Phật Thuyết Kinh Tăng Nhất A Hàm - Phẩm Hai Mươi Tám - Phẩm Thanh Văn - Phần Hai

Kinh Nguyên thủy   •   Thứ hai, 25/12/2023, 22:03 PM

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Tăng Già Đề Bà, Đời Đông Tấn

PHẬT THUYẾT

KINH TĂNG NHẤT A HÀM

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư

Tăng Già Đề Bà, Đời Đông Tấn  

PHẨM HAI MƯƠI TÁM

PHẨM THANH VĂN  

PHẦN HAI  

Tôi nghe như vậy!

Một thời Phật ở nước Xá Vệ, rừng Kỳ Đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ Kheo: Nay mặt trời, mặt trăng có bốn thứ che lấp nặng nề khiến không phóng được ánh sáng.

Bốn loại nào?

Mây, gió bụi, khói và A tu la, khiến mặt trời, mặt trăng bị che không phóng ánh sáng được. Ðó là, này Tỳ Kheo, mặt trời, mặt trăng có bốn thứ che đậy, khiến mặt trời, mặt trăng không phóng ánh sáng lớn được. Ðây cũng như thế, Tỳ Kheo có bốn kết che đậy tâm người không được cởi mở.

Thế nào là bốn?

Dục kết che đậy tâm người không được khai mở, sân nhuế, ngu si và lợi dưỡng che đậy tâm người không khai mở được. Ðó là, này Tỳ Kheo, có bốn kết che đậy tâm người không khai mở được. Hãy cầu phương tiện diệt bốn kết này. Như thế, các Tỳ Kheo, nên học điều này. Bấy giờ các Tỳ Kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

Tôi nghe như vậy!

Một thời Phật ở bên cạnh đền thờ A La Tỳ. Bấy giờ trời rất lạnh lẽo, cây cối trơ trụi. Khi ấy, con của trưởng giả Thủ A La Bà ra khỏi thành ấy, đi dọc theo bên ngoài, dần đến chỗ Thế Tôn, đến rồi cúi lạy và ngồi xuống một bên.

Con trưởng giả bạch Thế Tôn: Chẳng rõ hôm rồi Ngài ngủ ngon chăng?

Thế Tôn đáp: Ðúng vậy, Chàng trai. Ta ngủ ngon lắm.

Con của trưởng giả bạch Phật: Nay là ngày rất lạnh, vạn vật trơ trụi. Thế Tôn lại ngồi đệm cỏ, mặc y áo quá mỏng manh.

Thế sao Thế Tôn nói: Ta ngủ ngon lắm.

Thế Tôn bảo: Chàng trai lắng nghe!

Nay Ta hỏi lại, hãy theo đó mà trả lời!

Ví như nhà trưởng giả chắc chắn, phòng nhà không có gió bụi. Trong nhà đó, có giường nệm, mền, mùng, chiếu, gối đầy đủ mọi thứ. Có bốn ngọc nữ nhan sắc đoan chánh, mặt như hoa đào, hiếm có ở đời, nhìn không chán mắt, đèn đốt sáng sủa.

Vậy trưởng giả ấy có ngủ ngon được chăng?

Con của trưởng giả đáp: Ðúng thế, Thế Tôn!

Có giường nằm tốt thì ngủ rất ngon.

Thế Tôn bảo: Thế nào, chàng trai?

Nếu người ngủ được ngon giấc rồi nổi dục ý.

Do dục ý này có mất ngủ chăng?

Con của trưởng giả đáp: Ðúng vậy, Thế Tôn! Nếu người kia dục ý nổi lên, liền không ngủ được.

Thế Tôn bảo: Như người kia dục ý mạnh. Nay Như Lai đã dứt hẳn không sót, không còn gốc rễ, chẳng còn hưng khởi nữa.

Thế nào, chàng trai, nếu có tâm sân giận, ngu si nổi lên, há ngủ ngon được sao?

Chàng trai đáp: Không ngủ ngon được.

Vì sao thế?

Do tâm có ba độc vậy.

Thế Tôn bảo: Như Lai hôm nay không còn tâm này, dứt hẳn không sót, cũng không gốc rễ.

Chàng trai nên biết!

Nay Ta sẽ nói về bốn loại tòa.

Thế nào là bốn?

Có tòa thấp hèn, có tòa của Thiên, tòa của Phạm Thiên và tòa của Phật.

Chàng trai nên biết!

Tòa thấp là tòa của Chuyển Luân Thánh Vương. Tòa Thiên là tòa Thích Đề Hoàn Nhân. Tòa Phạm Thiên là tòa của Phạm Thiên Vương. Tòa Phật là tòa Tứ Đế.

Toà thấp là tòa hướng Tu Đà Hoàn. Tòa Thiên là tòa đắc Tu Đà Hoàn. Tòa Phạm Thiên là tòa hướng Tư Đà Hàm. Tòa Phật là tòa Tứ Ý Chỉ.

Tòa thấp là tòa đắc Tư Đà Hàm. Tòa Thiên là tòa hướng A Na Hàm. Tòa Phạm Thiên là tòa đắc quả A Na Hàm. Tòa Phật là tòa Tứ Đẳng.

Tòa thấp là tòa Dục Giới. Tòa Thiên là tòa Sắc Giới. Tòa Phạm Thiên là tòa Vô Sắc Giới. Tòa Phật là tòa Tứ Thần Túc.

Thế nên, này chàng trai!

Như Lai đã ngồi tòa tứ thần túc, chóng được ngủ ngon. Trong đó không khởi dâm, nộ, si. Ðã chẳng khởi tâm ba độc này, liền ở Vô Dư Niết Bàn mà Bát Niết Bàn. Sanh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không còn tái sanh nữa, như thực mà biết.

Thế nên chàng trai!

Ta quán nghĩa này xong, nên nói Như Lai chóng được ngủ ngon.

Bấy giờ, con của trưởng giả liền nói kệ:

Gặp nhau ngày rất lâu,

Bát Niết Bàn Phạm Chí,

Do nương sức Như Lai,

Rõ ngủ và diệt độ.

Tòa thấp và tòa Thiên,

Tòa Phạm và tòa Phật,

Như Lai đều phân biệt,

Thế nên được ngủ ngon.

Tự quy Nhân Trung Tôn.

Cũng quy Nhân Trung Thượng,

Nay con chưa thể biết,

Là nương những Thiền nào?

Con của trưởng giả nói lời xong, Thế Tôn im lặng bằng lòng.

Con của trưởng giả liền nghĩ: Thế Tôn đã hứa khả. Ta vui mừng hết sức, không kềm được, liền từ chỗ ngồi đứng lên, cúi lạy Phật mà lui đi. Bấy giờ chàng trai ấy nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

Tôi nghe như vậy!

Một thời Phật ở thành La Duyệt, trong núi Kỳ Xà Quật cùng năm trăm đại chúng Tỳ Kheo. Khi ấy Thế Tôn từ tịnh thất đứng lên, đi xuống núi Linh Thứu, cùng Phạm Chí Lộc Ðầu, dần dần du hành đến bãi tha ma đáng sợ.

Bấy giờ, Thế Tôn cầm một đầu lâu người chết trao cho Phạm Chí và bảo: Phạm Chí! Nay ông rõ được tinh tú lại kiêm cả thuốc men, có thể trị lành bệnh chúng sanh. Ông hiểu hết các nẻo, cũng còn có thể biết nhân duyên người chết.

Nay Ta hỏi ông: Ðây là đầu lâu người nào?

Là đàn ông hay đàn bà?

Lại do bệnh gì mà chết?

Lúc ấy, Phạm Chí liền cầm đầu lâu, lật qua lật lại quan sát, lấy tay gõ gõ rồi bạch Thế Tôn: Ðây là đầu lâu đàn ông, không phải đàn bà.

Thế Tôn bảo: Ðúng thế! Phạm Chí! Như lời ông nói. Ðây là đàn ông, chẳng phải đàn bà.

Thế Tôn hỏi: Do đâu người này mạng chung?

Phạm Chí lại cầm gõ đầu lâu và bạch Thế Tôn: Ðây là nhiều bệnh nhóm lại. Trăm đốt xương đau nhức đến chết.

Thế Tôn hỏi: Nên dùng cách nào trị?

Phạm Chí Lộc Ðầu bạch Phật: Nên lấy trái A Lê Lặc hòa chung với mật, rồi uống thì bệnh lành được.

Thế Tôn bảo: Lành thay! Như lời ông nói. Nếu người này được uống thuốc ấy thì cũng chưa chết.

Ngày nay, người này mạng chung, sanh đến chỗ nào?

Phạm Chí nghe xong, lại cầm đầu lâu gõ, bạch Thế Tôn: Người này mạng chung đọa trong ba đường ác, không sanh chỗ lành.

Thế Tôn bảo: Ðúng vậy, Phạm Chí! Như lời ông nói. Ông ta đọa trong ba đường ác, sanh chỗ chẳng lành.

Bấy giờ, Thế Tôn lại cầm một đầu lâu nữa đưa cho Phạm Chí và hỏi: Ðây là người nào? Nam hay nữ?

Phạm Chí lại lấy tay gõ đầu lâu, bạch Thế Tôn: Ðầu  lâu này thân đàn bà.

Thế Tôn hỏi: Do bệnh tật gì mà chết?

Phạm Chí lộc đầu lại lấy tay gõ, rồi bạch Thế Tôn: Ðàn bà này mang thai mà chết.

Thế Tôn bảo: Ðàn bà này vì sao chết?

Phạm Chí bạch Phật: Ðàn bà này sanh non tháng nên chết.

Thế Tôn bảo: Lành thay, lành thay! Phạm Chí! Như lời ông nói.

Bà ta mang thai mà chết lại có cách nào trị?

Phạm Chí bạch: Như bệnh này cần có bơ, đề hồ tốt uống thì khỏi.

Thế Tôn bảo: Ðúng thế, đúng thế! Như lời ông nói.

Nay người đàn bà này đã chết rồi sanh chỗ nào?

Phạm Chí bạch Phật: Người đàn bà này mạng chung sanh trong súc sanh.

Thế Tôn bảo: Lành thay, lành thay! Phạm Chí! Như lời ông nói.

Thế Tôn lại cầm một đầu lâu khác đưa cho Phạm Chí và hỏi: Nam hay nữ?

Phạm Chí lấy tay gõ đầu lâu, bạch Thế Tôn: Ðầu lâu này là đàn ông.

Thế Tôn bảo: Lành thay, lành thay! Như lời ông nói.

Người này do bệnh tật gì mà chết?

Phạm Chí lại lấy tay gõ, bạch Thế Tôn: Người này mạng chung vì ăn uống quá độ, lại gặp thổ tả nên chết.

Thế Tôn bảo: Bệnh này có cách nào trị?

Phạm Chí bạch Phật: Nhịn đói ba ngày liền khỏi.

Thế Tôn bảo: Lành thay, lành thay! Như lời ông nói.

Người này mạng chung sanh về đâu?

Bấy giờ Phạm Chí lấy tay gõ đầu lâu, bạch Thế Tôn: Người này mạng chung sanh trong ngạ quỷ.

Vì sao thế?

Vì nghĩ đến nước.

Thế Tôn bảo: Lành thay, lành thay! Như lời ông nói.

Bấy giờ Thế Tôn lại cầm một đầu lâu khác trao cho Phạm Chí và hỏi: Nam hay nữ?

Phạm Chí lấy tay gõ, bạch Thế Tôn: Ðầu lâu này là đàn bà.

Thế Tôn bảo: Lành thay, lành thay! Như lời ông nói, người này bệnh gì mà chết?

Phạm Chí lại lấy tay gõ đầu lâu, bạch Thế Tôn: Lúc đang sanh thì chết.

Thế Tôn bảo: Tại sao đang sanh mà chết.

Phạm Chí lấy tay gõ, bạch Thế Tôn: Người đàn bà này khí lực suy kiệt và đói quá mà chết.

Thế Tôn bảo: Người này mạng chung sanh chỗ nào?

Phạm Chí lại lấy tay gõ đầu lâu, bạch Thế Tôn: Người này mạng chung sanh trong loài người.

Thế Tôn bảo: Phàm người chết đói mà muốn sanh trong chỗ lành, việc này chẳng đúng.

Đọa trong ba đường ác thì thích đáng hơn!

Phạm Chí lại lấy tay gõ, bạch Thế Tôn: Người đàn bà này trì giới đầy đủ mà chết.

Thế Tôn bảo: Lành thay, lành thay! Như lời ông nói. Người đàn bà này cấm giới đầy đủ đến lúc mạng chung.

Vì sao thế?

Phàm có đàn ông, đàn bà cấm giới hoàn toàn thì lúc mạng chung sẽ đi vào hai đường: Hoặc lên Trời hay trong loài người.

Bấy giờ, Thế Tôn lại cầm một đầu lâu khác đưa cho Phạm Chí hỏi: Nam hay nữ?

Phạm Chí lấy tay gõ, bạch Thế Tôn: Ðầu lâu này là đàn ông.

Thế Tôn bảo: Lành thay, lành thay! Như lời ông nói người này bệnh gì mà chết?

Phạm Chí lại lấy tay gõ đầu lâu, bạch Thế Tôn: Người này không bệnh mà bị người hại chết.

Thế Tôn bảo: Lành thay, lành thay! Như lời ông nói, vị ấy bị người hại mà chết.

Thế Tôn bảo: Người này chết sanh về đâu?

Phạm Chí lấy tay gõ, bạch Thế Tôn: Người này chết sanh trong cõi lành, lên Trời.

Thế Tôn bảo: Như lời ông nói, luận trước, luận sau không hợp nhau.

Phạm Chí bạch Phật: Vì duyên cớ gì mà không hợp nhau?

Thế Tôn bảo: Ðàn ông, đàn bà bị người hại mà chết, đều đọa ba đường ác.

Sao ông lại nói sanh cõi lành, lên Trời?

Phạm Chí lại lấy tay gõ đầu lâu, bạch Thế Tôn: Người này vâng giữ năm giới kiêm hành Thập Thiện, nên đến lúc mạng chung sanh chỗ lành, lên Trời.

Thế Tôn bảo: Lành thay, lành thay!

Như lời ông nói. Người giữ giới không xúc chạm, sanh chỗ lành, lên Trời.

Thế Tôn lại lập lại: Người này giữ mấy giới mà chết?

Bấy giờ, Phạm Chí lại chuyên chú một lòng, không nghĩ gì khác.

Ông lấy tay gõ đầu lâu, bạch Thế Tôn: Trì một giới ư?

Không phải.

Trì hai, ba, bốn, năm chăng?

Không phải. Người này trì Pháp Bát Quan Trai mà chết.

Thế Tôn bảo: Lành thay, lành thay! Như lời ông nói. Người này giữ giới bát quan trai mà chết. Bấy giờ ở phương Ðông, phía Nam núi Phổ Hương có Tỳ Kheo Ưu Đàn Diên nơi Vô Dư Niết Bàn mà Bát Niết Bàn.

Khi ấy Thế Tôn trong khoảng co duỗi cánh tay, đến lấy đầu lâu của Tỳ Kheo đưa cho Phạm Chí và hỏi: Nam hay nữ?

Bấy giờ Phạm Chí lại lấy tay gõ đầu lâu, bạch Thế Tôn: Tôi xem đầu lâu này, nguồn gốc không phải nam cũng không phải nữ.

Vì sao thế?

Tôi quán đầu lâu này cũng không thấy sanh, cũng không thấy đoạn cũng không thấy xoay vần qua lại.

Vì sao thế?

Tôi xem tám phương, trên dưới đều không có tăm hơi.

Bạch Thế Tôn!

Nay tôi chưa rõ đầu lâu này của ai?

Thế Tôn bảo: Thôi, thôi! Phạm Chí! Ông trọn không biết là đầu lâu của ai.

Ông nên biết rằng: Đầu lâu này không đầu không cuối, cũng không sanh tử, cũng không thích ứng ở tám phương, trên dưới. Ðây là Tỳ Kheo Ưu Đà Diên ở phía Nam núi Phổ Hương phương Ðông. Tỳ Kheo nơi Vô Dư Niết Bàn mà Bát Niết Bàn. Chính vì đầu lâu của bậc A La Hán.

Bấy giờ Phạm Thiên nghe lời này xong, khen chưa từng có, liền bạch Phật: Nay tôi xem nhưng con trùng như con kiến này từ chỗ này đến thảy đều biết được.

Tiếng tăm của chim thú, tôi có thể phân biệt biết được: Đây là con đực, đây là con cái. Nhưng tôi xem vị A La Hán này trọn không thấy gì, chẳng thấy chỗ đến cũng chẳng thấy chỗ đi. Chánh Pháp Như Lai rất là kỳ đặc.

Vì sao thế?

Gốc của các pháp phát ra từ kim khẩu của Như Lai. Mà A La Hán phát xuất từ gốc của Kinh Pháp.

Thế Tôn bảo: Ðúng vậy, Phạm Chí! Như lời Ông nói. Gốc của các pháp phát xuất từ miệng Như Lai. Ngay cho Chư Thiên, người đời, ma hoặc ma Thiên, trọn không thể biết chỗ đến của A La Hán.

Bấy giờ, Phạm Chí cúi lạy và bạch Thế Tôn: Con có thể biết hết chín mươi sáu loại thú hướng, thảy đều biết hết, nhưng chỗ thú hướng của Pháp Như Lai, con không thể phân biệt. Cúi mong Thế Tôn cho con được vào đạo.

Thế Tôn bảo: Lành thay! Phạm Chí! Mau tu phạm hạnh rồi cũng sẽ không ai biết chỗ thú hướng của ông. Bấy giờ Phạm Chí liền được xuất gia học đạo. Ông ở chỗ vắng vẻ, tư duy đạo thuật và đạt đến mục đích mà vị Vọng tộc cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y nhắm đến, sanh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không còn tái sanh nữa, như thực mà biết. Lúc ấy Phạm Chí thành A La Hán.

Khi ấy Tôn Giả Lộc Ðầu bạch Thế Tôn: Nay con đã biết pháp tu hành của A La Hán.

Thế Tôn bảo: Ông biết hạnh của A La Hán thế nào?

Tôn Giả Lộc Ðầu bạch Phật: Nay có bốn loại giới.

Thế nào là bốn?

Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới và phong giới.

Ðó là, bạch Thế Tôn! Có bốn loại giới này. Lúc ấy, người mạng chung thì đất liền tự thuộc đất, nước liền tự thuộc nước, lửa thì tự thuộc lửa, gió thì tự thuộc gió.

Thế Tôn bảo: Thế nào Tỳ Kheo, nay có mấy giới?

Tôn Giả Lộc Ðầu bạch Phật: Kỳ thực, nghĩa của bốn giới có tám giới.

Thế Tôn bảo: Thế nào là nghĩa bốn giới có tám giới?

Tôn Giả Lộc Ðầu bạch Phật: Nay có bốn giới.

Thế nào là bốn giới?

Ðất, nước, lửa và gió. Ðó là bốn giới.

Thế nào là nghĩa có tám giới?

Ðịa giới có hai loại: Nội địa và ngoại địa.

Thế nào gọi là loại nội địa?

Tóc, lông, móng, răng, thân thể, da dẻ, gân cốt, tủy não, ruột, bao tử, gan, mật, tỳ thận. Ðó gọi là nội địa.

Thế nào là ngoại địa?

Có các thứ cứng chắc. Ðây gọi là loại ngoại địa. Ðó là hai loại địa đất.

Thế nào là thủy chủng?

Thủy chủng có hai: Nội thủy chủng và ngoại thủy chủng. Nội thủy chủng là đờm dãi, nước mắt, nước tiểu, máu, tủy. Ðó gọi là nội thủy chủng. Các vật mềm ướt bên ngoài, đó gọi là ngoại thủy chủng.

Ðây gọi là hai loại thủy nước.

Thế nào gọi là hỏa chủng?

Hỏa chủng có hai: Nội hỏa và ngoại hỏa.

Thế nào gọi là nội hỏa?

Các vật bị ăn, thảy đều tiêu hóa không có dư sót. Ðây gọi là nội hỏa.

Thế nào gọi là ngoại hỏa?

Các vật chứa nhiệt, vật bên ngoài. Ðây gọi là ngoại hỏa. Ðó là hai loại hỏa lửa.

Thế nào gọi là phong chủng?

Phong chủng có hai: Nội phong và ngoại phong. Nội phong nghĩa là gió trong môi, gió mắt, gió đầu, gió hơi thở ra, gió hơi thở vào, gió trong tất cả đốt xương. Ðây gọi là nội phong.

Thế nào gọi là ngoại phong?

Nghĩa là vật nhẹ nhàng, lay động mau chóng. Ðây gọi là ngoại phong. Ðó là, bạch Thế Tôn có hai loại phong gió, kỳ thực có bốn mà đếm có tám.

Như thế, bạch Thế Tôn!

Con xét nghĩa này: Con người nếu lúc mạng chung, bốn loại mỗi thứ trở về với gốc của nó.

Thế Tôn bảo: Pháp vô thường cũng chẳng cùng hữu thường hợp.

Vì sao như thế?

Ðịa chủng, có hai, hoặc trong hoặc ngoài. Bấy giờ nội địa chủng là pháp vô thường, là pháp biến đổi. Loại ngoại địa là pháp hằng trụ không biến đổi. Ðó là đất có hai loại chẳng cùng hữu thường, vô thường tương ưng. Ba đại kia cũng lại như thế, không cùng tương ứng với hữu thường, vô thường.

Thế nên, Lộc Ðầu!

Tuy có tám loại, kỳ thực có bốn. Như thế, Lộc Ðầu, nên học điều này. Bấy giờ Tôn Giả Lộc Ðầu nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

***

icon

Tổng hợp

Cùng chủ đề

Phật Thuyết Kinh đại Thừa Mật Nghiêm - Phẩm Tám - Phẩm A Lại Da Vi Mật - Tập Sáu

Kinh Nguyên thủy   •   25.12.2023
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Địa Bà Ha La, Đời Đường

Phật Thuyết Kinh đại Thừa Mật Nghiêm - Phẩm Tám - Phẩm A Lại Da Vi Mật - Tập Năm

Kinh Nguyên thủy   •   25.12.2023
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Địa Bà Ha La, Đời Đường

Phật Thuyết Kinh đại Thừa Mật Nghiêm - Phẩm Tám - Phẩm A Lại Da Vi Mật - Tập Bốn

Kinh Nguyên thủy   •   25.12.2023
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Địa Bà Ha La, Đời Đường

Phật Thuyết Kinh đại Thừa Mật Nghiêm - Phẩm Tám - Phẩm A Lại Da Vi Mật - Tập Ba

Kinh Nguyên thủy   •   25.12.2023
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Địa Bà Ha La, Đời Đường

Phật Thuyết Kinh đại Thừa Mật Nghiêm - Phẩm Tám - Phẩm A Lại Da Vi Mật - Tập Hai

Kinh Nguyên thủy   •   25.12.2023
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Địa Bà Ha La, Đời Đường

Phật Thuyết Kinh đại Thừa Mật Nghiêm - Phẩm Tám - Phẩm A Lại Da Vi Mật - Tập Một

Kinh Nguyên thủy   •   25.12.2023
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Địa Bà Ha La, Đời Đường