Phật Thuyết Kinh đại Bát Niết Bàn - Phẩm Hai Mươi - Phẩm Phạm Hạnh - Phần Mười

Kinh Đại thừa   •   Thứ hai, 25/12/2023, 22:18 PM

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Đàm Vô Sấm, Đời Bắc Lương

 PHẬT THUYẾT

KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư

Đàm Vô Sấm, Đời Bắc Lương  

PHẨM HAI MƯƠI

PHẨM PHẠM HẠNH  

PHẦN MƯỜI  

Tâu Đại Vương! Đức Thế Tôn cũng như vậy, dầu biết rõ căn tánh hàng nhất xiển đề, nhưng Đức Phật cũng vì họ mà thuyết pháp vì nếu không thuyết pháp cho họ, tất cả phàm phu sẽ cho rằng Như Lai không tâm đại từ bi, đâu nên gọi là bậc nhất thiết trí.

Vì có tâm đại từ bi mới gọi là bậc nhất thiết trí, do đây nên Như Lai thuyết pháp cho hạng nhất xiển đề. Đức Như Lai gặp những người bệnh thời liền ban bố pháp dược, người bệnh nếu chẳng chịu uống đó chẳng phải là lỗi của Như Lai.

Hạng nhất xiển đề chia ra làm hai: Một là hạng đặng căn lành hiện tại, hai là hạng đặng căn lành đời sau.

Đức Như Lai biết rõ hạng nhất xiển đề những kẻ hiện tại có thể đặng thiện căn thời thuyết pháp cho. Những kẻ đời sau đặng thiện căn Đức Phật cũng thuyết pháp cho họ, nay dầu vô ích nhưng để làm nhân cho đời sau. Do đây nên Đức Như Lai vì hạng nhất xiển đề mà giảng thuyết pháp yếu.

Lại có hai hạng nhất xiển đề: Một là hạng lợi căn, hai là hạng trung căn. Hạng lợi căn nơi đời hiện tại có thể đặng thiện căn, hạng trung căn thời đời sau sẽ đặng.

Chư Phật không bao giờ thuyết pháp mà không lợi ích. Ví như người sạch sẽ té trong hầm tiêu, có thiện tri thức thấy vậy xót thương liền nắm tóc kéo ra khỏi hầm. Cũng vậy, Chư Phật thấy chúng sanh đọa trong ba đường ác nên phương tiện cứu tế làm cho đặng thoát khỏi. Do đây nên Đức Như Lai vì hạng nhất xiển đề mà thuyết pháp.

Vua bảo Kỳ Bà: Nếu Đức Như Lai thật có những điều như vậy, rạng ngày sẽ chọn ngày lành giờ tốt rồi chúng ta sẽ đến gặp Phật.

Kỳ Bà tâu: Trong giáo pháp của Đức Như Lai không có chọn lựa ngày lành giờ tốt. Tâu Đại Vương như người bệnh nặng đâu nên chọn ngày giờ tốt xấu, chỉ nên gấp cầu lương y. Nay Đại Vương bệnh nặng phải gấp cầu Phật, chẳng nên chờ chọn ngày lành giờ tốt.

Tâu Đại Vương! Như lửa Chiên Đàn cùng lửa y lan, tướng lửa cháy hai thứ không khác nhau. Cũng vậy, ngày tốt, ngày xấu, nếu đến chỗ Phật đều được diệt tội. Mong Đại Vương giờ đây nên gấp qua gặp Phật.

Vua A Xà Thế liền bảo cận thần Kiết Tường: Nay ta muốn đến chỗ Đức Phật, khanh mau sắm sửa đồ cúng dàng. Vua A Xà Thế cùng Phu Nhân xa giá một muôn hai ngàn cỗ, voi lớn năm ngàn thớt, trên mỗi thớt voi đều chở ba người mang cầm phan lọng, hoa hương, kỹ nhạc, nhiều thứ đồ cúng dàng, dắt theo mười tám muôn kỵ mã. Nhân dân trong nước Ma Dà Đà năm mươi tám muôn người đồng đi theo Vua.

Lúc bấy giờ nơi thành Câu Thi Na, đại chúng tựu hội tất cả mười hai do tuần, mọi người đều thấy Vua A Xà Thế cùng quân dân từ xa đi đến.

Đức Phật bảo đại chúng: Nhân duyên gần với vô thượng bồ đề của tất cả chúng sanh không gì trước hơn bạn lành. Vì Vua A Xà Thế nếu chẳng nghe lời Kỳ Bà, ngày mùng bảy tháng tới quyết định phải chết đọa địa ngục A tỳ. Vua A Xà Thế lúc đi dọc đường được biết tin Vua Tỳ Lưu Ly ngồi thuyền vào biển bị lửa cháy mà chết.

Tỳ Kheo Cù Ca Ly, đất nứt, thân sống sa vào địa ngục A tỳ. Còn Tu Na Sát Đa gây tạo những tội ác đến ra mắt Phật các tội đều đặng tiêu trừ.

Vua nghe những tin này nói với Kỳ Bà rằng: Nay ta dầu được nghe những tin ấy nhưng còn chưa chắc. Khanh đến ngồi chung một thớt voi với ta. Giả sử ta bị đọa địa ngục trông mong khanh nắm giữ ta chớ để ta bị đọa. Vì ngày trước ta từng nghe những người đắc đạo chẳng vào địa ngục.

Phật bảo đại chúng: Vua A Xà Thế còn lòng nghi, nay Phật sẽ làm cho Vua được tâm quyết định.

Trong Pháp Hội có một vị Bồ Tát hiệu là Trì Nhất Thiết bạch Phật rằng: Trước kia Phật nói tất cả pháp đều không có tướng nhất định, sắc không tướng nhất định, nhẫn đến Niết Bàn cũng không tướng nhất định. Tại sao hôm nay nói rằng vì Vua A Xà Thế.

Làm cho được tâm quyết định?

Phật nói: Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Nay Phật sẽ làm cho Vua A Xà Thế có tâm quyết định, vì nếu tâm nghi ngờ của Vua có thể phá hoại được, nên biết rằng tâm này là không quyết định.

Nếu tâm của Vua là quyết định, thời tội nghịch của Vua làm sao tiêu tan được. Vì không quyết định nên có thể tiêu trừ tội nghiệp.

Vua A Xà Thế đến rừng Ta La Song Thọ ngước lên thấy Đức Như Lai đủ ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp, dường như tòa núi vàng ròng.

Đức Thế Tôn cất tiếng phạm âm chào Vua: Đại Vương!

Lúc đó Vua A Xà Thế nhìn ngó hai bên tự nghĩ rằng: Không rõ ai là Đại Vương trong đại chúng này. Ta là người nhiều tội lại không phước đức.

Đức Như Lai chẳng lẽ gọi ta là Đại Vương!

Đức Như Lai lại lên tiếng gọi: Đại Vương A Xà Thế!

Vua nghe dứt lời trong lòng rất vui mừng nghĩ rằng: Nay Đức Như Lai chiếu cố đến ta rõ là Đức Như Lai có lòng đại bi bình đẳng đối với tất cả chúng sanh.

Vua bạch Phật rằng: Thế Tôn nay lòng tôi không còn nghi ngờ quyết định biết rằng Đức Như Lai bậc Đại Sư Vô Thượng của tất cả chúng sanh.

Ca Diếp Bồ Tát nói với Trì Nhất Thiết Bồ Tát: Đức Như Lai đã làm cho Vua A Xà Thế được tâm quyết định.

Vua A Xà Thế bạch Phật: Thế Tôn! Giả sử hôm nay tôi được ngồi chung ăn uống với Phạm Vương, Đế Thích cũng chẳng vui mừng bằng một lời kêu gọi của Đức Như Lai. Vua liền đem những phan lọng hoa hương kỹ nhạc dâng lên Phật, đảnh lễ chân Phật đi nhiễu bên hữu ba vòng, rồi ngồi qua một phía.

Phật nói: Này Đại Vương: Nay Phật sẽ vì nhà Vua mà nói pháp yếu.

Nhà Vua nên hết lòng lắng nghe!

Hạng phàm phu cần phải chuyên tâm quán sát nơi thân có hai mươi việc:

Một là trong thân của ta đây không có công đức vô lậu.

Hai là không căn lành.

Ba là chưa đặng điều thuận.

Bốn là sa rớt hầm sâu không chỗ nào chẳng đáng sợ.

Năm là dùng phương tiện gì để thấy Phật Tánh.

Sáu là tu thiền định thế nào để được thấy Phật Tánh.

Bảy là sanh tử khổ luôn không có thường không ngã không tịnh.

Tám là khó thoát khỏi tám nạn.

Chín là thường bị oan gia theo dõi.

Mười là không có một pháp gì ngăn được những hữu lậu.

Mười một là chưa thoát khỏi ba đường ác.

Mười hai là đầy đủ những ác kiến.

Mười ba là chưa qua khỏi bờ ngũ nghịch.

Mười bốn là chưa qua khỏi dòng sanh tử không bờ.

Mười lăm là chẳng tạo nghiệp lành chẳng được quả báo lành.

Mười sáu là không có ta làm mà người khác chịu quả.

Mười bảy là chẳng gây nhân vui thời trọn không quả vui.

Mười tám là đã tạo nghiệp thời quả báo trọn chẳng mất.

Mười chín là do vô minh mà sanh cũng do vô minh mà chết.

Hai mươi là quá khứ vị lai và hiện tại thường buông lung phóng dật.

Này Đại Vương! Người phàm phu nên quán sát thân này có hai mươi điều như vậy. Do quán sát này nên chẳng ưa thích sanh tử. Nếu chẳng ưa thích sanh tử thời được chỉ quán. Theo thứ tự quán tướng sanh, trụ, diệt nơi tâm. Quán định, huệ, tinh tấn, trì giới cũng như vậy.

Quán tướng sanh trụ diệt rồi biết rõ tâm tướng nhẫn đến giới tướng thời trọn chẳng làm ác, không có sợ chết cũng không sợ ba ác đạo. Nếu chẳng chuyên tâm quán sát hai mươi điều như vậy thời tâm buông lung phóng dật không việc ác nào chẳng làm.

Vua thưa: Thế Tôn! Như tôi hiểu nghĩa nơi lời Phật dạy: Từ trước tôi chưa từng quán sát hai mươi điều ấy, nên gây tạo những tội ác. Do đó nên sợ chết và sợ ba ác đạo.

Bạch Thế Tôn! Tôi tự chuốc họa tạo tội ác lớn: Vua cha vô tội, tôi lại làm hại. Đối với hai mươi điều này tôi dầu có quán sát hay không quán sát quyết định sẽ bị đọa địa ngục A tỳ.

Phật nói: Này Đại Vương! Tất cả pháp, tánh tướng của nó đều vô thường không có quyết định.

Sao nhà Vua lại nói quyết định sẽ đọa địa ngục A tỳ?

Vua thưa: Thế Tôn! Nếu tất cả pháp không tướng nhất định, thời tội giết cha của tôi cũng sẽ không nhất định. Nếu tội giết hại là nhất định thời tất cả pháp chẳng phải là nhất định.

Phật nói: Này Đại Vương! Lành thay! Lành thay! Chư Phật nói tất cả pháp đều không tướng nhất định. Nhà Vua lại có thể rõ biết tội giết hại cũng chẳng nhất định.

Này Đại Vương! Như lời nhà Vua nói: Vua cha vô tội lại làm hại.

Gì là cha?

Chỉ ở nơi danh từ giả, năm ấm chúng sanh mà vọng tưởng là cha.

Trong thập nhị nhập cùng thập bát giới, cái gì là cha?

Nếu sắc ấm là cha thời bốn ấm kia lẽ ra không phải. Nếu bốn ấm là cha thời sắc ấm cũng lẽ ra không phải. Nếu sắc ấm cùng phi sắc hiệp lại làm cha thời không đúng lý, vì tánh của sắc cùng phi sắc vốn không hiệp.

Này Đại Vương! Chúng sanh phàm phu đối với sắc ấm này vọng tưởng là cha. Sắc ấm như vậy cũng không thể hại được. Vì sắc ấm có mười thứ, trong mười thứ này riêng sắc là có thể thấy có thể nắm lấy, có thể cân, có thể lường, có thể trói, có thể kéo.

Dầu có thế thấy có thể trói, nhưng tánh của sắc vẫn chẳng trụ. Vì chẳng trụ nên không thể thấy được, cũng không thể nắm cầm cân lường kéo dắt cột trói.

Sắc tướng đã như vậy thời thế nào giết hại được. Nếu sắc là cha có thể giết hại mắc phải tội báo, thời chín thứ kia lẽ ra không phải là cha. Nếu chín thứ chẳng phải là cha thời lẽ ra không mắc tội.

Này Đại Vương! Sắc có ba thứ: Quá khứ vị lai và hiện tại. Quá khứ và hiện tại thời không thể giết hại. Vì quá khứ đã qua rồi, hiện tại lại niệm niệm diệt. Chỉ vì ngăn vị lai không sanh nên gọi là giết. Một thứ sắc như vậy, hoặc có giết được, hoặc chẳng giết được.

Chẳng giết thời sắc chẳng nhất định. Nếu sắc chẳng nhất định thời giết cũng chẳng nhất định. Vì giết chẳng nhất định nên quả báo cũng chẳng nhất định.

Sao nhà Vua lại nói quyết định đọa địa ngục?

Này Đại Vương! Tội nghiệp của tất cả chúng sanh tạo ra có hai thứ: Một là tội khinh, hai là tội trọng. Nếu tâm và khẩu gây tạo thời gọi là tội khinh, thân khẩu và tâm gây tạo thời gọi là tội trọng. Tâm nghĩ miệng nói mà thân chẳng làm thời mắc quả báo nhẹ.

Ngày trước Đại Vương chẳng bảo giết, chỉ nói chặt chân. Đại Vương nếu truyền lệnh lập tức chém đầu Vua cha, thị thần liền chém, còn chẳng mắc tội, huống là Đại Vương chẳng truyền lệnh. Nếu Đại Vương mắc tội thời Chư Phật lẽ ra cũng mắc tội.

Vì Tiên Vương Tần Bà Ta La thường vun trồng những căn lành nơi Chư Phật, do đó nên ngày nay được làm Vua. Nếu Chư Phật chẳng thọ sự cúng dường thời Tiên Vương chẳng có phước làm Vua. Nếu Tiên Vương chẳng làm Vua thời Đại Vương đâu có vì nước mà giết hại.

Nếu Đại Vương giết cha mà có tội, thời Chư Phật chúng ta lẽ ra cũng có tội. Còn nếu Chư Phật không mắc tội sao Đại Vương lại riêng mắc tội ư.

Này Đại Vương! Tiên Vương Tần Bà Ta La ngày trước có tâm ác. Đi săn nơi núi Tỳ Phú La, tìm muông thú khắp nơi không đặng chỉ gặp một Tiên Nhân chứng ngũ thông, Tiên Vương giận nói bị người này nên hôm nay ta đi săn không gặp muông thú. Tiên Vương đuổi đi rồi sai quan hầu theo giết.

Lúc sắp chết Tiên Nhân sanh lòng oán giận, mất thần thông, thệ rằng: Ta thật vô tội, người dùng tâm khẩu giết hại ta, Đời sau ta cũng dùng tâm khẩu mà hại ngươi. Tiên Vương nghe lời ấy trong lòng ăn năn bèn cúng dàng chôn cất tử thi.

Ngày trước Tiên Vương như vậy còn được thọ báo nhẹ chẳng đọa địa ngục, huống là Đại Vương chẳng như vậy, Tiên Vương tự làm ra trở lại tự thọ lấy, sao nhà Vua lại mắc phải tội giết hại.

Như nhà Vua nói: Vua cha không tội.

Này Đại Vương sao lại nói rằng không tội?

Luận về người không nghiệp ác thời không tội báo, người có tội thời có tội báo. Tiên Vương kia nếu vô tội thời đâu có thọ báo.

Tiên Vương Tần Bà Ta La trong hiện đời cũng đặng quả lành cùng quả ác. Do đây nên Tiên Vương cũng là chẳng nhất định.

Do vì chẳng nhất định nên giết hại cũng chẳng nhất định, giết hại đã chẳng nhất định sao nhà Vua lại nói rằng quyết định đọa địa ngục.

Này Đại Vương! Chúng sanh điên cuồng có bốn hạng: Một là tham vọng mà điên cuồng, hai là bị thuốc mà điên cuồng, ba là bị bùa chú mà điên cuồng, bốn là do nghiệp duyên đời trước mà điên cuồng.

Trong hàng đệ tử Phật nếu mắc phải bốn chứng điên cuồng này, dầu tạo nhiều tội ác, ta trọn chẳng nhận người này là phạm giới. Người này tạo tội chẳng đọa ba đường ác. Lúc tâm tỉnh trở lại ta cũng chẳng gọi là phạm.

Đại Vương vì tham ngôi Quốc Vương mà nghịch hại Vua cha, do tham cuồng gây tạo sao gọi mắc tội. Như người say rượu giết hại Thân Mẫu, lúc đã tỉnh say sanh lòng hối hận, nghiệp giết mẹ này cũng chẳng tội báo.

Đại Vương nay tham say nơi ngôi Vua, chẳng phải bổn tâm làm tội nghịch đó, sao lại bảo là mắc tội. Ví như nhà ảo thuật, nơi ngã tư đường dùng chú thuật hóa ra những thứ trai, gái, voi, ngựa, chuỗi ngọc, y phục. Người ngu cho đó là thật, người trí biết chẳng phải thật.

Cũng vậy, sự giết hại, phàm phu cho là thật, Chư Phật biết là chẳng phải thật. Ví như tiếng vang trong khe núi, người ngu cho là tiếng thật, người trí biết là chẳng phải thật, giết hại cũng như vậy, phàm phu cho là thật, Chư Phật biết là chẳng phải thật.

Như có kẻ oán thù giả đến gần gũi, người ngu si nhận là thật thân thuộc, người trí rõ biết là giả trá. Giết hại cũng như vậy, phàm phu cho là thật, Chư Phật biết là chẳng phải thật.

Như người soi gương tự thấy bóng mặt, người ngu cho là mặt thật, người trí rõ biết chẳng phải thật. Giết hại cũng như vậy, phàm phu cho là thật, Chư Phật biết là chẳng phải thật.

Như ánh nắng gợn lúc Trời nắng gắt, người ngu đứng xa thấy cho là nước, người trí rõ biết chẳng phải nước. Giết hại cũng như vậy, phàm phu cho là thật, Chư Phật biết chẳng phải thật.

Như thành Càn Thát Bà, người ngu cho là thật, người trí rõ biết chẳng phải thật. Sát hại cũng như vậy, phàm phu cho là thật, Chư Phật biết chẳng phải thật.

Như người ngủ mơ, thấy hưởng vui ngũ dục, người ngu cho là thật, người trí rõ biết chẳng phải thật. Giết hại cũng như vậy, phàm phu cho là thật Chư Phật biết chẳng phải thật.

Này Đại Vương! Cách thức giết, nghiệp giết, người giết, quả giết, nhẫn đến giải thoát, ta dầu rõ thấu tất cả, ta vẫn không có tội.

Đại Vương dầu biết giết hại, nhưng sao lại có tội?

Ví như có người cai quản hãng rượu người này nếu không uống thời cũng chẳng say. Lại như người biết lửa cũng chẳng bị đốt cháy.

Đại Vương cũng như vậy, dầu biết giết hại nhưng sao lại có tội?

Này Đại Vương! Có những chúng sanh lúc mặt trời mọc tạo nhiều tội, lúc mặt trăng mọc lại đi trộm cướp, lúc mặt trời, mặt trăng chẳng mọc thời chẳng làm việc ác, dầu nhân mặt trời, mặt trăng khiến người đó làm ác, nhưng mặt trời, mặt trăng thật không mắc tội. Sát hại cũng như vậy, dầu nhân nơi Đại Vương nhưng Đại Vương thật không mắc tội.

Như trong cung Vua, thường truyền lệnh làm thịt dê, lòng Vua vốn không nghi sợ, tại sao ở nơi Vua cha riêng sanh lòng sợ, dầu là người cùng cầm súc có tôn ty sai khác, nhưng qúi sanh mạng cũng sợ chết không khác nhau. Cớ sao đối với loài dê lòng khinh không sợ, còn nói Vua cha lòng trọng lo khổ.

Người đời là tôi tớ của tham ái, bị tham ái sai khiến mà làm việc giết hại, giả sử có quả báo thời là tội của tham ái, Đại Vương bị sai sử thời có tội gì.

Như Niết Bàn chẳng phải có chẳng phải không mà cũng là có. Sát hại cũng như vậy, dầu chẳng phải có chẳng phải không mà cũng là có. Người tàm quý thời là chẳng phải có, người không tàm quý thời là chẳng phải không, người thọ quả báo thời gọi là có.

Người chấp không thời là chẳng phải có, người chấp có thời là chẳng phải không, người có chấp cũng gọi là có. Vì người có chấp có thời mắc quả báo, người không chấp có thời không mắc quả báo.

Người chấp thường thời là chẳng phải có, người không chấp thường thời là chẳng phải không, người có thường kiến thời chẳng đặng gọi là không, vì người có thường kiến thời có nghiệp quả ác. Nên nghĩa này dầu chẳng phải có chẳng phải không, mà cũng là có.

Này Đại Vương! Xét về chúng sanh gọi là hơi thở ra vào, vì làm dứt hơi thở ra vào cho nên gọi là giết hại.

Chư Phật thuận theo thế tục cho nên cũng nói là giết hại! Này Đại Vương! Sắc uẩn là vô thường, nhân duyên của sắc cũng là vô thường, đã từ nhân vô thường mà sanh, thời sắc uẩn sao lại là thường, nhẫn đến thức ấm cũng như vậy. Do vô thường nên khổ, do khổ nên không, do không nên vô ngã.

Nếu khổ là vô thường, khổ, không vô ngã thời món nào giết hại?

Giết hại vô thường đặng Niết Bàn thường, giết hại khổ đặng lạc, giết hại không đặng chân thật, giết hại vô ngã đặng chân ngã.

Này Đại Vương! Nếu giết vô thường, khổ, không, vô ngã thời cùng với Phật đồng.

Phật cũng giết vô thường, khổ, không, vô ngã chẳng bị đọa vào địa ngục, Đại Vương sao lại bị đọa?

Lúc đó Vua A Xà Thế đúng theo lời Phật dạy quán sát sắc ấm nhẫn đến quán sát thức ấm.

Vua quán sát như vậy rồi liền bạch Phật: Thế Tôn! Nay tôi mới biết sắc là vô thường nhẫn đến thức là vô thường. Trước kia nếu tôi biết được như vậy thời chẳng gây tạo tội nghịch.

Bạch Thế Tôn! Tôi từng nghe Chư Phật là cha mẹ của chúng sanh. Dầu nghe như vậy nhưng chưa có lòng tin chắc. Nay tôi mới tin quyết định.

Bạch Thế Tôn! Tôi cũng từng nghe núi Tu Di do bốn chất báu hiệp thành, là vàng, bạc, lưu ly, pha lê. Nếu có loài chim đậu chỗ nào trên núi, màu chim liền đồng với màu núi, dầu nghe như vậy tôi cũng chẳng tin chắc. Nay tôi đến trong Pháp Hội của Phật liền được đồng màu sắc, nghĩa là tôi rõ biết các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã.

Bạch Thế Tôn! Tôi thấy từ hột y lan mọc lên cây y lan chẳng thấy hột y lan mọc lên cây Chiên Đàn. Nay tôi mới được thấy từ hội y lan mọc lên cây Chiên Đàn. Hột y lan chính là thân tôi, cây Chiên Đàn chính là tâm vô căn tín của tôi. Vô căn chính là từ trước tôi chẳng biết cung kính Như Lai, chẳng tin chánh pháp cùng Tăng Chúng, đây gọi là vô căn.

Bạch Thế Tôn! Nếu tôi chẳng gặp Đức Như Lai sẽ phải thọ vô lượng khổ nơi đại địa ngục trong vô lượng vô số kiếp. Nay tôi được gặp Phật trọn nên công đức, phá hoại tâm ác phiền não của chúng sanh.

Phật nói: Lành thay! Lành thay! Này Đại Vương! Nay Phật biết nhà Vua chắc chắn có thể phá hoại tâm ác của chúng sanh.

Bạch Thế Tôn: Nếu tôi thật có thể phá hoại tâm ác của chúng sanh, thời tôi thường ở A tỳ địa ngục trong vô lượng kiếp vì chúng sanh chịu mọi sự khổ não tôi cũng chẳng lấy làm khổ.

Lúc đó vô lượng nhân dân nước Ma Dà Đà đều phát tâm vô thượng bồ đề. Nhờ sự phát tâm của nhân dân, tội nặng của Vua A Xà Thế liền nhẹ bớt. Nhà Vua cùng phu nhân các thể nữ đồng phát tâm vô thượng bồ đề.

Vua A Xà Thế bảo Kỳ Bà rằng: Nay ta chưa chết đã đặng thân trời, bỏ mạng ngắn đặng mạng trường thọ, bỏ thân vô thường đặng thân chân thường. Làm cho các chúng sanh phát tâm vô thượng bồ đề chính là thân Trời, mạng trường thọ, thân chân thường, cũng chính là đệ tử của tất cả Chư Phật.

Nói xong, nhà Vua bèn đem các thứ tràng báu, phan lọng báu, hương hoa, chuỗi ngọc, kỹ nhạc cúng dường Đức Phật.

Cúng dường xong nhà Vua lại nói kệ tán thán: 

Lời chân thật rất vi diệu,

Khéo léo nơi câu cùng nghĩa.

Tạng Pháp rất sâu bí mật,

Vì chúng sanh nên hiển bày.

Bao nhiêu lời dạy rộng rãi,

Vì chúng sanh nên nói lược,

Đầy đủ những lời như vậy.

Khéo chữa được bệnh chúng sanh.

Nếu có các hàng chúng sanh,

Đặng nghe lời dạy của Phật.

Có lòng tin hoặc chẳng tin.

Quyết định biết là lời Phật.

Lời Chư Phật thường dịu dàng.

Vì chúng sanh nên nói thô.

Lời thô cùng lời dịu dàng,

Đều về đến đệ nhất nghĩa.

Do cớ này nên hôm nay,

Tôi quy y Đức Thế Tôn.

Như lời bình đẳng nhất vị.

Dường như nước trong biển cả,

Đây gọi là đệ nhất nghĩa,

Nên không có lời vô nghĩa.

Hôm nay Đức Như Lai nói,

Vô lượng vô số pháp yếu.

Nam nữ già trẻ được nghe.

Đồng thấy đặng đệ nhất nghĩa.

Không có nhân cũng không quả,

Không có sanh và không diệt,

Đây gọi là Đại Niết Bàn,

Người nghe phá kiết sử.

Đức Như Lai vì tất cả,

Thường làm cha cùng mẹ lành,

Nên biết các hàng chúng sanh,

Đều là con của Như Lai.

Đức Thế Tôn đại từ bi,

Vì chúng sanh nên khổ hạnh,

Như người bị ma quỷ dựa,

Cuồng loạn tạo nhiều tội ác.

Nay tôi đặng thấy Như Lai,

Ba nghiệp đều được lành tốt,

Nguyện đem những công đức này,

Hồi hướng Phật Đạo vô thượng.

Hôm nay chỗ tôi cúng dường,

Đức Phật Pháp và chúng Tăng.

Nguyện đem những công đức này,

Tam Bảo thường ở thế gian.

Ngày nay chỗ tôi sẽ đặng,

Tất cả vô lượng công đức,

Nguyện dùng đây đễ phá hoại,

Bốn thứ ma của chúng sanh.

Ngày trước tôi gặp bạn ác,

Gây tạo tội nghiệp ba đời,

Nay đối trước Phật sám hối,

Nguyện sau này chẳng lại phạm.

Cầu cho tất cả chúng sanh,

Đều phát tâm đại bồ đề,

Chuyên tâm thường siêng nghĩ nhớ,

Tất cả Chư Phật mười phương.

Lại nguyện tất cả chúng sanh.

Phá hẳn những giặc phiền não,

Được thấy Phật Tánh rõ ràng.

Như Ngài Văn Thù Bồ Tát.

Đức Thế Tôn khen Vua A Xà Thế: Lành thay! Lành thay! Nếu có người phát được tâm vô thượng bồ đề, phải biết người này trang nghiêm Chư Phật cùng đại chúng.

Này Đại Vương! Thuở xưa nhà Vua ở trước Đức Phật Tỳ Bà Thi đã phát tâm vô thượng bồ đề, từ đó đến ngày nay chưa từng bị đọa địa ngục, nên biết tâm bồ đề có vô lượng quả báo lành như thế.

Này Đại Vương! Từ nay về sau nhà Vua phải thường siêng tu tâm bồ đề. Vì tu tâm bồ đề sẽ tiêu diệt được vô lượng tội ác. Vua A Xà Thế cùng nhân dân nước Ma Dà Đà đi nhiễu Phật ba vòng, lễ từ trở về cung. Phẩm Thiên Hạnh như trong Kinh Tạp Hoa đã nói.

*** 

icon

Tổng hợp

Cùng chủ đề

Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Ba - Phẩm Ba Mươi Mốt - Phẩm Tuyên Hóa - Phần Ba

Kinh Đại thừa   •   25.12.2023
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập, Đời Diêu Tần