại đức Sāgata, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Sāgata rồi đứng ở một
bên. Khi đã đứng một bên, các cư sĩ ở thành Kosambī đã nói với đại đức
Sāgata điều này:
- Thưa ngài, vật gì các ngài
đại đức khó có được và ưng ý? Chúng tôi nên chuẩn bị vật gì?
Khi được nói như thế, các tỳ
khưu nhóm Lục Sư đã nói với các cư sĩ ở thành Kosambī điều này:
- Này các đạo hữu, có thứ
rượu cất tên Bồ Câu thì các tỳ khưu khó có được và ưng ý, hãy chuẩn bị
thức ấy.
Sau đó, các cư sĩ ở thành
Kosambī đã chuẩn bị rượu cất tên Bồ Câu ở mỗi nhà, rồi khi nhìn thấy đại
đức Sāgata đang đi khất thực đã nói với đại đức Sāgata điều này:
- Thưa ngài, xin ngài đại đức
Sāgata hãy uống rượu cất tên Bồ Câu. Thưa ngài, xin ngài đại đức Sāgata
hãy uống rượu cất tên Bồ Câu.
Sau đó, khi đã uống rượu cất
tên Bồ Câu ở mỗi nhà, đại đức Sāgata trong lúc đang đi ra khỏi thành phố
đã té ngã ở cổng thành. Khi ấy, đức Thế Tôn đang đi ra khỏi thành phố
cùng với nhiều vị tỳ khưu đã nhìn thấy đại đức Sāgata bị té ngã ở cổng
thành, sau khi nhìn thấy đã bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, hãy đưa
Sāgata về.
- Bạch ngài, xin vâng.
Các vị tỳ khưu ấy nghe theo
lời đức Thế Tôn sau khi đưa đại đức Sāgata về lại tu viện đã đặt nằm
xuống, đầu hướng về đức Thế Tôn. Khi ấy, đại đức Sāgata đã xoay tròn
vòng đưa hai chân hướng về đức Thế Tôn rồi nằm ngủ. Khi ấy, đức Thế Tôn
đã bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, phải chăng
Sāgata đã có sự tôn kính và có sự vâng lời đối với Như Lai.
- Bạch ngài, đúng vậy.
- Này các tỳ khưu, vậy bây
giờ Sāgata có sự tôn kính và có sự vâng lời đối với Như Lai không?
- Bạch ngài, điều ấy không
có.
- Này các tỳ khưu, phải chăng
Sāgata đã gây chiến với con rồng ở Ambatittha?
- Bạch ngài, đúng vậy.
- Này các tỳ khưu, vậy bây
giờ Sāgata có đủ sức gây chiến với con rắn nước không?
- Bạch ngài, điều ấy không
có.
- Này các tỳ khưu, vậy loại
thức uống nào sau khi uống vào sẽ trở thành mất tỉnh táo thì có nên uống
loại ấy không?
- Bạch ngài, điều ấy không
nên.
- Này các tỳ khưu, thật không
đúng đắn cho Sāgata, thật không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp
sa-môn, không được phép, không nên làm! Này các tỳ khưu, vì sao Sāgata
lại uống men say vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm
tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những
người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Khi uống rượu và men say thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).”
[576] Rượu nghĩa là
rượu từ bột, rượu từ bánh ngọt, rượu từ cơm, đã được rắc men vào, đã
được trộn vào các hương liệu cần thiết.
Men say nghĩa là chất
mật từ bông hoa, nước trích ra từ trái cây, nước trích ra từ mật ong,
nước trích ra từ đường mía đã được trộn vào các hương liệu cần thiết.
Uống: vị uống vào dầu
chỉ với (một chút ở) đầu cọng cỏ kusa thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
[577] Men say, nhận biết là
men say, vị uống vào thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Men say, có sự hoài nghi, vị
uống vào thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Men say, (lầm) tưởng không
phải là men say, vị uống vào thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Không phải là men say, (lầm)
tưởng là men say, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không phải là men say, có sự
hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không phải là men say, nhận
biết không phải là men say thì vô tội.
[578] Vị uống vào chất có màu
sắc của men say có hương của men say có vị của men say nhưng không phải
là men say, khi được nấu chung với xúp, khi được nấu chung với thịt, khi
được nấu chung với dầu ăn, ở trong nước mật của trái cây āmalaka,
vị uống nước cất không men say, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô
tội.
Dứt điều học thứ nhất.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ:
[579] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã chọc cười vị tỳ khưu nhóm
Mười Bảy Sư bằng cách dùng ngón tay thọt léc. Vị tỳ khưu ấy trong lúc bị
cười quá mức không thở được nên đã chết đi. Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục
Sư lại chọc cười vị tỳ khưu bằng cách dùng ngón tay thọt léc?
…(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi chọc cười vị tỳ khưu bằng cách dùng ngón tay thọt léc, có đúng
không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi lại chọc cười vị tỳ khưu bằng cách dùng ngón tay thọt léc vậy?
Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ
chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức
tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Khi thọt léc bằng ngón tay thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).”
[580] Thọt léc bằng ngón
tay nghĩa là kích thích bằng ngón tay. Vị đã tu lên bậc trên,
có ý định chọc cười vị đã tu lên bậc trên rồi sờ vào cơ thể (vị kia)
bằng cơ thể (của mình) thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[581] Vị đã tu lên bậc trên,
nhận biết là đã tu lên bậc trên, vị chọc cười bằng cách dùng ngón tay
thọt léc thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị đã tu lên bậc trên, có sự
hoài nghi, vị chọc cười bằng cách dùng ngón tay thọt léc thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Vị đã tu lên bậc trên, (lầm)
tưởng là chưa tu lên bậc trên, vị chọc cười bằng cách dùng ngón tay thọt
léc thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[582] Vị sờ vào vật được gắn
liền với cơ thể (vị kia) bằng cơ thể (của mình) thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Vị sờ vào cơ thể (vị kia)
bằng vật được gắn liền với cơ thể (của mình) thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Vị sờ vào vật được gắn liền
với cơ thể (vị kia) bằng vật được gắn liền với cơ thể (của mình) thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị sờ vào cơ thể (vị kia)
bằng vật (do mình) ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị sờ vào vật được gắn liền
với cơ thể (vị kia) bằng vật (do mình) ném ra thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Vị sờ vào vật (do vị kia) ném
ra bằng vật (do mình) ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[583] Với vị chưa tu lên bậc
trên, vị sờ vào cơ thể (vị kia) bằng cơ thể (của mình) thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Vị sờ vào vật được gắn liền
với cơ thể (vị kia) bằng cơ thể (của mình) thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Vị sờ vào cơ thể (vị kia)
bằng vật được gắn liền với cơ thể (của mình) thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Vị sờ vào vật được gắn liền
với cơ thể (vị kia) bằng vật được gắn liền với cơ thể (của mình) thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị sờ vào cơ thể (vị kia)
bằng vật (do mình) ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị sờ vào vật được gắn liền
với cơ thể (vị kia) bằng vật (do mình) ném ra thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Vị sờ vào vật (do vị kia) ném
ra bằng vật (do mình) ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[584] Người chưa tu lên bậc
trên, (lầm) tưởng là đã tu lên bậc trên, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Người chưa tu lên bậc trên,
có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Người chưa tu lên bậc trên,
nhận biết là chưa tu lên bậc trên, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[585] Không có ý định chọc
cười, vị sờ vào khi có việc cần phải làm, vị bị điên, vị vi phạm đầu
tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ nhì.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ BA:
[586] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư đùa nghịch ở trong nước
của giòng sông Aciravatī. Vào lúc bấy giờ, đức vua Pasenadi xứ Kosala
cùng với hoàng hậu Mallikā ngự ở tầng trên của tòa lâu đài. Đức vua
Pasenadi xứ Kosala đã nhìn thấy các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư đang đùa
nghịch ở trong nước của giòng sông Aciravatī, sau khi nhìn thấy đã nói
với với hoàng hậu Mallikā điều này:
- Này hậu Mallikā, các vị
A-la-hán này đùa nghịch ở trong nước.
- Tâu đại vương, chắc chắn là
điều học chưa được đức Thế Tôn quy định hoặc là các vị tỳ khưu ấy không
biết.
Sau đó, đức vua Pasenadi xứ
Kosala đã khởi ý điều này: “Bằng phương thức nào để ta không phải
trình lên đức Thế Tôn mà đức Thế Tôn có thể biết được các tỳ khưu này
đùa nghịch ở trong nước?” Khi ấy, đức vua Pasenadi xứ Kosala đã cho
mời các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư đến rồi đã dâng khối đường lớn cho các
vị ấy (nói rằng):
- Thưa các ngài, xin hãy dâng
lên đức Thế Tôn khối đường này.
Các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư
đã cầm lấy khối đường ấy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với
đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, đức vua dâng
khối đường này đến đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, đức vua đã
gặp các ngươi ở đâu?
- Bạch Thế Tôn, trong khi
đang đùa nghịch ở trong nước của giòng sông Aciravatī.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi lại đùa nghịch ở trong nước vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc
này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng
thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ
khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Khi chơi giỡn ở
trong nước thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[587] Chơi giỡn ở trong
nước nghĩa là vị có ý định chơi giỡn ở trong nước ngập trên mắt cá
chân rồi hụp xuống hoặc trồi lên hoặc bơi lội thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
[588] Chơi giỡn ở trong nước,
nhận biết là chơi giỡn, phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Chơi giỡn ở trong nước, có sự
hoài nghi, phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Chơi giỡn ở trong nước, (lầm)
tưởng là không chơi giỡn, phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[589] Vị đùa nghịch ở trong
nước ngập dưới mắt cá chân thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị đùa
nghịch với chiếc thuyền thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị đập vỗ
trong nước bằng cánh tay hoặc bằng bàn chân hoặc với khúc cây hoặc với
mảnh sành thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị đùa nghịch nước hoặc
cháo chua hoặc sữa tươi hoặc sữa pha loãng hoặc nước nhuộm y hoặc nước
tiểu hoặc nước bùn chứa ở trong chậu thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
[590] Không chơi giỡn ở trong
nước, (lầm) tưởng là chơi giỡn, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không chơi giỡn ở trong nước,
có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không chơi giỡn ở trong nước,
nhận biết là không chơi giỡn ở trong nước thì vô tội.
[591] Không có ý định chơi
giỡn, vị đi xuống nước khi có việc cần phải làm rồi hụp xuống hoặc trồi
lên hoặc bơi lội, trong khi đi sang bờ bên kia rồi hụp xuống hoặc trồi
lên hoặc bơi lội, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu
tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ ba.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ TƯ:
[592] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Kosambī, tu viện Ghosita. Vào lúc bấy giờ, đại đức
Channa hành xử không đúng nguyên tắc. Các tỳ khưu đã nói như vầy:
- Này đại đức Channa, chớ
hành động như thế. Điều ấy không được phép.
Vị ấy hành động tỏ ra vẻ
không tôn trọng. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao đại đức Channa lại
thể hiện sự không tôn trọng?
…(như trên)…
- Này Channa, nghe nói ngươi
thể hiện sự không tôn trọng, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi
lại thể hiện sự không tôn trọng vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không
đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm
tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Khi có sự không tôn trọng
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[593] Sự không tôn trọng
nghĩa là có hai sự không tôn trọng: sự không tôn trọng người và sự
không tôn trọng Pháp.
Sự không tôn trọng người
nghĩa là khi đang được vị đã tu lên bậc trên nói về điều đã được quy
định, vị (nghĩ rằng): “Vị này bị phạt án treo, hoặc bị xem thường,
hoặc bị khiển trách, hoặc lời nói của vị này sẽ không được thực hiện”
rồi thể hiện sự không tôn trọng thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Sự không tôn trọng Pháp
nghĩa là khi đang được vị đã tu lên bậc trên nói về điều đã được quy
định, vị (nghĩ rằng): “Làm thế nào để điều này có thể được hủy bỏ,
hoặc được thủ tiêu, hoặc được biến mất?” hoặc là vị không có ý muốn
học tập điều ấy rồi thể hiện sự không tôn trọng thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
[594] Vị đã tu lên bậc trên,
nhận biết là đã tu lên bậc trên, vị thể hiện sự không tôn trọng thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị đã tu lên bậc trên, có sự
hoài nghi, vị thể hiện sự không tôn trọng thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Vị đã tu lên bậc trên, (lầm)
tưởng là chưa tu lên bậc trên, vị thể hiện sự không tôn trọng thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
[595] Khi đang được vị đã tu
lên bậc trên nói về điều không được quy định, vị (nghĩ rằng): “Thực
hành điều này không đưa đến sự đoạn trừ, không đưa đến sự
từ bỏ, không đưa đến sự hoan hỷ, không đưa đến sự giảm
thiểu, không đưa đến sự ra sức nỗ lực” rồi thể hiện sự không
tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi đang được vị chưa tu lên
bậc trên nói về điều đã được quy định hoặc không được quy định, vị (nghĩ
rằng): “Thực hành điều này không đưa đến sự đoạn trừ, không
đưa đến sự từ bỏ, không đưa đến sự hoan hỷ, không đưa đến
sự giảm thiểu, không đưa đến sự ra sức nỗ lực” rồi thể
hiện sự không tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[596] Người chưa tu lên bậc
trên, (lầm) tưởng là đã tu lên bậc trên, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Người chưa tu lên bậc trên,
có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Người chưa tu lên bậc trên,
nhận biết là chưa tu lên bậc trên, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[597] Vị nói rằng: “Sự
giáo dục của các vị thầy dạy học của chúng tôi là như vầy, hãy kiểm tra,”
vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ tư.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ NĂM:
[598] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã làm các vị tỳ khưu nhóm Mười
Bảy Sư kinh sợ. Trong lúc bị làm cho kinh sợ, các vị ấy khóc lóc. Các tỳ
khưu đã nói như vầy:
- Này các đại đức, vì sao các
vị khóc lóc?
- Thưa các đại đức, các tỳ
khưu nhóm Lục Sư này đã làm chúng tôi kinh sợ.
Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục
Sư lại làm các tỳ khưu kinh sợ?
…(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi làm các tỳ khưu kinh sợ, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi lại làm các tỳ khưu kinh sợ vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc
này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng
thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ
khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào
làm vị tỳ khưu kinh sợ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[599] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Vị tỳ khưu: là vị tỳ
khưu khác.
Làm kinh sợ: vị đã tu
lên bậc trên có ý định làm kinh sợ vị đã tu lên bậc trên rồi đem lại
cảnh sắc hoặc cảnh thinh hoặc cảnh khí hoặc cảnh vị hoặc cảnh xúc thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị) cho dầu vị kia bị kinh sợ hoặc
không bị kinh sợ. Vị kể về sự nguy hiểm của trộm cướp hoặc sự nguy hiểm
của thú dữ hoặc sự nguy hiểm của quỷ sứ thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị) cho dầu vị kia bị kinh sợ hoặc không bị kinh sợ.
[600] Vị đã tu lên bậc trên,
nhận biết là đã tu lên bậc trên, vị làm kinh sợ thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Vị đã tu lên bậc trên, có sự
hoài nghi, vị làm kinh sợ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị đã tu lên bậc trên, (lầm)
tưởng là chưa tu lên bậc trên, vị làm kinh sợ thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
[601] Vị đã tu lên bậc trên
có ý định làm kinh sợ vị chưa tu lên bậc trên rồi đem lại cảnh sắc hoặc
cảnh thinh hoặc cảnh khí hoặc cảnh vị hoặc cảnh xúc thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác) cho dầu vị kia bị kinh sợ hoặc không bị kinh sợ. Vị
kể về sự nguy hiểm của trộm cướp hoặc sự nguy hiểm của thú dữ hoặc sự
nguy hiểm của quỷ sứ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) cho dầu vị kia
bị kinh sợ hoặc không bị kinh sợ.
[602] Vị chưa tu lên bậc
trên, (lầm) tưởng là đã tu lên bậc trên, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Vị chưa tu lên bậc trên, có
sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị chưa tu lên bậc trên, nhận
biết là chưa tu lên bậc trên, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[603] Vị không có ý định làm
kinh sợ rồi đem lại cảnh sắc hoặc cảnh thinh hoặc cảnh khí hoặc cảnh vị
hoặc cảnh xúc, vị kể về sự nguy hiểm của trộm cướp hoặc sự nguy hiểm của
thú dữ hoặc sự nguy hiểm của quỷ sứ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì
vô tội.
Dứt điều học thứ năm.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ SÁU:
[604] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại xứ Bhagga, thành Susumāragira, trong rừng Bhesakalā, chỗ
vườn nai. Vào lúc bấy giờ trong tháng mùa lạnh, các tỳ khưu sau khi đốt
lên ngọn lửa ở khúc gỗ lớn nọ có lỗ hổng rồi sưởi ấm. Và ở trong lỗ hổng
ấy có con rắn đen bị phỏng lửa nên bò ra ngoài và tấn công các vị tỳ
khưu. Các tỳ khưu đã chạy nơi này nơi nọ.
Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu lại đốt
lên ngọn lửa rồi sưởi ấm?
…(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các tỳ khưu đốt lên ngọn lửa rồi sưởi ấm, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này các tỳ khưu, vì sao
những kẻ rồ dại ấy lại đốt lên ngọn lửa rồi sưởi ấm vậy? Này các tỳ
khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)…
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị
tỳ khưu nào có ý định sưởi ấm rồi đốt lên hoặc bảo đốt lên ngọn lửa thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” Và điều học này đã được đức Thế
Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[605] Vào lúc bấy giờ, có các
tỳ khưu bị bệnh. Các tỳ khưu thăm hỏi bệnh tình đã nói với các tỳ khưu
bị bệnh điều này:
- Này các đại đức, sức khoẻ
có khá không? Mọi việc có được thuận tiện không?
- Này các đại đức, trước đây
chúng tôi đốt lên ngọn lửa rồi sưởi ấm, nhờ thế chúng tôi được thoải
mái. Giờ đây, (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán,” trong lúc
ngần ngại nên không sưởi ấm; vì thế chúng tôi không được thoải mái.
Các vị đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép vị tỳ khưu bị bệnh đốt lên hoặc bảo đốt lên ngọn lửa rồi sưởi ấm.
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị
tỳ khưu nào không bị bệnh có ý định sưởi ấm rồi đốt lên hoặc bảo đốt lên
ngọn lửa thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” Và điều học này đã
được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[606] Vào lúc bấy giờ, các tỳ
khưu ngần ngại trong việc đốt đèn, trong việc đốt lửa ở nhà tắm hơi. Các
vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép đốt lên hoặc bảo đốt lên ngọn lửa khi có các nhân duyên như thế. Và
này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ
khưu nào không bị bệnh có ý định sưởi ấm rồi đốt lên hoặc bảo đốt lên
ngọn lửa thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có nhân duyên
như thế.”
[607] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Không bệnh nghĩa là vị
có được sự thoải mái khi không có ngọn lửa.
Bị bệnh nghĩa là vị
không có sự thoải mái khi không có ngọn lửa.
Có ý định sưởi ấm: có
ý muốn hơ nóng.
Ngọn lửa nghĩa
là lửa được đề cập đến.
Đốt lên: vị tự mình
đốt lên thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Bảo đốt lên: vị ra
lệnh người khác thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Khi được ra
lệnh một lần, dầu (vị kia) đốt nhiều lần vị (ra lệnh) phạm (chỉ một) tội
pācittiya (ưng đối trị).
Ngoại trừ có nhân duyên
như thế: trừ ra có nhân duyên như thế.
[608] Không bị bệnh, nhận
biết là không bị bệnh, vị có ý định sưởi ấm rồi đốt lên hoặc bảo đốt lên
ngọn lửa thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có nhân
duyên như thế.
Không bị bệnh, có sự hoài
nghi, vị có ý định sưởi ấm rồi đốt lên hoặc bảo đốt lên ngọn lửa thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có nhân duyên như thế.
Không bị bệnh, (lầm) tưởng là
bị bệnh, vị có ý định sưởi ấm rồi đốt lên hoặc bảo đốt lên ngọn lửa thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có nhân duyên như thế.
Vị nhặt lên khúc củi đang
cháy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Bị bệnh, (lầm) tưởng là không
bị bệnh, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Bị bệnh, có sự hoài nghi,
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Bị bệnh, nhận biết là bị bệnh
thì vô tội.
[609] Vị bị bệnh, vị sưởi ấm
khi (ngọn lửa) đã được thực hiện bởi vị khác, vị sưởi ấm ở chỗ tro tàn
(không còn ngọn lửa), khi đốt đèn, khi đốt lửa (nung bình bát), ở trong
nhà tắm hơi, ngoại trừ có nhân duyên như thế, trong những lúc có sự cố,
vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ sáu.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ BẢY:
[610] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu thường tắm ở giòng sông Tapodā.
[1]
Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha (nghĩ rằng): “Ta sẽ gội
đầu” rồi đã đi đến sông Tapodā và đã chờ đợi ở một bên (nghĩ rằng):
“Đến khi các ngài đại đức tắm xong.” Các tỳ khưu đã tắm đến khi
trời tối hẳn. Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha sau khi gội
đầu xong vào ban đêm thì cửa thành đã đóng nên đã ngụ lại bên ngoài
thành. Vào lúc sáng sớm, đức vua với dầu thoa chưa được tẩm hương đã đi
đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở
một bên. Đức Thế Tôn đã nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đang
ngồi một bên điều này:
- Tâu đại vương, vì sao ngài
lại đến sớm với dầu thoa chưa được tẩm hương?
Khi ấy, đức vua Seniya
Bimbisāra xứ Magadha đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức
Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho
đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã
được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi
bằng bài Pháp thoại, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã từ chỗ ngồi
đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng
tỳ khưu lại rồi đã hỏi các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các tỳ khưu sau khi nhìn thấy ngay cả đức vua vẫn tắm không biết chừng
mực?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này các tỳ khưu, vì sao
những kẻ rồ dại ấy sau khi nhìn thấy ngay cả đức vua vẫn tắm không biết
chừng mực vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho
những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã
có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào tắm khi chưa đủ nửa tháng thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn
quy định cho các tỳ khưu như thế.
[611] Vào lúc bấy giờ, nhằm
lúc trời nóng nực nhằm lúc trời oi bức, các tỳ khưu trong lúc ngần ngại
không tắm rồi đi ngủ với thân thể đẫm mồ hôi. Y và chỗ nằm ngồi bị dơ
bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, vào lúc
trời nóng nực vào lúc trời oi bức ta cho phép tắm khi chưa đủ nửa tháng.
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị
tỳ khưu nào tắm khi chưa đủ nửa tháng thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị) ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: (Nghĩ
rằng): ‘Một tháng rưỡi còn lại của mùa nóng’ và tháng đầu tiên của mùa
mưa, như vậy thành hai tháng rưỡi là lúc trời nóng nực là lúc trời oi
bức; đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.” Và điều học này đã được
đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[612] Vào lúc bấy giờ, có các
tỳ khưu bị bệnh. Các tỳ khưu thăm hỏi bệnh tình đã nói với các tỳ khưu
bị bệnh điều này:
- Này các đại đức, sức khoẻ
có khá không? Mọi việc có được thuận tiện không?
- Này các đại đức, trước đây
chúng tôi tắm khi chưa đủ nửa tháng, nhờ thế chúng tôi được thoải mái.
Giờ đây, (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán,” trong lúc
ngần ngại nên không tắm; vì thế chúng tôi không được thoải mái.
Các vị đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, ta cho
phép vị tỳ khưu bị bệnh tắm khi chưa đủ nửa tháng. Và này các tỳ khưu,
các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào tắm khi
chưa đủ nửa tháng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có
duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: (Biết rằng): ‘Một tháng rưỡi
còn lại của mùa nóng’ và tháng đầu tiên của mùa mưa, như vậy thành hai
tháng rưỡi là lúc trời nóng nực là lúc trời oi bức, trường hợp bị bệnh;
đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.” Và điều học này đã được đức
Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[613] Vào lúc bấy giờ, các tỳ
khưu sau khi thực hiện công trình mới, trong lúc ngần ngại không tắm rồi
đi ngủ với thân thể đẫm mồ hôi. Y và chỗ nằm ngồi bị dơ bẩn. Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, trong
trường hợp có công việc ta cho phép tắm khi chưa đủ nửa tháng. Và này
các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu
nào tắm khi chưa đủ nửa tháng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại
trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: (Nghĩ rằng): ‘Một
tháng rưỡi còn lại của mùa nóng’ và tháng đầu tiên của mùa mưa, như vậy
thành hai tháng rưỡi là lúc trời nóng nực là lúc trời oi bức, trường hợp
bị bệnh, trường hợp có công việc; đây là duyên cớ trong trường
hợp ấy.” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ
khưu như thế.
[614] Vào lúc bấy giờ, các tỳ
khưu sau khi đi đường xa, trong lúc ngần ngại không tắm rồi đi ngủ với
thân thể đẫm mồ hôi. Y và chỗ nằm ngồi bị dơ bẩn. Các vị đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, trong
trường hợp đi đường xa ta cho phép tắm khi chưa đủ nửa tháng. Và này các
tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào
tắm khi chưa đủ nửa tháng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ
có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: (Nghĩ rằng): ‘Một tháng
rưỡi còn lại của mùa nóng’ và tháng đầu tiên của mùa mưa, như vậy thành
hai tháng rưỡi là lúc trời nóng nực là lúc trời oi bức, trường hợp bị
bệnh, trường hợp có công việc, trường hợp đi đường xa; đây là
duyên cớ trong trường hợp ấy.” Và điều học này đã được đức Thế Tôn
quy định cho các tỳ khưu như thế.
[615] Vào lúc bấy giờ, nhiều
vị tỳ khưu trong khi thực hiện việc may y ở ngoài trời đã bị bao phủ bởi
cơn gió có bụi, và trời thì mưa lâm râm. Các vị tỳ khưu trong lúc ngần
ngại không tắm rồi đi ngủ với thân thể bị ẩm ướt. Y và chỗ nằm ngồi bị
dơ bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, trong
trường hợp mưa gió ta cho phép tắm khi chưa đủ nửa tháng. Và này các tỳ
khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào
tắm khi chưa đủ nửa tháng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ
có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: (Nghĩ rằng): ‘Một tháng
rưỡi còn lại của mùa nóng’ và tháng đầu tiên của mùa mưa, như vậy thành
hai tháng rưỡi là lúc trời nóng nực, là lúc trời oi bức, trường hợp bị
bệnh, trường hợp có công việc, trường hợp đi đường xa, trường hợp mưa
gió; đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.”
[616] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Chưa đủ nửa tháng:
chưa tới nửa tháng.
Tắm: Vị tắm với bột
tắm hoặc với đất sét, trong lúc thực hiện thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Khi hoàn tất việc tắm thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Ngoại trừ có duyên cớ:
trừ ra có duyên cớ.
Lúc trời nóng nực
nghĩa là một tháng rưỡi còn lại của mùa nóng.
Lúc trời oi bức nghĩa
là tháng đầu tiên của mùa mưa; vị (biết rằng): “Như vậy thành hai
tháng rưỡi là lúc trời nóng nực là lúc trời oi bức” rồi nên tắm.
Trường hợp bị bệnh
nghĩa là vị không có thoải mái khi không tắm; vị (nghĩ rằng): “Trường
hợp bị bệnh” rồi nên tắm.
Trường hợp có công việc
nghĩa là ngay cả việc căn phòng được quét bụi; vị (nghĩ rằng): “Trường
hợp có công việc” rồi nên tắm.
Trường hợp đi đường xa
nghĩa là (biết rằng) “Ta sẽ đi nửa do tuần”[2]
rồi nên tắm. Vị sắp sửa đi thì nên tắm. Vị đã đi thì nên tắm.
Trường hợp mưa gió
nghĩa là các vị tỳ khưu đã bị bao phủ bởi cơn gió có bụi, hoặc là hai
hoặc ba giọt nước mưa đã rơi trên thân thể; vị (nghĩ rằng): “Trường
hợp mưa gió” rồi nên tắm.
[617] Chưa đủ nửa tháng, nhận
biết là chưa đủ, vị tắm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị)
ngoại trừ có duyên cớ.
Chưa đủ nửa tháng, có sự hoài
nghi, vị tắm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có
duyên cớ.
Chưa đủ nửa tháng, (lầm)
tưởng là đã hơn, vị tắm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị)
ngoại trừ có duyên cớ.
Hơn nửa tháng, (lầm) tưởng là
chưa đủ, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hơn nửa tháng, có sự hoài
nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hơn nửa tháng, nhận biết là
đã hơn thì vô tội.
[618] Khi có duyên cớ, vị tắm
khi được nửa tháng, vị tắm khi hơn nửa tháng, vị tắm khi đi sang bờ bên
kia sông, ở tất cả các xứ sở vùng biên địa,[3]
trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ bảy.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ TÁM:
[619] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu và các du sĩ ngoại đạo đang đi đường
xa từ thành Sāketa đến thành Sāvatthi. Giữa đường, bọn trộm cướp đã xuất
hiện và cướp bóc các vị ấy. Quân lính của đức vua xuất phát từ thành
Sāvatthi sau khi bắt được bọn cướp ấy cùng với đồ đạc đã phái sứ giả đến
gặp các tỳ khưu (nói rằng):
- Các đại đức hãy đi đến, các
vị hãy nhận ra rồi hãy lấy đi y của chính mình.
Các vị tỳ khưu không nhận ra
được y. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại sao các ngài đại đức
lại không nhận biết y của chính bản thân?
Các tỳ khưu đã nghe được
những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy
nhân sự kiện ấy sau khi triệu tập hội chúng tỳ khưu lại đã thuyết Pháp
thoại thích đáng và phù hợp cho các tỳ khưu rồi đã bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, như thế
thì ta sẽ quy định điều học cho các tỳ khưu vì mười điều lợi ích: Nhằm
đem lại sự tốt đẹp cho hội chúng, nhằm đem lại sự an lạc cho hội chúng,
...(như trên)... nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp, và nhằm sự hỗ trợ Luật.
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị
tỳ khưu nhận được y mới nên áp dụng một cách hoại sắc nào đó trong ba
cách hoại sắc là màu xanh, màu bùn, màu đen sẫm. Nếu vị tỳ khưu không áp
dụng một cách hoại sắc nào đó trong ba cách hoại sắc mà sử dụng y mới
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[620] Mới nghĩa là đề
cập đến việc làm thành được phép chưa được thực hiện.
Y nghĩa là bất cứ loại
y nào thuộc về sáu loại y.
Nên áp dụng một cách hoại
sắc nào đó trong ba cách hoại sắc: nên áp dụng dầu chỉ với (một chút
ở) đầu cọng cỏ kusa.
Màu xanh nghĩa là có
hai loại màu xanh: màu xanh của rỉ đồng và màu xanh lá cây.
Màu bùn nghĩa là nước
(bùn) được đề cập đến.
Màu đen sẫm nghĩa là
bất cứ (phẩm màu) gì liên quan đến màu đen.
Nếu vị tỳ khưu không áp
dụng một cách hoại sắc nào đó trong ba cách hoại sắc: sau khi không
áp dụng một cách hoại sắc nào đó trong ba cách hoại sắc dầu chỉ với (một
chút ở) đầu cọng cỏ kusa, vị sử dụng y mới thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
[621] Khi chưa áp dụng, nhận
biết là chưa áp dụng, vị sử dụng thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Khi chưa áp dụng, có sự hoài
nghi, vị sử dụng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi chưa áp dụng, (lầm) tưởng
là đã áp dụng, vị sử dụng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi đã áp dụng, (lầm) tưởng
là chưa áp dụng, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi đã áp dụng, có sự hoài
nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi đã áp dụng, nhận biết là
đã áp dụng thì vô tội.
[622] Sau khi áp dụng rồi sử
dụng, sự làm thành được phép (kappa) bị hủy hoại, chỗ làm thành được
phép bị sờn, (y) chưa được làm thành được phép được may chung với (y) đã
được làm thành được phép, khi có miếng vá, khi có làm đường viền, khi có
sự mạng lại, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ tám.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN:
[623] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai dòng Sākya sau khi chú nguyện
để dùng chung y của mình đến vị tỳ khưu là đệ tử của người anh lại sử
dụng khi chưa có sự xả lời nguyện (của vị ấy). Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã
kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu:
- Này các đại đức, đại đức
Upananda con trai dòng Sākya này sau khi chú nguyện để dùng chung y của
mình đến tôi lại sử dụng khi chưa có sự xả lời nguyện.
Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao đại đức Upananda con
trai dòng Sākya sau khi chú nguyện để dùng chung y của mình đến vị tỳ
khưu lại sử dụng khi chưa có sự xả lời nguyện?
…(như trên)…
- Này Upananda, nghe nói
ngươi sau khi chú nguyện để dùng chung y của mình đến vị tỳ khưu lại sử
dụng khi chưa có sự xả lời nguyện, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi
sau khi chú nguyện để dùng chung y của mình đến vị tỳ khưu lại sử dụng
khi chưa có sự xả lời nguyện vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem
lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin
của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào sau khi đích
thân chú nguyện để dùng chung y đến vị tỳ khưu hoặc đến vị tỳ khưu ni
hoặc đến vị ni tu tập sự hoặc đến vị sa di hoặc đến vị sa di ni lại sử
dụng khi chưa có sự xả lời nguyện thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).”
[624] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Đến vị tỳ khưu: là đến
vị tỳ khưu khác.
Tỳ khưu ni nghĩa là
người nữ đã được tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng.
Cô ni tu tập sự nghĩa
là người nữ thực hành sự học tập về sáu pháp trong hai năm.
Sa di nghĩa là người
nam tu tập theo mười điều học.
Sa di ni nghĩa là
người nữ tu tập theo mười điều học.
Đích thân: sau tự mình
chú nguyện để dùng chung.
Y nghĩa là bất cứ loại
y nào thuộc về sáu loại y (có kích thước) tối thiểu cần phải chú nguyện
để dùng chung.
Sự chú nguyện để dùng
chung nghĩa là có hai sự chú nguyện để dùng chung: sự chú nguyện để
dùng chung có mặt và sự chú nguyện để dùng chung vắng mặt. Sự chú
nguyện để dùng chung có mặt nghĩa là (nói rằng): “Tôi chú nguyện
để dùng chung y này đến ngươi hoặc đến vị tên (như vầy).” Sự chú
nguyện để dùng chung vắng mặt nghĩa là (nói rằng): “Tôi trao y
này đến ngươi vì mục đích chú nguyện để dùng chung.” Vị kia nên nói
rằng: “Ai là bạn bè hoặc là người thân thiết của ngài?” “Vị
tên (như vầy) và tên (như vầy).” Vị kia nên nói rằng: “Tôi sẽ
trao cho những người ấy. Ngài hãy sử dụng vật thuộc về của những người
ấy hoặc ngài hãy phân phát hoặc ngài hãy tiến hành như là có duyên cớ.”
Chưa có sự xả lời nguyện
nghĩa là chưa được cho lại[4]
đến vị ấy hoặc là vị ấy sử dụng trong khi không có thân thiết với vị kia
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[625] Chưa có sự xả lời
nguyện, nhận biết là chưa có sự xả lời nguyện, vị sử dụng thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Chưa có sự xả lời nguyện, có
sự hoài nghi, vị sử dụng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Chưa có sự xả lời nguyện,
(lầm) tưởng là đã có sự xả lời nguyện, vị sử dụng thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Vị chú nguyện để dùng riêng
hoặc vị phân phát (y ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Có sự xả lời nguyện, (lầm)
tưởng là chưa có sự xả lời nguyện, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Có sự xả lời nguyện, có sự
hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Có sự xả lời nguyện, nhận
biết là đã có sự xả lời nguyện thì vô tội.
[626] Hoặc là vị kia cho lại,
hoặc là vị ấy (vị chủ nhân) sử dụng trong khi thân thiết với vị kia, vị
bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt điều học thứ chín.
*******
ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI:
[627] Lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư có các vật dụng không được
cất giữ. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư thu giấu bình bát và y của các tỳ khưu
nhóm Mười Bảy Sư. Các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư đã nói với các tỳ khưu
nhóm Lục Sư điều này:
- Này các đại đức, hãy cho
lại chúng tôi bình bát và y.
Các tỳ khưu nhóm Lục Sư cười.
Các vị ấy khóc lóc. Các tỳ khưu đã nói như vầy:
- Này các đại đức, vì sao các
vị khóc lóc?
- Thưa các đại đức, các tỳ
khưu nhóm Lục Sư này thu giấu bình bát và y của chúng tôi.
Các tỳ khưu ít ham muốn,
…(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục
Sư lại thu giấu bình bát và y của các tỳ khưu?
…(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói
các ngươi thu giấu bình bát và y của các tỳ khưu, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển
trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao
các ngươi lại thu giấu bình bát và y của các tỳ khưu vậy? Này những kẻ
rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)…
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị
tỳ khưu nào thu giấu hoặc bảo thu giấu bình bát hoặc y hoặc tọa cụ hoặc
ống đựng kim hoặc dây thắt lưng của vị tỳ khưu cho dầu chỉ muốn cười
giỡn thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[628] Vị nào: là bất
cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như
trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Của vị tỳ khưu: là của
vị tỳ khưu khác.
Bình bát nghĩa là có
hai loại bình bát: bình bát sắt và bình bát đất.
Y nghĩa là bất cứ loại
y nào thuộc về sáu loại y (có kích thước) tối thiểu cần phải chú nguyện
để dùng chung.
Tọa cụ nghĩa là nói
đến vật có đường biên.
Ống đựng kim nghĩa là
có kim hoặc không có kim.
Dây thắt lưng nghĩa là
có hai loại dây thắt lưng: loại tết bằng vải sợi, loại tết kiểu đuôi
heo.
Thu giấu: vị tự mình
thu giấu thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Bảo thu giấu: vị ra
lệnh vị khác thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Khi được ra
lệnh một lần, dầu (vị kia) thu giấu nhiều lần (vị ra lệnh) phạm (chỉ
một) tội pācittiya (ưng đối trị).
Cho dầu chỉ muốn cười giỡn:
là có ý định đùa nghịch.
[629] Vị đã tu lên bậc trên,
nhận biết là đã tu lên bậc trên, vị thu giấu hoặc bảo thu giấu bình bát
hoặc y hoặc tọa cụ hoặc ống đựng kim hoặc dây thắt lưng cho dầu chỉ muốn
cười giỡn thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị đã tu lên bậc trên, có sự
hoài nghi, vị thu giấu hoặc bảo thu giấu bình bát hoặc y hoặc tọa cụ
hoặc ống đựng kim hoặc dây thắt lưng cho dầu chỉ muốn cười giỡn thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị đã tu lên bậc trên, (lầm)
tưởng là chưa tu lên bậc trên, vị thu giấu hoặc bảo thu giấu bình bát
hoặc y hoặc tọa cụ hoặc ống đựng kim hoặc dây thắt lưng cho dầu chỉ muốn
cười giỡn thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị thu giấu hoặc bảo thu giấu
vật dụng khác cho dầu chỉ muốn cười giỡn thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Vị thu giấu hoặc bảo thu giấu
bình bát hoặc y hoặc tọa cụ hoặc ống đựng kim hoặc dây thắt lưng của
người chưa tu lên bậc trên cho dầu chỉ muốn cười giỡn thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Người chưa tu lên bậc trên,
(lầm) tưởng là đã tu lên bậc trên, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Người chưa tu lên bậc trên,
có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Người chưa tu lên bậc trên,
nhận biết là chưa tu lên bậc trên, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[630] Không có ý định đùa
giỡn, vị thu dọn vật được để lộn xộn, vị thu dọn (nghĩ rằng): “Ta sẽ
cho lại sau khi thuyết Pháp thoại,” vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
Dứt điều học thứ mười.
Phần Uống Rượu là phần thứ sáu.
*******
Tóm lược phần
này:
Rượu, ngón tay, đùa nghịch,
không tôn trọng, làm sợ,
ngọn lửa, tắm, hoại sắc,
đích thân, và thu giấu.
*******
[1]
Tapodā (nghĩa là nước nóng) vừa là tên của một cái hồ vừa là
tên của một giòng sông. Nước ở hồ thì mát nhưng khi ra đến giòng sông
thì nóng (xem Phân Tích Giới Tỳ Khưu – Bhikkhuvibhaṅga 1, điều
Pārājika thứ 4, [296]).
[2]
Tương đương 5 miles, hoặc 8 km (theo The Buddhist Monastic
Code).
[3]
Xin xem thêm Đại Phẩm 2 - Mahāvagga II, chương V, [21-23])
[4]
Nghĩa là vị kia chưa nói với vị chủ nhân của y rằng: “Ngài hãy sử
dụng hoặc ngài hãy phân phát hoặc ngài hãy tiến hành như là có duyên
cớ.”
-ooOoo-
Đầu trang |
Mục lục |
07a |
07b |
07c |
08a |
08b |
08c |
08d |
08e | 08f |
08g |
08h |
08i |
09 |
10 |
Phân tích Giới Tỳ-khưu I |
Phân tích Giới Tỳ-khưu Ni |
Giới thiệu
|