Phật Thuyết Kinh đại Khổng Tước Chú Vương - Phần Mười Hai
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Nghĩa Tịnh, Đời Đường
PHẬT THUYẾT KINH
ĐẠI KHỔNG TƯỚC CHÚ VƯƠNG
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư
Nghĩa Tịnh, Đời Đường
PHẦN MƯỜI HAI
A Nan Đà! Ông nên nhớ trì. Trong đại địa này có tên gọi của Đại Độc Dược, nếu có người biết thì chẳng bị trúng độc.
Tên ấy là: An Đạt La. Aṇḍarā, Bát Đạt La. Paṇḍarā, Yết La Trà. Karalā, Kê Du La. Keyūra, Bộ Đăng Cấp Ma. Bhūtaṅgamā, Bộ Đa Bát Để. Bhūtapati, Tần Độ Bát Để. Viṃdupati, Thất Lợi Bát Để Śiripati, Đế Xã Bát Để. Tejapati, Đế Xã Ác Yết La Bát Để. Tejogra pati, Da Xá Bát Để Yaśopati, Da Xá Ác Yết La Bát Để Yaśograpati, A La La. Araḍā, Đá La La.
Taraḍā, Đát La Đột?
Tarāṇāṃ, Đát La. Taraḍā, Đạt Đa. Dantā, Đặc Ha. Dahā, Thệ La Jelā, Bà La. Phalā, Cồ Lỗ. Gula, Chí La Đát Đố La. Cirādantulā, Y Lý Chỉ Lý. Irikicikā, Thiết Đảm Đổ La Śatanturā, Tì Bố Lý Lý. Vipuli, Nặc Cú Lý. Nakuli, Kê Lật Bỉ. Kirimi, Đát Na Già Hiệt Lật Sắt Tra.
Taraṅgātiṣṭha, A Một La Ma Để Āmramati, Thiệm Bộ Mạt Để Jambumati, Ma Xã Mạt Để. Madhumati, A Mạt Lệ. Amale, Tì Mạt Lệ. Vimale, Quân Trà Lệ. Kuṇḍale, Át Trĩ Nại Trĩ. Aṭṭe naṭṭe, Bạc Kế. Vakke, Bạc Đa Bộ Đế. Vakkadūṭṭe, Phạt Sai Na Bệ. Vastanābhe, Mạc Ha Yết Lệ. Mahāgale, Lạm Bệ. Lambe, Đổ Lạm Bệ. Turambe, svāhā.
A Nan Đà! Tên của Đại Độc Dược này với Dược Thần. Bhaiṣaijya devatā cũng dùng Đại Khổng Tước Chú Vương này thường ủng hộ con … cùng các quyến thuộc, sống lâu trăm tuổi.
Lại nữa, A Nan Đà! Đại Khổng Tước Chú Vương này là điều mà bảy Đức Phật Chính Biến Tri đã tuyên nói.
Ấy là: Tỳ Bát Thi Chánh Biến Tri. Vipa’syìnsamyaksaṃbuddha, Thi Khí Śikhìn, Tỳ Xá Phù. Vi’svabhū, Câu Lưu Tôn. Krakucchanda, Yết Nặc Ca Mâu Ni. Kanakamunïi, Ca Nhiếp Ba. Kaøśyapa. Nay Ta, Thích Ca Mâu Ni Chính Biến Tri Śākya muṇi samyaksaṃbuddha cũng lại tùy vui nói.
Đại Khổng Tước Chú Vương này, Bồ Tát từ Thị. Maitreya cũng lại tuyên nói.
Tác Ha Thế Giới Chủ Đại Phạm Thiên Vương, Thiên Đế Thích, Trì Quốc Thiên Vương cùng Kiện Đạt Bà Chủ, hai mươi tám Tướng. Tăng Trưởng Thiên Vương cùng Câu Bàn Trà Chủ, hai mươi tám Tướng.
Quảng Mục Thiên Vương cùng Long Chủ, hai mươi tám Tướng. Đa Văn Thiên Vương cùng Dược Xoa Chủ, hai mươi tám Tướng đều nói. Đại Khổng Tước Chú Vương này.
Bát Chi Ca Đại Dược Xoa Chủ, Ha Lợi Để với 500 người con cùng các quyến thuộc thảy đều tùy vui, cũng lại nói tuyên nói Đại Khổng Tước Chú Vương này.
A Nan Đà! Đại Khổng Tước Chú Vương này chẳng thể trái vượt, chẳng nên khinh mạn.
Nếu có Trời. Deva, Rồng. Nāga, A Tô La. Asura, Ma Lâu Đa. Maruta, Yết Lộ Trà. Garuḍa, Kiện Đạt Bà. Gandharva, Khẩn Na La. Kiṃnara, Mạc Hô Lạc Già.
Mahoraga, Dược Xoa Yakṣa nắm giữ. Át Lạc Sát Sa. Rākṣasa, Tất Lệ Đa. Preta, Tất Xá Già. Piśāca, Bộ Đa. Bhūta, Câu Bàn Trà. Kuṃbhaṇḍa, Bố Đan Na. Putana, Yết Trá Bố Đan Na. Kaṭaputana, Tắc Kiến Đà. Skanda, Ố Ma Đả.
Unmāda, Xa Dạ. Chāya, A Ba Tam Ma La. Apasmara, Ô Tất Đa Lạc Ca. Ostakara Nặc Sát Đát La. Nakṣatra, Lê Ba. Ripu … nhóm Thiên Thần này chẳng thể trái vượt Khổng Tước Chú Vương này.
Lại nữa, hết thảy các quỷ thần ác: Ăn tinh khí, ăn thai, ăn máu, ăn thịt, ăn Chi Cao.
Dầu mỡ, ăn tủy, ăn chi tiết, ăn sống, ăn mạng, ăn đồ cúng, ăn khí, ăn hương, ăn tóc, ăn hoa, ăn quả, ăn ngũ cốc, ăn lửa thiêu, ăn mủ, ăn đại tiện, ăn tiểu tiện, ăn nước bọt, ăn nước rãi, ăn nước mũi, ăn thức ăn dư thừa, ăn đồ ói mửa, ăn vật bất tịnh, ăn nước chảy rỉ… có các loài ăn ác của nhóm như vậy cũng chẳng thể trái vượt Khổng Tước Chú Vương này.
Lại nữa, có người làm các cổ mị, yếm đảo, chú thuật, bay đi trong hư không, Cật Lật Để. Krṭyā, Yết Ma Noa. Karmaṇa, Ca Cô Ốt Đả. Kakhordda, Chỉ Lạt Noa. Kiraṇa, Tỳ Đa Trà. Vetaḍa, Át Đả Tỳ Đa Trà, Chất Giả.
Cicca, Tất Lệ Sách Ca, uống máu tủy của kẻ khác, biến làm người sai khiến, hô triệu quỷ thần làm các nghiệp ác, ác thực biến thổ, ác ảnh, ác thị, làm các thư phù ác hoặc siêu độ ác.
Khi có các nhóm ác như vậy hiện ra thời đều hộ giúp con… khiến lìa lo khổ.
Lại nữa, hết thảy các việc kinh sợ: Vua, giặc, nước, lửa, binh nước khác đến gây sợ hãi, sợ gặp đói khát, sợ chết không đúng thời, sợ đất chấn động, sợ ác thú đến, sợ tri thức ác, sợ lúc sắp chết. Nhóm sợ hãi như vậy đều hộ giúp con…
Lại nữa, các bệnh: Ghẻ lở, bệnh hủi, mụn nhọt, hắc lào, bệnh trĩ, bệnh lậu, ung thư, da thân khô đen, đau đầu, đau nửa đầu, ăn uống chẳng tiêu, mắt, tai, mũi, lưỡi, miệng, môi, răng nanh, răng, cổ họng, ngực, lưng, hông sườn, eo, bụng, tay chân, chi tiết, chỗ ẩn kín, tâm buồn bực, hạch ở bẹn, bệnh hòn trong bụng, bệnh khô đét gầy ốm, khắp thân bệnh khổ thảy đều trừ hết.
Hoặc lại bệnh sốt rét: Một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày cho đến bảy ngày, nửa tháng, một tháng, hoặc lại nhiều ngày liên tiếp, hoặc lại phút chốc, hoặc bệnh thường nóng sốt, bệnh thiên tà, bệnh bứu cổ, quỷ thần, nóng sốt, trúng gió, vàng da, đàm ẩm.
Trong thân thể, nước dịch quá lượng chẳng thâu hóa được, ngưng chảy hoặc chảy rỉ ra ở một bộ phận nào đó gây thành bệnh, hoặc Tổng tập bệnh.
Hoặc bị Quỷ dựa, hoặc bị các độc, người với phi nhân làm cho trúng độc. Khi các bệnh quá ác như vậy sinh ra thời nếu có đọc tụng Đại Khổng Tước Chú Vương này, chẳng thể trái vượt, mong cầu tùy nguyện, đều hộ cho con… cùng các quyến thuộc.
Nay con làm kết giới kết địa ấy, tụng trì Chú này đều khiến cho an ổn, sa ha.
Kèm nói Tụng này:
Khiến con đêm an ổn
Suốt ngày cũng như thế
Ở trong tất cả thời
Chư Phật thường hộ niệm.
Lại nữa A Nan Đà! Nếu có người xưng niệm tên gọi của Đại Khổng Tước Chú Vương này ủng hộ thân người khác hoặc lại tự ủng hộ mình.
Hoặc kết sợi dây đeo giữ trên thân. Như người này đáng bị tội chết thì chỉ bị phạt đồ vật mà được thoát, đáng bị phạt thì bị gậy đánh nhẹ mà được thoát, đáng bị gậy đánh nhẹ thì chỉ bị chửi mắng mà được thoát, đáng bị chửi mắng thì chỉ bị la rầy mà được thoát, đáng bị la rầy thì tự nhiên được thoát, tất cả bệnh khổ thảy đều tiêu tan, không dám trái vượt.
Người này cũng không bị Vua chúa, giặc cướp, nước, lửa, chất độc ác, dao, gậy… xâm hại. Ngủ thức an ổn, thường thấy mộng lành, đi đứng ngồi nằm không có việc gây hại, được kéo dài thọ mạng, trừ nghiệp gây đoản mạng trong đời trước với hợp thọ chánh báo.
A Nan Đà! Nếu khi mưa lụt lội hoặc khi đại hạn. Nếu đọc tụng Khổng Tước Chú Vương này thì các vị Rồng vui vẻ. Hoặc mưa dầm liền quang tạnh, hoặc hạn hán liền tuôn mưa.
Nếu có kẻ nam, người nữ tùy theo sở nguyện, mau được thành tựu.
A Nan Đà! Đại Khổng Tước Chú Vương này khi chỉ nhớ niệm thời liền hay trừ diệt tất cả khủng bố, bệnh tật, ưu não… huống chi là đọc tụng thọ trì đầy đủ. Ông nên thọ trì Đại Khổng Tước Chú Vương này vì muốn nhiêu ích thủ hộ cho bốn chúng.
Catasraḥ parṣadaḥ: Bí Sô. Bhikṣu, Bí Sô Ni. Bhikṣuṇi, Ô Ba Sách Ca. Upāsaka, Ô Ba Tư Ca. Upāsikā lìa các sự đáng sợ.
Lại nói Chú là:
Đát điệt tha: Diệp bàn để, đà để, đạc cát lý, đổ lỗ đổ lỗ, sa ha.
Tham Dục. Rāga, giận dữ. Dveṣa, Si. Moha.
Là ba độc thế gian
Chư Phật đều chặt đứt
Lời thật, độc tiêu trừ
Tham dục, giận dữ, si
Là ba độc thế gian
Đạt Ma. Dharma đều chặt đứt
Lời thật, độc tiêu trừ
Tham dục, giận dữ, si
Là ba độc thế gian
Tăng Già. Saṃgha đều chặt đứt
Lời thật, độc tiêu trừ
Tất cả các Thế Tôn. Bhagavaṃ
Có sức uy thần lớn
La Hán. Arhat đủ danh tiếng
Trừ độc khiến an ổn.
Khi ấy Cụ Thọ A Nan Đà nghe Đức Phật nói xong, lễ hai bàn chân của Đức Phật, nhiễu quanh Đức Phật ba vòng rồi từ giã Đức Phật đi đến chỗ của Bí Sô Sa Để. Svati. Đến xong, liền dùng Khổng Tước Chú Vương này vì vị Bí Sô ấy mà làm ủng hộ, kết giới kết địa nhiếp thọ nhiêu ích, trừ sự khổ não cho vị ấy.
Bí Sô Sa Để thân được an ổn, khổ độc tiêu tan, từ dưới đất đứng dậy, cùng với Cụ Thọ A Nan Đà đi đến chỗ của Đức Phật, lễ hai bàn chân của Đức Phật xong, đem đủ việc bên trên thưa bạch cho Đức Thế Tôn biết, rồi đứng tại một bên.
Đức Phật bảo A Nan Đà: Do Nhân Duyên này, ông có thể đem Đại Khổng Tước Chú Vương này báo cho bảy Chúng: Bí Sô, Bí Sô Ni, Chánh Học Nữ, Cầu Tịch Nam, Cầu Tịch Nữ, Ô Ba Sách Ca, Ô Ba Tư Ca, Quốc Vương, Đại Thần… khuyên một lòng thọ trì đọc tụng, khiến cho thông lợi.
Vì người khác giải nói, hiểu rõ việc ấy, viết chép Kinh Quyển lưu thông tại chỗ ở. Đem hương, hoa, thức ăn uống tùy theo phần cúng dường… khiến cho tất cả chúng sanh đều lìa ưu khổ, thường được an lạc, được Phước vô lượng, khó thể nghĩ bàn.
Nói lời đấy xong thời A Nan Đà với các Đại Chúng, Trời, Rồng, Dược Xoa, Kiện Đạt Bà, A Tô La, Ma Lâu Đa, Yết Lộ Trà, Khẩn Na La, Mạc Hô Lạc Già, người, phi nhân… nghe điều Đức Phật đã nói, đều rất vui vẻ, tin nhận, phụng hành.
Trời, Rồng, A Tu La, Dược Xoa
Người nghe pháp, nên chí tâm
Ủng hộ Phật Pháp mãi trường tồn
Mỗi mỗi siêng hành Thế Tôn Giáo
Chư Hữu thính đồ đến chốn này
Hoặc ở trên đất, hoặc hư không
Thường đối người đời khởi tâm từ
Ngày đêm tự thân y pháp trụ
Nguyện các Thế Giới thường an ổn
Vô biên phước trí, ích quần sinh
Hết thảy nghiệp tội đều tiêu trừ
Xa lìa mọi khổ, quy viên tịch
Luôn dùng hương giới xoa vóc sáng
Thường khoác áo định
Để nghiêm thân bồ đề
Diệu Hoa trang nghiêm khắp
Tùy nơi đã trụ, thường an lạc.
Phật Thuyết Kinh Đại Khổng Tước Chú Vương.
Tiếp theo nói rõ Pháp Thức Đàn Tràng, vẽ tượng.
Đức Phật bảo A Nan Đà: Nếu có nam tử, nữ nhân có việc cầu nguyện, hoặc vì lũ lụt lớn, hoặc vì đại hạn, tai hoạnh, binh đao, mọi bệnh dịch, sốt rét.
Phàm là tất cả việc chẳng như ý, muốn đọc tụng Đại Khổng Tước Chú Vương này cầu xin tiêu diệt thì nên làm pháp như vậy: Có thể ở chỗ sạch sẽ, đắp đất bằng phẳng xong, làm một Đàn Tràng nhỏ, có thể cao bốn năm ngón tay, vuông vức ba bốn khuỷu tay hoặc lớn hơn. Nên lấy phân con bò vàng chưa rơi xuống đất, trong sạch xoa tô trên Đàn.
Ở trong Đàn này, an hình tượng Phật hướng mặt về phương Tây. Ở bên trái tượng, để tượng Đại Khổng Tước Vương, hoặc đắp hoặc vẽ, trang sức như pháp. Hoặc dùng ba bốn cọng lông đuôi của chim công. Khổng tước cắm vào cái bình gạch nung sạch, cũng dùng phân bò xoa lau. Ba việc này có một việc đều được.
Dùng hoa Bạch Át Ca. Phương này không có, nên có thể dùng hoa Lê Nại thay thế, hoặc hoa Bạch Yết La Tỳ La.
Lĩnh Nam có, vùng đất phía Bắc không có, nên có thể dùng hoa Bạch Hạnh Nại hoặc hoa Thục Quỳ thay thế hoặc dùng hoa Thi Lợi Sa. Tức là cây Dạ Hợp hoặc lá cây Tần Lễ. Phương này cũng không có, nên có thể dùng lá táo, lá dâu, lá sen thay thế rải bày trên Đàn.
Trước tiên ở trước mặt Phật tùy theo cái mình có, bày các thức ăn uống, mọi loại cúng dường.
Tiếp theo, ở trước mặt Khổng Tước Vương Bồ Tát để một bàn: Nước mật, nước đường cát, sữa bò với Lạc, bánh, cơm… tận Tâm phụng hiến xong, tay bưng lư hương, đốt An Tất Hương, ở mặt Đông cúng dường, như lúc trước Khải Thỉnh: Phật với chúng Thánh, chúng của bốn vị Thiên Vương… mỗi mỗi xưng tên, chí tâm triệu thỉnh, đi đến ủng hộ con… cùng các quyến thuộc đều được an ổn, sống lâu trăm tuổi.
Tiếp theo, ở mặt Đông của Đàn để một bàn: Đường cát, bánh với cháo sữa, nước đường cát, bánh, cơm… cúng dường Trì Quốc Thiên Vương, nhóm Thần Kiện Đạt Bà.
Tiếp theo, ở mặt Nam của Đàn để một bàn: Dầu, mè, cháo, một bình nước tư đỗ, bánh, cơm… cúng dường Tăng Trưởng Thiên Vương, nhóm Thần Câu Bàn Trà.
Tiếp theo, ở mặt Tây của Đàn để một bàn: Cháo sữa, một bình sữa, bánh, cơm… cúng dường Quảng Mục Thiên Vương, nhóm Thần Rồng.
Tiếp theo, ở mặt Bắc của Đàn để một bàn: Lạc trộn với cơm, một bình nước tư đỗ, bánh, cơm… cúng dường Tỳ Sa Môn Thiên Vương, nhóm Thần Dược Xoa.
***
Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Năm - Phẩm Mười Bảy - Phẩm Tham Hành - Phần Hai
Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Ba - Phẩm Ba Mươi Mốt - Phẩm Tuyên Hóa - Phần Ba
Phật Thuyết Kinh đại Thừa Bảo Vân - Phẩm Hai - Phẩm Mười Ba La Mật - Tập Năm
Phật Thuyết Kinh Tiểu Bộ - Tập Ba - Kinh Phật Tự Thuyết - Chương Ba - Phẩm Nanda
Phật Thuyết Kinh đại Bảo Tích - Pháp Hội Thứ Nhất - Pháp Hội Tam Tụ Luật Nghi - Phần Bốn
Phật Thuyết Kinh Tăng Chi Bộ - Chương Ba - Ba Pháp - Phẩm Ba - Phẩm Người - Phần Ba - Chất Chứa
Phật Thuyết Kinh Lục độ Tập - Chương Một - Bố Thí độ Vô Cực - Kinh Số bốn