Phật Thuyết Kinh Nhuy Tứ Gia - Phẩm Ba - Phẩm Lựa Chọn Tướng Của đất
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Thí Hồng Lô Khanh, Ðời Tống
PHẬT THUYẾT
KINH NHUY TỨ GIA
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư
Thí Hồng Lô Khanh, Ðời Tống
PHẨM BA
PHẨM LỰA CHỌN TƯỚNG CỦA ĐẤT
Nay ta nói tiếp thiện ác của tông này nên làm, nên làm cho các Mạn Trà La: Ở nơi cao thấp, có gai góc, mảnh xương vụn của đầu lâu… nơi gần sát vách núi, hầm hố, giếng khô, ao khô. Nơi có nhiều rễ cây với có tổ sâu bọ, vị mặn, tha, tro, nhiều đá sỏi, đá vụn… đất khô ráo tự nhiên kèm phát sinh nhiều sâu bọ. Đất của nhóm như vậy, cần phải xa lìa đối với tất cả việc.
Các Mạn Trà La ở đất bằng phẳng, hoàn toàn sạch sẽ, tươi tốt, lìa lỗi như trước. Ở phương Đông Bắc, đất ấy hơi thấp. Nơi chốn của nhóm như vậy, làm Mạn Trà La, nhập vào là tốt lành.
Trước tiên đào đất ấy sâu xuống khoảng một khuỷu tay. Nhanh chóng đem đất kia lấp vào chỗ ấy. Nếu đất dư thừa thì nên biết là nơi chốn tốt ắt được thành tựu. Nếu ngược với điều này với có lỗi trước, tức chẳng nên làm. Nếu ngang ngạnh làm, chẳng phải chỉ chẳng thành mà còn tổn hại cho thân của mình.
Lại có đất ấy, không có lỗi như trước, đường ven vòng quanh có sông nước thì mau được thành tựu. Nếu không có sông nước thì chẳng tốt.
Hoặc có nơi chốn mà đất ấy không có lỗi trước, đường ven vòng quanh có cây: xum xuê hoa quả, cành lá um tùm, có đủ nhũ thụ cây có nhựa như sữa làm Mạn Trà La cũng là tốt lành.
Đất có đủ các đức, đường ven vòng quanh có cây, bên cạnh có nước chảy thì đất này là tối thắng.
Nếu làm Tức Tai Śāntika thì ngay đất màu trắng làm Mạn Trà La.
Nếu làm Tăng Ích Puṣṭika thì ở đất màu đỏ làm Mạn Trà La.
Nếu làm Giáng Phục Abhicāruka thì ở đất màu đenlàm Mạn Trà La.
Ở trên đỉnh núi, hoặc nơi bò cư ngụ, hoặc ở Chế Để Caitye: Tháp miếu, hoặc có Phật Đường, hoặc nơi có Xá Lợi Śarīra. Nơi chốn như vậy thì làm Pháp Tức Tai Mạn Trà La.
Ở bên bờ sông Hằng Gaṅga, hoặc ở ao sen, hoặc ở trên Đàn Thiện nơi tế lễ thời xưa, hoặc ở bên bờ biển thì nên làm việc của Tăng Ích Mạn Trà La.
Ở chỗ mồ mả, hoặc ở các đền thờ của Ma Đá La Thiên Mātṛ: Âm Mẫu hoặc chỗ Không Nhàn Araṇya: Nơi nhàn tịnh thích hợp với trường sở tu hành của Tỳ Kheo, hoặc ở nhà trống, hoặc chỗ hoang phế thì nên làm việc của Giáng Phục Mạn Trà La.
Ở tám cái Tháp lớn cùng với Thánh Tích, hoặc nơi mà Ý ưa thích, hoặc ở chỗ thanh tịnh, hoặc ở đỉnh núi. Nơi chốn như vậy thì nên làm Thượng Thành Tựu Mạn Trà Tra.
Hoặc ở trong ao hoa sen nở rộ, nơi có ngỗng nhạn vui đùa sát bên cạnh thì nên cầu tiền của với phú quý khác, các Cát Tường Thành Tựu Mạn Trà La.
Ở trên núi cao, hoặc ở sườn núi, hoặc ở sơn cốc, hoặc ở ngọn núi, hoặc ở hang hốc bên sườn núi. Nơi chốn như vậy làm thành đi vào cung Tu La, cho nên làm Hạ Đẳng Kim Cương Mạn Trà La.
Ở bên ao Rồng, hoặc ở ngọn núi, hoặc ở miếu Thần. Nơi chốn như vậy vì muốn đập nát loài Quỷ Mỵ bám dính, cho nên làm Kim Cương Câu Mạn Trà La.
Ở trên ngã tư đường, hoặc ở Chế Để Caitye, hoặc ở trước mặt Chấp Kim Cương Vajra dhāra. Nơi chốn như vậy, vì Tịch Trừ loài Tỳ Na Dạ Ca Vināyaka bám dính cho nên làm Quân Trà Lợi Phẫn Nộ Mạn Trà La.
Ở tám cái Tháp lớn với Đại Thánh Tích dấu tích của bậc Đại Thánh thì nên làm các Thắng Thượng Mạn Trà La thuộc nhóm Vô Năng Thắng Aparājita trong Phật Bộ Buddha kulāya.
Ở bên ao hoa sen thì nên làm các Thắng Thượng Mạn Trà La thuộc nhóm Thiện Trụ Sutiṣṭha trong Liên Hoa Bộ Padma kulāya.
Ở trên đỉnh núi thì nên làm các Thắng Thượng Mạn Trà La thuộc nhóm Tị.
Phộc trong Kim Cương Bộ Vajra kulāya.
Đã rộng phân biệt nơi chốn như vậy, cũng nên phân biệt ba loại sai khác.
Hoặc nếu chẳng được Thắng Xứ như vậy, liền nên tuỳ theo chỗ có được, làm Mạn Trà La.
Do khó được nơi chốn đầy đủ thắng thượng, thế nên chì cần ở chỗ bằng phẳng ẩm mịn, phía xa góc Đông Bắc, gần chỗ có nước nhiều với có rừng cây, nơi mà ý ưa thích, lìa lỗi của đất ấy cũng không có chướng nạn. Chỗ như vậy làm Mạn Trà La đều được thành tựu.
Nếu ở Thánh Tích, nơi bò cư ngụ, ở trong hang núi với trên đỉnh núi. Trước tiên ở đất đã sạch tịnh địa, cũng ở trên hang hốc cùng với ở trên tảng đá, hoặc bên cạnh chế để Tháp Miếu với ở trên đàn thiện nơi tế lễ thời xưa, ở bên các con sông.
Nơi chốn như vậy, làm Mạn Trà La chẳng nên đào hố với dùng trị đả đánh nện sửa trị, đừng sợ lỗi của nhóm cao thấp. Tuỳ theo thế của đất ấy, lau quét rưới nước, tay đè đất ấy với tụng Chân Ngôn, liền thành thanh tịnh.
Hoặc ở chỗ làm Mạn Trà La, có lỗi của đất ấy thì chẳng được trừ khử mà chỉ dùng Chân Ngôn để làm thanh tịnh, cũng được thành tựu.
Nếu làm việc gấp rút, làm Mạn Trà La với làm tịch trừ sự bám dính của quỷ mỵ kèm với Mạn Trà La quán Đỉnh của thân mình thì đừng nên chọn lựa kỹ đất ấy, chỉ tuỳ theo nghi mà làm, đều dùng Chỉ Lợi Chỉ Lợi Phẫn Nộ Minh Vương Chân Ngôn trì tụng vào nước thơm vảy rửa đất ấy với rưới vảy cũng sạch sẽ để làm Tịnh Địa nếu làm Mạn Trà La thuộc nhóm Vô Năng Thắng trong Phật Bộ thì nên dùng Tối Thắng Phật Đỉnh Chân Ngôn làm Pháp Tịnh Địa.
Nếu làm Mạn Trà La thuộc Liên Hoa Bộ thì nên dùng Cát Tường Minh, hoặc đều dùng Thấp Phộc Phộc Ha Minh làm Pháp Tịnh Địa.
Nếu làm Mạn Trà La thuộc Kim Cương Bộ thì nên dùng Quân Trà Lợi Phẫn Nộ Chân Ngôn làm Pháp Tịnh Địa.
Tối Thắng Phật Đỉnh, Thấp Phộc Phộc Ha với Quân Trà Lợi ấy. Ba Tôn của nhóm này đều làm ở Bản Bộ Chú, đấy là các việc cần làm của mình thế nên ở tất cả việc, dùng Chân Ngôn này. Tất cả việc là Pháp Tịnh Địa cùng với Hộ Thân, gia bị cho Đệ Tử, Tịch Trừ các nạn, hương thanh tịnh…đối với nhóm việc này thảy đều thông dụng, hoặc y theo điều mà Bản Pháp đã nói, cần phải dùng.
Từ tháng Ca Lợi Đề Ca, tháng Tỳ Xá Ca Mãn, ở khoảng giữa ấy, như pháp làm Mạn Trà La.
Nếu muốn làm Tịch Trừ Quỷ Mỵ với tránh Tỳ Na Dạ Ca. Hoặc được ý chỉ của Bản Tôn khiến làm thành tựu. Nhóm việc như vậy, giả sử khi mưa thì nên làm Mạn Trà La của nhóm này.
Nếu làm Quán Đỉnh Đệ Tử Mạn Trà La thì hứa với truyền pháp kèm Tam Ma Gia Samaya: Bản thệ cùng với tăng ích tối thượng thành tựu.
Mạn Noa La của nhóm như vậy, liền y theo thời ấy, trong bảy tháng mà làm việc pháp. Hoặc xem xét đất nước ấy cùng với thời tiết kèm có lợi ích. Hoặc xem xét thời ấy không có chướng nạn, đủ mọi loại đức với tâm khát ngưỡng của đệ tử. Giả sử vào lúc trời mưa thời cũng cho phép làm Mạn Trà La.
Khi làm pháp thời dùng sáu loại: Hương xoa bôi, hương đốt, thức ăn, thức uống, đèn sáng, Hộ Ma. Giả sử chẳng chuẩn bị được nhóm vật khác, ắt chẳng nên thiếu sáu loại vật này. Nếu thiếu mà lại giảm bớt, cùng trái ngược với ngày bên trên với Thời xấu ác và đất nước xấu ác, chẳng y theo pháp ấy, ắt chẳng nên làm pháp của Mạn Trà La. Nếu người ngang ngạnh làm sẽ bị hư tổn không có nghi ngờ.
Như trên đã nói, trong bảy ngày nên chọn ngày 15 với ngày 13 của kỳ Hắc Bạch. Hoặc ngày 11, ngày 10, ngày 1, ngày 5, ngày 7, ngày 3 của kỳ Bạch Nguyệt. Ở ngày của mười loại Cát Tường này nên làm Thắng Thượng Mạn Trà La. Giả sử vào ngày 15 với ngày 13 của kỳ Hắc Nguyệt cũng thông làm Thắng Thượng Mạn Trà La. Nếu làm Mạn Trà La của Phật Bộ thì nên dùng ngày 15 của kỳ Bạch Nguyệt.
Nếu làm Mạn Trà La của Liên Hoa Bộ thì nên dùng ngày 5, ngày 10 với ngày 15 của kỳ Bạch Nguyệt.
Nếu làm Pháp vào cung A Tu La với pháp của việc mãnh lợi kèm các Phẫn Nộ Mạn Trà La trong Kim Cương Bộ thì nên dùng ngày tốt của kỳ Hắc Nguyệt đã nói lúc trước.
Vào tháng Thệ Đá La với tháng Tỳ Xá Ca. Hai tháng này nên làm Ma Ha Mạn Trà La Mahā maṇḍala: Đại Đàn.
Hoặc nếu chuẩn bị đủ nhóm cần cúng dường, không có khuyết thiếu. Hoặc lúc phát niềm tin lớn, hoặc muốn làm thành tựu với làm việc của bậc thượng, liền nên làm Ma Ha Mạn Trà La.
Hoặc xem xét thời ấy không có các chướng nạn, các hoa cùng với cúng dường dư dả, cũng nên làm Ma Ha Mạn Trà La.
Hoặc A Xà Lê thấy đệ tử ấy có thể là pháp khí, hoặc kẻ sĩ vâng chịu lâu dài xứng với ý của tôn thì nên làm Ma Ha Mạn Trà La.
Hoặc vào lúc Nhật Nguyệt Thực, hoặc khi tướng kỳ dị hiếm có hiện ra, hoặc ở trong tháng thần thông… những lúc như vậy thảy đều thông làm Đại Mạn Trà La.
Nếu làm Tức Tai Mạn Noa La: Vào lúc mặt trời lặn thì bắt đầu làm pháp.
Nếu làm Tăng Ích Mạn Trà La: Vào lúc mặt trời mọc thì bắt đầu làm pháp.
Nếu làm Giáng Phục Mạn Trà La: Vào giở ngọ của ngày thì bắt đầu làm pháp.
Như thế, các Mạn Trà La đều vào lúc mặt trời lặn thì bắt đầu làm. Minh Tướng tướng ánh sáng chưa động thì cần thiết nên phát khiển. Đây gọi là đô tác nhất thiết mạn noa trà pháp.
Hoặc cần ý chỉ của Bản Tôn, hoặc nơi bản pháp làm xong, hoặc sự tướng ứng với Nhật Nguyệt Thực kèm với tướng kỳ dị hiện ra…thảy đều thông làm. Nếu trái ngược với thời này, làm Mạn Trà La đều chẳng thành tựu.
Có điều tất cả Đại Mạn Trà La đừng ở ban ngày bắt đầu làm. Nếu ban ngày làm sẽ bị khổ não lớn. Vào lúc mặt trời lặn thời nên làm việc, đừng ở nửa đêm làm, vì trái ngược với bản thời thời gốc cho nên mọi loại nạn dấy lên. Từ các Thời khác đều dựa theo đây nên biết.
Vào lúc ban đêm thời các việc vắng lặng, làm pháp có hiệu nghiệm. Thế nên vào ban đêm nên là Đại Mạn Trà La của nhóm Tam Ma Gia.
Lại vào lúc mặt trời lặn thời Chư Thiên tập hội quán nhìn nơi làm pháp, gia thêm uy cho người ấy, thế nên vào ban đêm làm Mạn Trà La.
Vào lúc mặt trời lặn, như pháp bắt đầu phụng thỉnh, các Tôn liền giáng đến ban lợi ích cho người ấy. Chọn bản thời ấy y theo giáo mà làm. Dùng ngày tú tốt, thành tâm phụng thỉnh, các Tôn liền giáng đến cho thành nguyện mong cầu.
Vào Tháng ấy: Tú trực là sao Thái Bạch Śukra, Vật Ly Ha Đa Bà Đê Vṛhaspati: Mộc diệu dự trực thì nên làm pháp của Mạn Trà La Cát Tường với Tăng Ích.
Nếu làm Mạn Trà La của việc gây hại mạnh với giáng phục thì trở lại chọn lúc trực của Diệu Grahā mãnh hại, làm pháp của việc ấy.
Vào lúc quỷ tú Puṣya trực thì chọn lúc trực của tú cát tường, trở lại làm pháp mạn trà la cát tường tăng ích.
Nếu làm việc gây hại mạnh mãnh hại với giáng phục thì trở lại lựa chọn, y theo lúc trực của tú Nakṣatra tổn hại ấy.
Đối với Sa Vĩ Đá Lợi Tu Dữu, Vi Thệ Dạ Tu Dữu, Bổ sắt Noa Tu Dữu, Đát Bả Sa Bả Tu Dữu, Bà Lỗ Hề Nễ Tu Dữu, Sa Bả Tu Dữu, Tô Ba Đát La Tu Dữu, Bà Lỗ Noa Tu Dữu, Bà La Ha Ma Tu Dữu, Tô Mê Dược Tu Dữu, Mang Yết La Tu Dữu, Lăng Bỉ Kế Sa Noa Tu Dữu, Bát La Xà Bát Để Tu Dữu, A Phản Thấp Ni Tu Dữu, Vị Đá Lợi Tu Dữu, Thâu La Tu Dữu, A Ma La Tu Dữu…ấy. Chọn nhóm Tu Dữu cát tường như vậy, trở lại làm việc cát tường tăng ích.
Nếu chọn lúc Tú Diệu ác trực ắt chẳng thành tựu. Thế nên chọn tu dữu của tú diệu theo ngày giờ cát tường với quán điềm báo. Nếu tướng tốt lành hiện ra thì mới có thể bắt đầu làm, nếu tướng chẳng lành tức chẳng nên làm.
Giả sử làm việc của mãnh uý với giáng phục ấy thì trở lại chọn lấy tướng tốt, mới có thể bắt đầu làm, huống chi là việc Cát Tường mà chẳng chịu xem tướng?
Tuỳ theo tướng trước tiên ấy, liền biết thành tựu với chẳng thành tựu. Thế nên ân cần quán sát tướng của điềm báo ấy thì mới có thể làm pháp.
***
Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Năm - Phẩm Mười Bảy - Phẩm Tham Hành - Phần Hai
Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Ba - Phẩm Ba Mươi Mốt - Phẩm Tuyên Hóa - Phần Ba