Phật Thuyết Kinh đại Bảo Tích - Pháp Hội Thứ Năm Mươi Chín - Pháp Hội Hư Không Mục - Phần Tám
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Nan Liên Đề Gia Xá, Đời Cao Tế
PHẬT THUYẾT
KINH ĐẠI BẢO TÍCH
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư
Nan Liên Đề Gia Xá, Đời Cao Tế
PHÁP HỘI THỨ NĂM MƯƠI CHÍN
PHÁP HỘI HƯ KHÔNG MỤC
PHẦN TÁM
Này Bảo Kế! Lúc Bồ Tát tu bố thí đầy đủ thành tựu bốn sự như vậy thì được xa lìa tám bất chánh kiến, đó là ngã kiến, thường kiến, đoạn kiến, thọ mạng kiến, sĩ phu kiến, thường kiến, đoạn kiến, hữu kiến, vô kiến.
Lại còn xa lìa bốn thứ công đức hạ liệt, đó là phàm phu công đức, Thanh Văn công đức, Duyên Giác công đức và những công đức tu tập khác. Lại còn chẳng quán sát bốn tướng, đó là tướng thường, tướng lạc, tướng ngã và tướng tịnh.
Lại còn hay tịnh bốn pháp, đó là tịnh thân, tịnh khẩu, tịnh tâm và tịnh nguyện. Lại còn xa lìa ba chướng ngại, đó là quả báo ngại, Thanh Văn ngại và hối tâm ngại. Lại còn được xa lìa ba sự bố uý, đó là kiêu mạn uý, thượng mạn uý và ma nghiệp uý.
Lại còn có đủ bốn thứ pháp ấn, chúng sanh ấn và bồ đề không ấn. Lại còn đủ bốn thứ tinh tiến, đó là vì đầy đủ cho chúng sanh nên tinh tiến, vì thủ hộ Phật Pháp nên tinh tiến và vì tịnh Phật Độ nên tinh tiến.
Lại còn được đủ bốn niệm, đó là niệm bồ đề tâm, niệm muốn thấy Phật, tâm thường niệm từ và niệm rời lìa phiền não.
Còn được tịnh ba sự, đó là tịnh tự thân, tịnh tha thân và tịnh bồ đề. Còn tịnh bốn trí, đó là tịnh giới trí, tịnh chúng sanh mãn túc trí, tịnh nguyện trí và tịnh trợ bồ đề trí. Bồ Tát nếu có thể hành các pháp như vậy thì có thể tịnh được Đàn Ba la mật.
Này Bảo Kế! Thế nào là Bồ Tát tịnh Thi Ba la mật?
Có một thứ tịnh, đó là Bồ Tát thương xót tất cả thế gian chúng sanh hơn hàng Thanh Văn và Bích Chi Phật, lòng từ có thể phá hoại ma nghiệp điều phục các chúng sanh đầy đủ vô lượng công đức bảo tụ không có phóng dật. Còn có hai thứ, đó là nơi các chúng sanh chẳng có ác tâm và điều phục chúng sanh khiến họ hướng đến bồ đề.
Còn có ba thứ, đó là tịnh thân vì xa lìa tất cả ác nghiệp nơi thân vậy. Tịnh khẩu vì xa lìa tất cả ác nghiệp nơi khẩu vậy. Tịnh ý vì xa lìa tất cả tham sân và tà kiến vậy.
Còn có bốn thứ, đó là khuyên các chúng sanh khiến họ thọ trì giới cấm. Khuyên các chúng sanh khiến họ trì tịnh giới. Có thể điều các người phá giới. Thấy người trì giới thì cúng dường cung kính tôn trọng tán thán.
Còn có năm thứ, đó là trì giới rồi chẳng sanh kiêu mạn. Thấy người phạm giới chẳng sanh khinh mạn. Thấy người trì giới tâm không ganh ghét. Trọn chẳng cầu Thanh Văn thưa. Chẳng niệm Bích Chi Phật thừa.
Còn có sáu thứ, đó là niệm Phật vì siêu quá giới vậy. Niệm pháp vì siêu quá giới rồi tâm không hối. Niệm Tăng vì đầy đủ Như Lai giới vậy. Niệm giới vì chẳng cầu các quả báo trong Tam Giới. Niệm thí vì có thể tất cả đều thí cho. Niệm thiên vì muốn đầy đủ tất cả thiện pháp.
Còn có bảy thứ, đó là thâm tín tất cả Phật Pháp. Siêng tu tinh tiến để được Phật Pháp. Đủ trí để biết tất cả Phật Pháp. Nghe rồi có thể nói tất cả Phật Pháp. Hay cúng dường cha mẹ, Sư Trưởng, Hoà Thượng. Sợ các ác nghiệp hiện tại và vị lai. Có tâm tàm quí.
Còn có tám thứ, đó là chẳng vì lợi dưỡng mà hiển dị hoặc chúng. Chẳng nói sự của mình vì rời lìa tất cả vậy. Chẳng tán thán cúng dường vì tâm tri túc vậy.
Tu Thánh chủng tánh vì thích thiện pháp vậy. Tu pháp Đầu Đà vì chẳng tiếc thân mạng vậy. Thích tịch tĩnh vì lìa nói thế sự vậy. Thâm tâm thích chánh pháp vì nhàm Tam Giới vậy. Chí tâm Hộ Pháp chẳng tiếc thân mạng.
Còn có chín thứ, đó là lìa chín ác tâm vì vượt quá chỗ ở của chín chúng sanh vậy. Niệm tịnh. Niệm tu. Tăng trưởng thiện pháp. Tâm thích tịch tĩnh. Lìa phiền não nhiệt. Trang nghiêm Xa Ma Tha. Siêng tu tinh tiến. Chẳng khi chúng sanh.
Còn có mười thứ, đó là tịnh thân ba nghiệp. Tịnh khẩu bốn nghiệp. Tịnh ý ba nghiệp. Xa lìa tật đố. Lìa tâm siểm khúc. Chí tâm niệm giới. Vì trì giới nên siêng tu tinh tiến. Lời dịu dàng để điều chúng sanh. Thọ thân để chịu sự sai sử của chúng sanh. Nơi các phước điền chẳng khinh mạn.
Này Bảo Kế! Bồ Tát tu Thi la Ba la mật có hai thứ tịnh hạnh: Một là có tâm có tướng và trang nghiêm, thà bỏ thân mạng trọn chẳng phá giới. Hai là vô tâm vô tướng và không có trang nghiêm, nơi tất cả pháp tâm không chỗ thủ trước.
Còn có hai thứ: Một là thường nguyện tâm bồ đề. Hai là chẳng quán bổn hướng bồ đề giới tướng.
Này Bảo Kế! Thế nào là Đại Bồ Tát tịnh Sằn Đề Ba la mật hạnh?
Đại Bồ Tát bị mắng chẳng báo vì khẩu nghiệp tịnh vậy. Bị đánh chẳng báo vì thân nghiệp tịnh vậy. Bị sân chẳng báo vì ý nghiệp tịnh vậy.
Đại Bồ Tát dầu bị mạ nhục mà chẳng báo vì thủ hộ chúng sanh vậy. Bị các đau khổ mà chẳng báo vì thủ hộ đời sau vậy. Bị chặt tay chân mà từ tâm chẳng sân vì thủ hộ bồ đề vậy. Thấy có người cầu xin lòng chẳng sân hận vì Tứ Nhiếp Pháp vậy, vì sanh tâm từ vậy, vì tăng bồ đề Đạo vậy, vì phá xan tham vậy, vì phá ma nghiệp vậy. Đại Bồ Tát niệm Phật rồi tu nhẫn nhục thọ tất cả sự khổ để được thân Phật.
Còn có Bồ Tát tu nhẫn nhục vì muốn được đầy đủ mười lực vậy.
Còn có Bồ Tát tu nhẫn nhục vì muốn thành Đại Sư tử hống vậy.
Còn có Bồ Tát tu nhẫn nhục vì để biết Tam Thế không chướng ngại vậy.
Còn có Bồ Tát tu nhẫn nhục để được sức đại từ đại bi vậy.
Còn có Bồ Tát tu nhẫn nhục để được đầy đủ nhất thiết trí vậy.
Đại Bồ Tát thành tựu hai lực thì được thành tựu hai nhẫn. Đó là trí lực và tu lực. Do trí lực quán sát thân tâm nên thành tựu nhẫn. Do tu lực nên chẳng thủ trước các pháp mà thành nhẫn.
Còn nữa, này Bảo Kế! Tịnh nhẫn Bồ Tát có thể quán sát trong tất cả pháp không có chúng sanh nên tu nhẫn nhục. Vì tất cả pháp tánh nó giải thoát nên Bồ Tát quán tất cả pháp không nhẫn không sân, nơi tất cả pháp tâm không có chỗ thủ trước đây gọi là nhẫn.
Bồ Tát có hai nhẫn, đó là quán như Pháp Thân và quán như pháp giới. Đại Bồ Tát nếu có thể quán hai pháp như vậy thì gọi là Bồ Tát tịnh Sằn Đề Ba la mật hạnh.
Này Bảo Kế! Thế nào là Bồ Tát tịnh Tỳ Lê Gia Ba la mật?
Nếu Đại Bồ Tát nơi các hạnh tu tập chẳng nghỉ dứt chẳng hối, nơi các thiện pháp tâm không nhàm đủ, cũng thích tu hành năm Ba la mật thường cầu trang nghiêm tất cả thiện pháp, ủng hộ chánh pháp thích tuyên nói chánh pháp, điều phục chúng sanh lòng không thôi nghỉ, quá Thanh Văn thừa.
Bích Chi Phật thừa, ủng hộ tất cả Chư Phật chánh pháp, tu các khổ hạnh lòng không hối, trọn chẳng hư mất căn lành xưa trước, rộng tu đa văn lòng không nhàm mỏi, vì chúng mà chạy lo công việc lòng chẳng buồn hối, đây gọi là tinh tiến.
Tinh tiến như vậy thế nào gọi là tịnh?
Nếu Bồ Tát có thể quán thân như tượng như bóng, quán khẩu không ngôn thuyết, quán tâm rốt ráo thanh tịnh. Dùng tận trí quán các pháp. Dùng vô sanh trí biết các hữu đều tận.
Lúc quán như vậy thì có thể trang nghiêm ba thứ tinh tiến: một là thể trang nghiêm, hai là giác trang nghiêm và ba là phân biệt trang nghiêm.
Còn có ba thứ bất trước tinh tiến: Một là chẳng trước nhãn, hai là chẳng trước sắc và ba là chẳng trước nhãn thức. Nhẫn đến chẳng trước ý pháp và ý thức cũng như vậy. Đây gọi là chẳng thủ chẳng xả tinh tiến đầy đủ.
Siêng tinh tiến như vậy rồi, chẳng thủ bố thí chẳng xả xan tham, chẳng thủ trì giới chẳng xả huỷ giới, chẳng thủ nhẫn nhục chẳng xả sân hận, chẳng thủ tinh tiến chẳng xả giải đãi, chẳng thủ thiền định chẳng xả loạn tâm, chẳng thủ trí huệ chẳng xả ngu si, chẳng thủ thiện pháp chẳng xả ác pháp, chẳng thủ Phật đạo chẳng xả Nhị Thừa. Đây gọi là hai thứ cần tinh tiến vậy. Hai tinh tiến ấy có thể thành tựu đủ Phật Pháp.
Còn có hai thứ tinh tiến, đó là nội tinh tiến và ngoại tinh tiến vậy.
Đây gọi là tịnh Tỳ Lê Gia Ba la mật hạnh.
Này Bảo Kế! Thế nào là Bồ Tát Tịnh Thiền Ba la mật hạnh?
Nếu có Đại Bồ Tát thủ các thiền chi, quán các thiền chi. Quán rồi nhập định. Đã nhập định rồi chẳng tham trước sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đây gọi là thiền là chẳng phải trước nhãn thiền nhẫn đến ý thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải trước sắc thiền nhẫn đến pháp thiền.
Đây gọi là thiền chẳng phải trước địa, thuỷ, hỏa, phong, không thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải trước nhật, nguyệt, Thích, Phạm, Tự Tại Thiên thiền.
Đây gọi là thiền là chẳng phải trước Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới Thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải trước thử bỉ thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải quán thân tâm thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải trước Thượng Hạ Thiền.
Đây gọi là thiền là chẳng phải trước tứ thủ thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải trước ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng tướng thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải trước thường kiến, đoạn kiến, hữu kiến, vô kiến thiền.
Đây gọi là thiền là chẳng phải cứu cánh lậu tận thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải nhập định tụ thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải được Sa Môn quả thiền.
thiền như vậy đó chẳng phải cứu cánh hành thiền. Gọi là không điều phục thiền chẳng phải chân không thiền. Gọi là vô tướng điều phục thiền chẳng phải chân vô tướng thiền.
Gọi là vô nguyện điều phục thiền chẳng phải chân vô nguyện thiền. Đây gọi là Bồ Tát đầy đủ thành tựu đại từ đại bi nhất thiết không hành thiền.
Thế nào gọi là đủ Nhất thiết không?
Nếu Bồ Tát có thể chẳng quán bồ thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí huệ, phương tiện, từ bi, hỉ xả, Tứ Đế, bồ đề, trí huệ, phương tiện, từ bi, hỉ xả, Tứ Đế, bồ đề, trí huệ, thệ nguyện, trang nghiêm, Xa Ma Tha, Tỳ Bà Xá Na, giải thoát, tàm quý, đây gọi là Chư Phật phương tiện tam muội thần thông vô ngại trí, nhiếp thủ thập lực, tứ vô sở uý và thập bát bất cộng pháp.
Chẳng bị nhị thừa nhiễm ô, đoạn các tập khí, đầy đủ vô lượng đại thần thông trí, được các chúng sanh quy y, trang nghiêm thế pháp và xuất thế pháp, hay khéo điều phục tất cả chúng sanh qua khỏi bốn dòng và biển lớn sanh tử.
Hay dứt tất cả hệ phược, tịnh các pháp tánh, đây gọi là tánh tịch tĩnh chẳng phải là hướng pháp tịch tĩnh, cũng lấy hướng pháp xả tánh, thấy rõ hướng pháp manh tánh, nghe rõ hướng pháp lung tánh, siêng điều phục hướng pháp đình trụ, tiêu diệt tịch tĩnh, điều phục xí nhiên. Đây gọi là nhất thiết hành không.
Này Bảo Kế! Ví như Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới tất cả chúng sanh đều giỏi biết họa. Trong ấy hoặc có kẻ giỏi đắp tô, hoặc giỏi mài cho màu, hoặc biết hoạ thân chẳng hiểu hoạ tay chân, hoặc hiểu họa tay chân mà chẳng hiểu họa mắt.
Có Quốc Vương trao chúng ấy một trương lụa mà bảo rằng: Người nào có khả năng họa thì đến tụ họp tại đây hoạ hình thân ta trên trương lụa này. Chúng ấy đều đến tụ họp tuỳ khả năng mình mà cùng chung làm. Có một hoạ sư vì duyên sự riêng nên không đến họp được, chúng ấy họa xong đồng đem bức họa dâng cho Quốc Vương.
Này Bảo Kế! Như vậy có thể gọi là mọi người đều tụ họp tất cả chăng?
Bảo Kế Bồ Tát nói: Không, bạch Đức Thế Tôn!
Đức Phật nói: Này Bảo Kế! Ta nói ví dụ ấy nghĩa của nó chưa tỏ. Vì còn một người chưa đến nên chẳng được gọi là tất cả đều họp lại làm, cũng chẳng được nói hình tượng thành tựu.
Phật Pháp hành cũng như vậy. Nếu còn có một hành chẳng thành tựu thì chẳng gọi là đầy đủ Như Lai chánh pháp. Vì vậy cần phải đầy đủ các hành mới gọi là thành tựu vô thượng bồ đề. Lúc nói pháp ấy, có sáu vạn Bồ Tát nơi tất cả hành được đầy đủ không.
Này Bảo Kế! Thế nào gọi là Bồ Tát tịnh Bát Nhã Ba la mật hạnh?
Đại Bồ Tát đủ mười hai huệ: Một là biết quá khứ vô ngại, hai là biết vị lai vô ngại, ba là biết hiện tại vô ngại, bốn là biết hữu vi vô ngại, năm là biết vô vi vô ngại, sáu là biết tất cả thế tác vô ngại, bảy là biết xuất thế tác vô ngại, tám là biện tài vô ngại, chín là biết thiệt vô ngại, mười là biết thế đế vô ngại, mười một là biết đệ nhất nghĩa vô ngại, mười hai là biết các chúng sanh lợi độn vô ngại. Đây gọi là huệ.
Huệ này, với khó phá thì hay phá được, với khó thấy thì hay thấy được, với khó hiểu thì hay hiểu được. Ví như kim cương không gì trở hoại được.
Đây gọi là huệ xuất thế, là cứu cánh huệ, là nhất thiết chúng sanh chân giải tâm huệ, khó hành khó vào, thậm thâm khó thấy, khó tập học được, là chánh kiến chánh tụ xa lìa các kiến và tập khí, tự biết tỏ rõ, thấy biết tâm tất cả chúng sanh, là pháp trí nghĩa trí không có tham trước, là quang minh rộng lớn không tranh không gần, khéo biết thời tiết vượt quá thời tiết, là chánh tụ thủ hộ chánh tụ.
Là cứu cánh giác Chánh Giác thiệt giác, xa lìa cấu uế, chẳng bị tất cả Thánh Nhân quở trách, là nhất hành vô hành, là tất cả chúng sanh hành, là hành không có dấu chân, dầu rời lìa tất cả thế gian hành mà cũng chẳng xa lìa tất cả thế gian hành, dầu lìa Thế Giới mà chẳng rời Phật Độ.
Dầu lìa tất cả các hành trang nghiêm mà chẳng rời xa điều phục chúng sanh, dầu rời các hành mà chẳng lìa thiện hành, dầu rời chúng sanh tâm hành nhân duyên mà chẳng rời thấy biết tâm hành tất cả chúng sanh, dầu rời thế hành mà chẳng lìa thế pháp, dầu lìa các thân chúng sanh mà cũng nhập vào tâm chúng sanh. Đây gọi là huệ. Trí huệ như vậy rất là khó được.
Nếu chẳng phải thiện căn thuần thục thì trọn chẳng thể được. Người chẳng thường tu hành thiện pháp luôn thì cũng chẳng thể được trí huệ như vậy.
Người ngồi toà Kim Cương dưới bồ đề thọ mới được đó. Là chân như pháp tánh được Chư Phật hộ niệm, đã qua đến bờ kia, biết tất cả pháp ban bố vị Cam Lộ, vì vậy nên gọi là Bát Nhã Ba la mật.
Này Bảo Kế! Trí huệ như vậy cứu cánh biết rõ tất cả duyên, tất cả tướng, tất cả tâm hành của tất cả chúng sanh, vì vậy nên gọi là trí huệ.
Trí huệ như vậy có hai tịch tĩnh: Một là biết tướng ngại tịch tĩnh và hai là biết tướng vô ngại tịch tĩnh.
Còn có hai thứ: Một là vô giác tịnh và hai là lìa các kiến tịnh. Trí huệ như vậy, Bồ Tát thường dạo đi trong căn lợi độn của chúng sanh, trong tâm chúng sanh, trong tất cả pháp, quán các phiền não tức là trí huệ.
Bồ Tát dầu trụ các cõi mà phần nhiều trụ Cõi Phật. Hay khéo xem thấy thập phương Thế Giới, lìa tất cả cái chướng, đều là tất cả Phật Pháp căn bổn, đầy đủ tất cả vô thượng Phật Pháp, chẳng học các pháp chẳng rời các pháp, chẳng hoại một pháp chẳng thành một pháp.
Bồ Tát thành tựu trí huệ như vậy có thể làm công đức, hay đọc tụng hay tuyên thuyết tất cả Phật Pháp, tất cả phước đức đều có thể được, đều có thể tu thành tất cả thiện pháp. Đây gọi là Bồ Tát tịnh bát nhã Ba la mật hạnh.
Lúc nói pháp ấy, có hai vạn hai ngàn chúng sanh phát tâm vô thượng bồ đề, tám ngàn Bồ Tát được vô sanh nhẫn, năm trăm Tỳ Kheo lậu tận ý giải, mười ngàn Thiên Nhân được quả Tu Đà Hoàn.
Tất cả hàng Nhân Thiên đồng nói rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Nếu người có thể tin pháp này thì nên biết người ấy được Chư Phật hộ niệm, huống là người có thể thọ trì đọc tụng thơ tả cúng dường!
Đức Phật lại bảo Bảo Kế Bồ Tát: Này Bảo Kế! Thế nào là Đại Bồ Tát tịnh trợ bồ đề hạnh?
Đại Bồ Tát thân niệm xứ có hai thứ hạnh: Một là bất tịnh hạnh, hai là tịnh hạnh. Thân bất tịnh hạnh là quán thân bất tịnh hôi dơ đầy dẫy, vô thường vô trụ nó dội phỉnh phàm phu.
Thân tịnh hạnh là tư duy như vậy: Nay ta nhân nơi thân bất tịnh này mà được tịnh Phật thân, được tịnh pháp thân, được tịnh công đức thân, được thân mà tất cả chúng sanh thích thấy.
Còn nữa, này Bảo Kế! Bồ Tát quán thân rồi có thể tịnh hai hạnh: Một là vô thường, hai là thường. Bồ Tát quán thân vô thường tất định sẽ chết.
Quán như vậy rồi chẳng vì thân mà gây kiết sử tạo ác nghiệp, chẳng tà mạng tự sống, tu ba kiên pháp: Đó là thân kiên, mạng kiên và tài kiên. Quán như vậy rồi, Bồ Tát có thể vì chúng sanh mà làm cấp sử liền được xa lìa thân khẩu ý siểm khúc. Bồ Tát quán thân vô thường được vô lượng công đức như vậy.
Thế nào là thường?
Bồ Tát quán thân vô thường rồi thì được thường thân, nhân quán vô thường mà được công đức thân, nhân nơi vô thường mà chẳng dứt Phật chủng, pháp chủng và Tăng chủng.
Lại này Bảo Kế! Thường ấy tức là vô tận, vô tận ấy tức là vô vi, vô vi ấy là chỗ sở hành của nhất thiết trí, sở hành của nhất thiết trí ấy tức là không, vô tướng vô nguyện. Lại thường ấy tức là hư không. Đại Bồ Tát quán tất cả pháp dường như hư không. Đây gọi là Đại Bồ Tát thường hạnh.
Này Bảo Kế! Còn có Bồ Tát tu thân niệm xứ, quán sát thân tất cả chúng sanh rốt ráo sẽ là thân Phật Như Lai. Như Phật thân, pháp Thân cũng vậy. Hai thân như vậy thân ta cũng vậy. Đây gọi là Bồ Tát quán vô lậu thân. Bấy giờ những thiện pháp mà Bồ Tát đã được hoặc nhiều hay ít tất cả đều vô lậu.
Đem pháp như vậy phát nguyện hồi hướng Nhất Thiết chủng trí. Đã được vô lậu thì trọn chẳng còn khởi hữu lậu. Nói là lậu ấy có ba thứ là Dục Giới lậu, Sắc, Vô Sắc Giới lậu cũng gọi là hữu lậu và vô minh lậu.
Bồ Tát biết rõ ba lậu rồi, vì chúng sanh mà thọ sanh Dục Giới cũng chẳng bị dục lậu làm ô nhiễm, thọ sanh Sắc Giới và Vô Sắc Giới cũng vậy.
Vô minh lậu ấy đã nhỗ gốc rễ nó. Tại sao, vì nhổ vô minh thì không có kiến lậu. Bồ Tát tu thân niệm xứ rồi, ở trong thân chẳng thấy có ngã ngã sở, chẳng sanh kiêu mạn, vì đã lìa ngã ngã sở nên chẳng cầu chẳng lấy tất cả tài vật. Vì chẳng cầu lấy nên ở nơi tài vật không tranh. Vì không tranh nên là tịch tĩnh. Luận về tịch tĩnh ấy tức là nhẫn nhục.
Trụ nơi nhẫn nhục chẳng thượng chẳng hạ tức là như pháp trụ. Như pháp trụ thì chẳng hành thiện pháp chẳng hành ác pháp.
Chẳng thượng chẳng hạ rồi thì được thiện hữu. Được thiện hữu rồi thì được gặp thiện tri thức. Vì được gặp thiện tri thức nên được nghe chánh pháp. Vì nghe chánh pháp nên chẳng dùng tâm hữu lậu hướng pháp hữu lậu. Đây gọi là vượt quá cảnh giới các lậu.
Quá cảnh giới các lậu rồi sẽ nhập thiền định. Đã nhập định rồi nhẫn đến nơi một pháp cũng chẳng sanh giác quán. Vì không có giác quán nên chẳng làm một pháp chẳng biến một pháp. Đây gọi là như pháp. Đây gọi là tất cả pháp bình đẳng. Nếu được tất cả pháp bình đẳng như vậy thì gọi là nhất thiết trí. Đại Bồ Tát nếu có thể quán thân niệm xứ như vậy đây gọi là quán thân niệm.
***
Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Năm - Phẩm Mười Bảy - Phẩm Tham Hành - Phần Hai
Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Ba - Phẩm Ba Mươi Mốt - Phẩm Tuyên Hóa - Phần Ba
Phật Thuyết Kinh ưu Bà Tắc Giới - Phẩm Hai Mươi Bảy - Thiền Ba La Mật
Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội đầu - Phẩm Bốn Mươi Bốn - Phẩm Chúng Dụ - Phần Hai
Phật Thuyết Kinh Tạp A Hàm - Kinh Tụ
Phật Thuyết Kinh Trường A Hàm - Kinh Du Hành - Phần Tám
Phật Thuyết Kinh Tăng Nhất A Hàm - Phẩm Bốn Mươi Chín - Phẩm Chăn Trâu - Phần Hai