Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Hai - Phẩm Hai Mươi Năm - Phẩm đế Thích - Phần Một

Kinh Đại thừa   •   Thứ hai, 25/12/2023, 22:18 PM

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập, Đời Diêu Tần

PHẬT THUYẾT KINH 

ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư

Cưu Ma La Thập, Đời Diêu Tần  

HỘI THỨ HAI  

PHẨM HAI MƯƠI NĂM

PHẨM ĐẾ THÍCH  

PHẦN MỘT  

Bấy giờ, ở ba ngàn đại thiên Thế Giới Thế Giới Kham Nhẫn này có Trời Tứ Đại Vương cùng với vô lượng trăm ngàn câu chi ức các Thiên Tử Cõi Trời Tứ Đại Vương đều đến hội hợp.

Có Vua Trời Thiên Đế cùng với vô lượng trăm ngàn Câu chi các Thiên Tử Cõi Trời Ba Mươi Ba đều đến hội hợp.

Có Vua Trời Tô Dạ Ma cùng với vô lượng trăm ngàn Câu chi các Thiên Tử Cõi Trời Dạ Ma đều đến hội hợp.

Có Vua Trời San Đổ Sử Đa cùng với vô lượng trăm ngàn Câu chi các Thiên Tử Cõi Trời Đổ Sử Đa đều đến hội hợp.

Có Vua Trời Diệu Biến Hóa cùng với vô lượng trăm ngàn Câu chi các Thiên Tử Cõi Trời Lạc Biến Hóa đều đến hội hợp.

Có Vua Trời Tự Tại cùng với vô lượng trăm ngàn Câu chi các Thiên Tử Cõi Trời Tha Hóa Tự Tại đều đến hội hợp.

Có Vua Trời Đại Phạm cùng với vô lượng trăm ngàn Câu chi các Thiên Chúng Trời Đại Phạm đều đến hội hợp.

Có Trời Cực Quang Tịnh cùng với vô lượng trăm ngàn Câu chi Thiên Chúng đắc tịnh lự thứ hai đều đến hội hợp.

Có Trời Biến Tịnh cùng với vô lượng trăm ngàn Câu chi Thiên Chúng đắc tịnh lự thứ ba đều đến hội hợp.

Có Trời Quảng Quả cùng với vô lượng trăm ngàn Câu chi Thiên Chúng đắc tịnh lự thứ tư đều đến hội hợp.

Có Trời Sắc Cứu Cánh cùng với vô lượng trăm ngàn Câu chi Thiên Chúng Trời Tịnh Cư đều đến hội hợp.

Thiên Chúng Cõi Trời Tứ Đại Vương, cho đến Thiên Chúng Trời Tịnh Cư có nghiệp dị thục thanh tịnh thân có ánh sáng, so với ánh sáng thường hiện của thân Như Lai không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn.

Không bằng một phần trăm ngàn, không bằng một phần Câu chi, không bằng một phần trăm Câu chi, không bằng một phần ngàn Câu chi, không bằng một phần trăm ngàn Câu chi, như vậy, cho đến số phần, toán phần, kế phần, dụ phần, cho đến cũng không bằng một phần cực số.

Vì sao?

Vì ánh sáng thường hiện của thân Như Lai rất rực rỡ, trong các ánh sáng là tối tôn, tối thắng, tối thượng, tối diệu, vô tỷ, vô đẳng, vô thượng, đệ nhất, che ánh sáng Chư Thiên làm cho bị ẩn mất, giống như đốm lửa tim đèn đối với vàng Thiệm Bộ.

Bấy giờ, Trời Đế Thích bạch cụ thọ Thiện Hiện: Hôm nay, ba ngàn đại thiên Thế Giới này có chúng Trời Tứ Đại Vương cho đến Trời Tịnh Cư đều đến hội hợp, muốn nghe Tôn Giả thuyết giảng bát nhã Ba la mật đa, nguyện xin Tôn Giả biết thời giảng cho.

Thưa Tôn Giả!

Thế nào là bát nhã Ba la mật đa của Đại Bồ Tát?

Đại Bồ Tát trụ bát nhã Ba la mật đa như thế nào?

Đại Bồ Tát học bát nhã Ba la mật đa như thế nào?

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bảo Thiên Đế Thích: Này Kiều Thi Ca và các Thiên Chúng! Hãy lắng nghe, lắng nghe và suy nghĩ kỹ! Ta sẽ nương thần lực của Phật, theo ý Như Lai, thuyết giảng bát nhã Ba la mật đa cho các Đại Bồ Tát. Đại Bồ Tát có thể ở trong đó nên trụ như vậy, học như vậy.

Này Kiều Thi Ca và các Thiên Chúng! Vị nào chưa phát tâm Vô Thượng bồ đề nay đều nên phát.

Này Kiều Thi Ca! Các vị nào đã nhập chánh tánh ly sanh của Thanh Văn, Độc Giác rồi thì không thể phát tâm đại bồ đề nữa.

Vì sao?

Này Kiều Thi Ca! Vì những vị ấy đã chấm dứt việc sanh tử. Trong đây, nếu vị nào có thể phát tâm hướng đến Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác thì tôi cũng tùy hỷ.

Vì sao?

Này Kiều Thi Ca! Vì những vị thù thắng nên cầu pháp thù thắng. Tôi hoàn toàn không làm trở ngại phẩm thiện thắng của họ.

Này Kiều Thi Ca! Theo ông hỏi thế nào là bát nhã Ba la mật đa của Đại Bồ Tát. Các ông hãy lắng nghe, ta sẽ nói cho.

Này Kiều Thi Ca! Đại Bồ Tát nào phát tâm tương ưng với trí nhất thiết trí, đem vô sở đắc làm phương tiện, tư duy sắc cho đến thức hoặc vô thường, hoặc khổ, hoặc vô ngã, hoặc không, hoặc như bệnh, hoặc như ung nhọt, hoặc như mũi tên, hoặc mụt ghẻ.

Hoặc nóng nảy, hoặc bức bách, hoặc hư hoại, hoặc mục nát, hoặc lay chuyển, hoặc mau diệt, hoặc đáng sợ, hoặc đáng nhàm chán, hoặc có tai ách, hoặc có oan ức, hoặc có bệnh dịch, hoặc có bệnh hủi, hoặc không an ổn, hoặc không thể tín nhiệm.

Tư duy nhãn xứ cho đến ý xứ.

Tư duy sắc xứ cho đến pháp xứ.

Tư duy nhãn giới cho đến ý giới.

Tư duy sắc giới cho đến pháp giới.

Tư duy nhãn thức giới cho đến ý thức giới.

Tư duy nhãn xúc cho đến ý xúc.

Tư duy các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra.

Tư duy địa giới cho đến thức giới cũng như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Đó gọi là bát nhã Ba la mật đa của Đại Bồ Tát.

Lại nữa, này Kiều Thi Ca! Đại Bồ Tát nào phát tâm tương ưng với trí nhất thiết trí, đem vô sở đắc làm phương tiện, tư duy sắc cho đến thức hoặc tịch tịnh, hoặc viễn ly, hoặc vô sanh, hoặc vô diệt, hoặc vô nhiễm, hoặc vô tịnh, hoặc vô tác, hoặc vô vi.

Tư duy nhãn xứ cho đến ý xứ.

Tư duy sắc xứ cho đến pháp xứ.

Tư duy nhãn giới cho đến ý giới.

Tư duy sắc giới cho đến pháp giới.

Tư duy nhãn thức giới cho đến ý thức giới.

Tư duy nhãn xúc cho đến ý xúc.

Tư duy các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra.

Tư duy địa giới cho đến thức giới cũng như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Đó gọi là bát nhã Ba la mật đa của Đại Bồ Tát.

Lại nữa, này Kiều Thi Ca! Đại Bồ Tát nào phát tâm tương ưng với trí nhất thiết trí, đem vô sở đắc làm phương tiện, tư duy vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục xứ, lục xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử cho đến tập hợp hoàn toàn khổ lớn.

Đem vô sở đắc làm phương tiện, tư duy vô minh diệt nên hành diệt, hành diệt nên thức diệt, thức diệt nên danh sắc diệt, danh sắc diệt nên lục xứ diệt, lục xứ diệt nên xúc diệt, xúc diệt nên thọ diệt, thọ diệt nên ái diệt, ái diệt nên thủ diệt, thủ diệt nên hữu diệt, hữu diệt nên sanh diệt, sanh diệt nên lão tử diệt cho đến tập hợp hoàn toàn khổ lớn cũng diệt.

Này Kiều Thi Ca! Đó gọi là bát nhã Ba la mật đa của Đại Bồ Tát.

Lại nữa, này Kiều Thi Ca! Đại Bồ Tát nào phát tâm tương ưng với trí nhất thiết trí, đem vô sở đắc làm phương tiện, an trụ pháp không nội cho đến pháp không vô tánh tự tánh. An trụ chân như, pháp giới, thật tế, cảnh giới bất tư nghì, cảnh giới an ẩn v.v…

Này Kiều Thi Ca! Đó gọi là bát nhã Ba la mật đa của Đại Bồ Tát.

Lại nữa, này Kiều Thi Ca! Đại Bồ Tát nào phát tâm tương ưng với trí nhất thiết trí, đem vô sở đắc làm phương tiện, tu hành bốn niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo.

Tu hành pháp môn giải thoát không, cho đến pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Tu hành mười lực của Phật cho đến mười tám Pháp Phật bất cộng.

Tu hành tất cả môn Tam Ma Địa, môn Đà La Ni.

Tu hành trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Này Kiều Thi Ca! Đó gọi là bát nhã Ba la mật đa của Đại Bồ Tát.

Lại nữa, này Kiều Thi Ca! Đại Bồ Tát nào phát tâm tương ưng với trí nhất thiết trí, đem vô sở đắc làm phương tiện, tu hành bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, bát nhã Ba la mật đa.

Này Kiều Thi Ca! Đó gọi là bát nhã Ba la mật đa của Đại Bồ Tát.

Lại nữa, này Kiều Thi Ca! Đại Bồ Tát nào khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, quán như vậy: Chỉ có các pháp bồi bổ lẫn nhau, tăng trưởng lẫn nhau, viên mãn lẫn nhau. Tư duy suy tính không ngã, ngã sở.

Lại quán như vậy: Tâm hồi hướng của các Đại Bồ Tát không hòa hợp với tâm bồ đề.

Tâm bồ đề cũng không hòa hợp với tâm hồi hướng. Nghĩa là tâm hồi hướng của Đại Bồ Tát trong tâm bồ đề vô sở hữu bất khả đắc.

Tâm bồ đề trong tâm hồi hướng cũng vô sở hữu bất khả đắc. Các Đại Bồ Tát tuy như thật quán sát các pháp nhưng đối với các pháp hoàn toàn không có sự thấy.

Này Kiều Thi Ca! Đó gọi là bát nhã Ba la mật đa của Đại Bồ Tát.

Khi ấy, Trời Đế Thích hỏi Thiện Hiện: Thế nào là tâm hồi hướng của Đại Bồ Tát không hòa hợp với tâm bồ đề, tâm bồ đề cũng không hòa hợp với tâm hồi hướng?

Thế nào là tâm hồi hướng của Đại Bồ Tát trong tâm bồ đề vô sở hữu bất khả đắc, tâm bồ đề trong tâm hồi hướng cũng vô sở hữu bất khả đắc?

Thiện Hiện đáp: Này Kiều Thi Ca! Tâm hồi hướng của các Đại Bồ Tát là chẳng phải tâm, tâm bồ đề cũng chẳng phải tâm.

Không thể nào chẳng phải tâm hồi hướng chẳng phải tâm?

Tâm cũng không thể nào hồi hướng chẳng phải tâm?

Chẳng phải tâm không thể nào hồi hướng đến tâm?

Tâm cũng không thể nào hồi hướng đến tâm?

Vì sao?

Này Kiều Thi Ca! Vì chẳng phải tâm tức là bất khả tư nghì, bất khả tư nghì tức là chẳng phải tâm, hai pháp này đều vô sở hữu. Trong vô sở hữu không có nghĩa hồi hướng.

Này Kiều Thi Ca! Tâm không có tự tánh. Tánh của tâm là không nên tâm sở cũng không. Tâm và tâm sở đã không có tự tánh, nên tâm cũng không có nghĩa tâm hồi hướng.

Này Kiều Thi Ca! Nếu quán như vậy, gọi là bát nhã Ba la mật đa của Đại Bồ Tát.

Bấy giờ, Thế Tôn khen Thiện Hiện: Lành thay! Lành thay! Ông khéo thuyết giảng bát nhã Ba la mật đa cho các Đại Bồ Tát, cũng khéo khuyên bảo các Đại Bồ Tát làm cho hoan hỷ, khuyên tu bát nhã Ba la mật đa.

Cụ thọ Thiện Hiện thưa: Bạch Thế Tôn! Con đã biết ân rồi không thể nào không báo ân.

Vì sao?

Vì Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các đệ tử đời quá khứ đã thuyết giảng bát nhã Ba la mật đa cho các Đại Bồ Tát, thị hiện dạy bảo, khen ngợi, sách tấn, vui mừng, an ủi, hướng dẫn làm cho đắc cứu cánh.

Khi đó, Thế Tôn cũng học pháp này nên nay chứng Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác, chuyển bánh xe diệu pháp làm lợi lạc cho chúng con. Nay chúng con nên theo lời Phật dạy, thuyết giảng bát nhã Ba la mật đa cho các Đại Bồ Tát thị hiện dạy bảo, khen ngợi, sách tấn, vui mừng, an ủi, hướng dẫn làm cho đắc cứu cánh, mau chứng Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác. Như vậy gọi là báo đáp ân đức kia.

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bảo Trời Đế Thích: Này Kiều Thi Ca! Ông hỏi Đại Bồ Tát trụ bát nhã Ba la mật đa như thế nào. Các ông hãy lắng nghe, ta sẽ nói. Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ vào chỗ cần phải trụ, không nên trụ tướng.

Này Kiều Thi Ca! Sắc, sắc không. Thọ, tưởng, hành, thức, thọ, tưởng, hành, thức không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc sắc không, hoặc thọ, tưởng, hành, thức không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai phần.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Nhãn xứ, nhãn xứ không, cho đến ý xứ, ý xứ không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc nhãn xứ không, cho đến hoặc ý xứ không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Sắc xứ, sắc xứ không, cho đến pháp xứ, pháp xứ không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc sắc xứ không, cho đến hoặc pháp xứ không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Nhãn giới, nhãn giới không, cho đến ý giới, ý giới không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc nhãn giới không, cho đến hoặc ý giới không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Sắc giới, sắc giới không, cho đến pháp giới, pháp giới không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc sắc giới không, cho đến hoặc pháp giới không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Nhãn thức giới, nhãn thức giới không, cho đến ý thức giới, ý thức giới không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc nhãn thức giới không, cho đến hoặc ý thức giới không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Nhãn xúc, nhãn xúc không, cho đến ý xúc, ý xúc không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc nhãn xúc không, cho đến hoặc ý xúc không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra không, cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra, các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra không, cho đến hoặc các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Địa giới, địa giới không, cho đến thức giới, thức giới không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc địa giới không, cho đến hoặc thức giới không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Vô minh, vô minh không, cho đến lão tử, lão tử không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc vô minh không, cho đến hoặc lão tử không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Vô minh diệt, vô minh diệt không, cho đến lão tử diệt, lão tử diệt không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc vô minh diệt không, cho đến hoặc lão tử diệt không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Bố thí Ba la mật đa, bố thí Ba la mật đa không, cho đến bát nhã Ba la mật đa, bát nhã Ba la mật đa không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc bố thí Ba la mật đa không, cho đến hoặc bát nhã Ba la mật đa không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Pháp không nội, pháp không nội không, cho đến pháp không vô tánh tự tánh, pháp không không tánh tự tánh không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc pháp không nội không, cho đến hoặc pháp không vô tánh tự tánh không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Bốn niệm trụ, bốn niệm trụ không, cho đến mười tám Pháp Phật bất cộng, mười tám Pháp Phật bất cộng không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc bốn niệm trụ không, cho đến hoặc mười tám Pháp Phật bất cộng không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Tất cả môn Tam Ma Địa, tất cả môn Tam Ma Địa không. Tất cả môn Đà La Ni, tất cả môn Đà La Ni không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc tất cả môn Tam Ma Địa không, hoặc tất cả môn Đà La Ni không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Thanh Văn Thừa, Thanh Văn Thừa không. Độc Giác Thừa, Vô Thượng Thừa, Độc Giác Thừa, Vô Thượng Thừa không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc Thanh Văn Thừa không. Hoặc Độc Giác Thừa, Vô Thượng Thừa không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Dự Lưu, Dự Lưu không, cho đến Như Lai, Như Lai không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc Dự Lưu không, cho đến hoặc Như Lai không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Này Kiều Thi Ca! Trí nhất thiết, trí nhất thiết không. Trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng không. Bồ Tát, Bồ Tát không. Hoặc trí nhất thiết không. Hoặc trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng không, hoặc Bồ Tát không. Như vậy tất cả đều không hai, không hai chỗ.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ như vậy.

Bấy giờ, Thiên Đế Thích hỏi Thiện Hiện: Vì sao Đại Bồ Tát khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, không nên trụ bất cứ pháp nào?

Thiện Hiện đáp: Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, không nên trụ sắc.

Không nên trụ thọ, tưởng, hành, thức.

Không nên trụ nhãn xứ, cho đến không nên trụ ý xứ.

Không nên trụ sắc xứ, cho đến không nên trụ pháp xứ.

Không nên trụ nhãn giới, cho đến không nên trụ ý giới.

Không nên trụ sắc giới, cho đến không nên trụ pháp giới.

Không nên trụ nhãn thức giới, cho đến không nên trụ ý thức giới.

Không nên trụ nhãn xúc, cho đến không nên trụ ý xúc.

Không nên trụ các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, cho đến chẳng trụ các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra.

Không nên trụ địa giới, cho đến không nên trụ thức giới.

Không nên trụ vô minh, cho đến không nên trụ lão tử.

Không nên trụ vô minh diệt, cho đến không nên trụ lão tử diệt.

Không nên trụ bố thí Ba la mật đa, cho đến không nên trụ bát nhã Ba la mật đa.

Không nên trụ pháp không nội, cho đến không nên trụ pháp không vô tánh tự tánh.

Không nên trụ bốn niệm trụ, cho đến không nên trụ mười tám Pháp Phật bất cộng.

Không nên trụ tất cả môn Tam Ma Địa.

Không nên trụ tất cả môn Đà La Ni.

Không nên trụ Thanh Văn Thừa.

Không nên trụ Độc Giác Thừa, Vô Thượng Thừa.

Không nên trụ Dự Lưu cho đến không nên trụ Như Lai.

Không nên trụ trí nhất thiết. Không nên trụ trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Vì sao?

Này Kiều Thi Ca! Vì trụ như vậy là có sở đắc.

Lại nữa, này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, không nên trụ đây là sắc cho đến đây là thức.

Không nên trụ đây là nhãn xứ cho đến đây là ý xứ. Không nên trụ đây là sắc xứ cho đến đây là pháp xứ.

Không nên trụ đây là nhãn giới cho đến đây là ý giới. Không nên trụ đây là sắc giới cho đến đây là pháp giới.

Không nên trụ đây là nhãn thức giới cho đến đây là ý thức giới.

Không nên trụ đây là nhãn xúc cho đến đây là ý xúc.

Không nên trụ đây là các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra cho đến đây là các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra.

Không nên trụ đây là địa giới cho đến đây là thức giới. Không nên trụ đây là vô minh cho đến đây là lão tử.

Không nên trụ đây là vô minh diệt cho đến đây là lão tử diệt.

Không nên trụ đây là bố thí Ba la mật đa cho đến đây là bát nhã Ba la mật đa.

Không nên trụ đây là pháp không nội cho đến đây là pháp không vô tánh tự tánh.

Không nên trụ đây là bốn niệm trụ cho đến đây là mười tám Pháp Phật bất cộng.

Không nên trụ đây là tất cả môn Tam Ma Địa, đây là tất cả môn Đà La Ni.

Không nên trụ đây là Thanh Văn Thừa, đây là Độc Giác Thừa, Vô Thượng Thừa.

Không nên trụ đây là Dự Lưu cho đến đây là Như Lai.

Không nên trụ đây là trí nhất thiết, đây là trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Vì sao?

Này Kiều Thi Ca! Vì trụ như vậy là có sở đắc.

Lại nữa, này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, không nên trụ sắc cho đến thức hoặc thường, hoặc vô thường, hoặc vui, hoặc khổ, hoặc ngã, hoặc vô ngã, hoặc tịnh, hoặc bất tịnh, hoặc không, hoặc bất không, hoặc tịch tịnh, hoặc bất tịch tịnh, hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ nhãn xứ cho đến ý xứ hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ sắc xứ cho đến pháp xứ hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ nhãn giới cho đến ý giới hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ sắc giới cho đến pháp giới hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ nhãn thức giới cho đến ý thức giới hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ nhãn xúc cho đến ý xúc hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ địa giới cho đến thức giới hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ vô minh cho đến lão tử hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ vô minh diệt cho đến lão tử diệt hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ bố thí Ba la mật đa cho đến bát nhã Ba la mật đa hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ pháp không nội cho đến pháp không vô tánh tự tánh hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ bốn niệm trụ cho đến mười tám Pháp Phật bất cộng hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ tất cả môn Tam Ma Địa, tất cả môn Đà La Ni hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ Thanh Văn Thừa, Độc Giác Thừa, Vô Thượng Thừa hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ Dự Lưu cho đến Như Lai hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Không nên trụ trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng hoặc thường, hoặc vô thường, cho đến hoặc viễn ly, hoặc bất viễn ly.

Vì sao?

Này Kiều Thi Ca! Vì trụ như vậy là có sở đắc.

Lại nữa, này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, không nên trụ quả Dự Lưu hoặc hiển thị hữu vi, hoặc hiển thị vô vi.

Không nên trụ quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán, Độc Giác, bồ đề, Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác của Chư Phật hoặc hiển thị hữu vi, hoặc hiển thị vô vi.

Vì sao?

Này Kiều Thi Ca! Vì trụ như vậy là có sở đắc.

Lại nữa, này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, không nên trụ Dự Lưu là phước điền.

Không nên trụ Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán, Độc Giác, Bồ Tát, như Lai là phước điền.

Vì sao?

Này Kiều Thi Ca! Vì trụ như vậy là có sở đắc.

Lại nữa, này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, không nên trụ sơ địa cho đến không nên trụ Thập Địa.

Vì sao?

Này Kiều Thi Ca! Vì trụ như vậy là có sở đắc.

Vì sao?

Vì trụ như vậy là có động chuyển.

Lại nữa, này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, không nên trụ mới phát tâm rồi liền nghĩ như vậy: Tôi sẽ viên mãn bố thí Ba la mật đa cho đến bát nhã Ba la mật đa.

Không nên trụ mới phát tâm rồi liền nghĩ như vậy: Tôi sẽ tu hành bốn niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo.

Không nên trụ mới phát tâm rồi liền nghĩ như vậy: Tôi sẽ tu hành ba môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện, cho đến mười tám Pháp Phật bất cộng.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi tu giai đoạn đầu đã viên mãn sẽ nhập chánh tánh ly sanh của Bồ Tát.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi đã được nhập chánh tánh ly sanh, sẽ trụ bậc bất thối chuyển của Bồ Tát.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ viên mãn ngũ thông của Bồ Tát.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ trụ viên mãn ngũ thông của Bồ Tát, thường đến vô lượng, vô số Cõi Phật, kính lễ chiêm ngưỡng, cúng dường phụng sự Chư Phật Thế Tôn, lắng nghe chánh pháp, tư duy đúng lý, thuyết giảng cho người nghe.

Vì sao?

Này Kiều Thi Ca! Vì trụ như vậy là có sở đắc.

Lại nữa, này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát khi tu hành bát nhã Ba la mật đa.

 Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ làm trang nghiêm tịnh độ như Cõi Phật trong mười phương.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ biến hóa tịnh độ như Cõi Phật trong mười phương.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ giáo hóa các loại hữu tình làm cho chứng đắc Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác, hoặc vào Niết Bàn, hoặc an vui Cõi Trời, Người.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ đến vô lượng, vô số cõi nước Chư Phật, cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi Chư Phật Thế Tôn. Lại đem cúng dường vô biên hoa hương, anh lạc, tràng phan, bảo cái, y phục, đồ nằm, ngồi, thức ăn, uống, đèn sáng, trăm ngàn Câu chi, Na dữu đa ngàn ức các thứ nhạc Trời, và vô lượng châu báu tốt đẹp.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ hướng dẫn vô lượng, vô biên, vô số hữu tình, làm cho họ không thối chuyển quả Vô Thượng bồ đề.

Vì sao?

Này Kiều Thi Ca! Vì trụ như vậy là có sở đắc.

Lại nữa, này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát khi tu hành bát nhã Ba la mật đa.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ thành tựu nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn thanh tịnh.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ thành tựu các môn đẳng trì, đối với các đẳng trì được tự tại an trụ.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ thành tựu các môn tổng trì, đối với các môn tổng trì đều được tự tại.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ thành tựu mười lực Như Lai, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám Pháp Phật bất cộng.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ thành tựu ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm thân, làm cho các hữu tình trông thấy đều vui vẻ, xem không nhàm chán. Do đây chứng đắc lợi ích an lạc.

Vì sao?

Này Kiều Thi Ca! Vì trụ như vậy là có sở đắc.

Lại nữa, này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, không nên trụ đây là Bổ đặc già la thứ tám, đây là tùy tín hành, đây là tùy pháp hành.

Không nên trụ đây là Dự Lưu còn tối đa bảy lần sanh trở lại, đây là Nhất Lai, đây là Bất Hoàn.

Không nên trụ đây là Bổ đặc già la đứng đầu, đến khi mạng sống hết, phiền não mới hết.

Không nên trụ đây là Dự Lưu quyết định không đọa pháp, đây là Nhất Lai đến thế gian này được dứt hết khổ.

Không nên trụ đây là Bất Hoàn hướng, đây là Bất Hoàn quả, đến đó mới đắc Niết Bàn.

Không nên trụ đây là A La Hán chấm dứt đời sau, hiện tại chắc chắn nhập Vô Dư Niết Bàn. Không nên trụ đây là Độc Giác.

Không nên trụ đây là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi đã vượt qua địa Thanh Văn, Độc Giác, trụ địa Bồ Tát.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ đầy đủ trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, đã hiểu tất cả pháp, tất cả tướng đoạn hẳn tất cả tập khí tương tục của phiền não trói buộc.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ chứng đắc Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác đã mong cầu, được thành Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác chuyển bánh xe diệu pháp, làm các Phật Sự, độ thoát vô lượng, vô số hữu tình, làm cho đắc Niết Bàn rốt ráo an lạc.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ khéo tu bốn thần túc, đã an trụ đẳng trì định thù thắng như vậy. Do đẳng trì định này tăng thêm thế lực, làm cho tuổi thọ của tôi đến hằng hà sa số Thế Giới đại kiếp.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ được tuổi thọ vô lượng, vô biên.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ thành tựu ba mươi hai tướng, mỗi mỗi tướng này trăm phước trang nghiêm.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ thành tựu tám mươi vẻ đẹp, mỗi mỗi vẻ đẹp này có vô lượng, vô số điều hy hữu thù thắng.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ an trụ Cõi Tịnh Độ trang nghiêm, cõi ấy rộng lớn như bề mặt hằng hà sa số Thế Giới trong mười phương.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ an tọa trên tòa kim cương, tòa ấy rộng lớn bằng ba ngàn đại thiên Thế Giới.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Tôi sẽ nghỉ ở dưới cội cây bồ đề, cây ấy cao rộng được trang nghiêm bằng các châu báu, phát ra hương thơm vi diệu, hữu tình ngửi được, tâm tham, sân, si v.v… mau được tiêu trừ, vô lượng, vô biên bệnh của thân cũng được lành mạnh. Người nào ngửi được mùi hương cây bồ đề này xa lìa tác ý các Thanh Văn, Độc Giác, chắc chắn được quả Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác.

Không nên trụ nghĩ như vậy: Nguyện cho tôi sẽ được Cõi Phật nghiêm tịnh. Cõi ấy thanh tịnh không nghe tên sắc uẩn.

Không nghe tên thọ, tưởng, hành, thức uẩn. Không nghe tên nhãn xứ.

Không nghe tên nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ.

Không nghe tên sắc xứ.

Không nghe tên thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ. Không nghe tên nhãn giới.

Không nghe tên nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới. Không nghe tên sắc giới.

Không nghe tên thanh, hương, vị, xúc, pháp giới. Không nghe tên nhãn thức giới.

Không nghe tên nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới. Không nghe tên nhãn xúc.

Không nghe tên nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Không nghe tên các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra.

Không nghe tên các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Không nghe tên địa giới.

Không nghe tên thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Không nghe tên vô minh.

Không nghe tên hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử. Chỉ có nghe tên bố thí Ba la mật đa, cho đến chỉ nghe tên bát nhã Ba la mật đa. Chỉ có nghe tên pháp không nội, cho đến chỉ có nghe tên pháp không vô tánh tự tánh.

Chỉ có nghe tên chân như, cho đến chỉ có nghe tên cảnh giới bất tư nghì. Chỉ có nghe tên bốn niệm trụ, nói rộng cho đến chỉ có nghe tên mười tám Pháp Phật bất cộng. Trong đó hoàn toàn không nghe tên Dự Lưu, Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán, Độc Giác, Phàm phu v.v…

Chỉ có nghe tên Đại Bồ Tát, Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác v.v… vì sao?

Này Kiều Thi Ca! Vì trụ như vậy là có sở đắc.

Vì sao?

Vì tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác khi chứng đắc Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác hiểu tất cả pháp đều vô sở hữu. Tất cả chúng Đại Bồ Tát khi trụ bậc bất thối chuyển cũng thấy các pháp đều vô sở hữu.

Này Kiều Thi Ca! Đó gọi là Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa nên trụ vào chỗ cần phải trụ, không nên trụ tướng.

Này Kiều Thi Ca! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa thâm sâu, tùy theo chỗ nên trụ, không nên trụ tướng, đem vô sở đắc làm phương tiện nên học như vậy.

Bấy giờ, Xá Lợi Tử nghĩ như vậy: Nếu Đại Bồ Tát khi tu hành bát nhã Ba la mật đa đối với tất cả pháp không nên trụ thì tại sao trụ bát nhã Ba la mật đa?

Cụ thọ Thiện Hiện biết tâm niệm Xá Lợi Tử liền nói: Ý ông thế nào?

Tâm các Như Lai trụ ở nơi nào?

Xá Lợi Tử đáp: Tâm các Như Lai hoàn toàn không có chỗ trụ.

Vì sao?

Này Thiện Hiện! Vì tâm Như Lai không trụ sắc, không trụ thọ, tưởng, hành, thức.

Không trụ nhãn xứ. Không trụ nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ. Không trụ sắc xứ. Không trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ.

Không trụ nhãn giới. Không trụ nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới. Không trụ sắc giới. Không trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp giới. Không trụ nhãn thức giới. Không trụ nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới. Không trụ nhãn xúc.

Không trụ nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc. Không trụ các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra. Không trụ các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra. Không trụ hữu vi giới. Không trụ vô vi giới. Không trụ bốn niệm trụ, nói rộng cho đến không trụ mười tám Pháp Phật bất cộng. Không trụ trí nhất thiết. Không trụ trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Vì sao?

Vì tất cả pháp bất khả đắc.

Như vậy, này Thiện Hiện! Tâm Như Lai đối với tất cả pháp hoàn toàn không có chỗ trụ, cũng chẳng phải không trụ.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện bảo Xá Lợi Tử: Các Đại Bồ Tát khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, cũng như vậy. Tuy trụ bát nhã Ba la mật đa nhưng đồng với Như Lai đối với tất cả pháp hoàn toàn không có chỗ trụ cũng chẳng phải không trụ.

Vì sao?

Này Xá Lợi Tử! Vì các Đại Bồ Tát khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, tuy trụ bát nhã Ba la mật đa nhưng đối với sắc chẳng phải trụ, chẳng phải không trụ, cho đến đối với trí nhất thiết tướng cũng chẳng phải trụ, chẳng phải không trụ.

Vì sao?

Này Xá Lợi Tử! Vì các pháp sắc v.v… không có hai tướng.

Này Xá Lợi Tử! Các Đại Bồ Tát đối với bát nhã Ba la mật đa thâm sâu, tùy theo tướng chẳng trụ chẳng phải không trụ này, đem vô sở đắc làm phương tiện nên học như vậy.

Bấy giờ, trong hội có các Thiên Tử thầm nghĩ: Câu Thần Chú của Dược Xoa v.v… tuy là bí mật mà chúng ta còn có thể hiểu được. Tôn Giả Thiện Hiện với bát nhã Ba la mật đa này, tuy dùng các lời nói chỉ bày nhưng chúng ta hoàn toàn không hiểu được.

Cụ thọ Thiện Hiện biết tâm niệm của các Thiên Tử, liền bảo họ: Này các Thiên Tử! Các ông không thể hiểu được các lời ta nói sao?

Các Thiên Tử đáp: Đúng vậy! Đúng vậy! Cụ thọ Thiện Hiện lại bảo các Thiên Tử: Tôi từng ở trong nghĩa tương ưng với bát nhã Ba la mật đa thâm sâu này không nói một chữ, các ông cũng không nghe thì hiểu chỗ nào?

Vì sao?

Này các Thiên Tử!Trong nghĩa tương ưng với bát nhã Ba la mật đa thâm sâu, văn tự lời nói đều xa lìa. Do đó, người nói, người nghe và người có thể hiểu trong đây đều bất khả đắc. Việc chứng quả Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác thâm sâu, vi diệu của tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác cũng như vậy.

Này các Thiên Tử! Như việc hóa thân của các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, hóa thân làm bốn chúng đều đến hội hợp mà thuyết pháp.

Ý các ông thế nào?

Trong đây có thật có người nói, người nghe, người có thể hiểu không?

Các Thiên Tử đáp: Bạch Đại Đức! Không!

Thiện Hiện bảo: Đúng vậy! Các Thiên Tử! Tất cả pháp đều như biến hóa. Nay ở trong nghĩa tương ưng với bát nhã Ba la mật đa thâm sâu này người nói, người nghe và người có thể hiểu đều bất khả đắc.

Này các Thiên Tử! Như người trong mộng, thấy có Phật thuyết giảng chánh pháp cho các đại chúng.

Ý các ông thế nào?

Trong đây có thật có người nói, người nghe, người có thể hiểu không?

Các Thiên Tử thưa: Bạch Đại Đức! Không!

Thiện Hiện bảo: Đúng vậy, các Thiên Tử! Tất cả pháp đều như mộng. Nay ở trong nghĩa tương ưng với bát nhã Ba la mật đa thâm sâu này, người nói, người nghe và người có thể hiểu đều bất khả đắc.

Này các Thiên Tử! Như có hai người ở trong một hang núi, mỗi người đứng một phía, cùng phát ra tiếng khen ngợi Phật, Pháp, Tăng.

Ý các ông thế nào?

Hai tiếng vang này có thể nghe lẫn nhau và biết lẫn nhau không?

Các Thiên Tử đáp: Bạch Đại Đức! Không!

Thiện Hiện bảo: Đúng vậy, các Thiên Tử! Tất cả pháp đều như tiếng vang. Nay ở trong nghĩa tương ưng với bát nhã Ba la mật đa thâm sâu này, người nói, người nghe và người có thể hiểu đều bất khả đắc.

Này các Thiên Tử! Như nhà ảo thuật tài giỏi hoặc đệ tử người ấy, ở ngã tư đường ảo thuật làm bốn chúng và Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác do ảo thuật biến hóa, thuyết giảng chánh pháp cho bốn chúng do ảo thuật biến hóa.

Ý các ông thế nào?

Trong đây có thật có người nói, người nghe và người có thể hiểu không?

Các Thiên Tử đáp: Bạch Đại Đức! Không!

Thiện Hiện bảo: Đúng vậy, các Thiên Tử! Tất cả pháp đều như huyễn. Nay ở trong nghĩa tương ưng với bát nhã Ba la mật đa thâm sâu này, người nói, người nghe và người có thể hiểu đều bất khả đắc.

Này các Thiên Tử! Do nhân duyên này, tôi từng ở trong nghĩa tương ưng với bát nhã Ba la mật đa thâm sâu này không nói một chữ.

Các ông cũng không nghe thì hiểu chỗ nào?

***

icon

Tổng hợp

Cùng chủ đề

Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Ba - Phẩm Ba Mươi Mốt - Phẩm Tuyên Hóa - Phần Ba

Kinh Đại thừa   •   25.12.2023
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập, Đời Diêu Tần