Phật Thuyết Kinh Tuệ Thượng Bồ Tát Vấn đại Thiện Quyền - Phần Năm
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Trúc Pháp Hộ, Đời Tây Tấn
PHẬT THUYẾT
KINH TUỆ THƯỢNG BỒ TÁT
VẤN ĐẠI THIỆN QUYỀN
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư
Trúc Pháp Hộ, Đời Tây Tấn
PHẦN NĂM
Lại nữa, này Thiện Nam! Bồ Tát mới ngoi nơi cội Bồ Đề, tâm tự suy niệm: Ai ở nơi bốn cõi Dục Giới là bậc tối tôn?
Người theo đúng giáo pháp thì nên khiến đi đến chỗ của ta để cùng tranh điều hơn kém. Bấy giờ, Bồ Tát đã hội nhập đầy đủ vào các ttrí tuệ thông tỏ, nên khiến ma dò thử sức. Quân binh của ma có tám vạn bốn ngàn ức, các chúng Trời, Rồng, Quỷ Thần, Càn Đạp Hòa, A Tu Luân, Ca Lâu La, Chân Đà La, Ma Hưu Lặc đều phát tâm Bồ Đề cầu đạo quả Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác. Đó là phương tiện thiện xảo của Bồ Tát.
Thế nào là Như Lai đã thành tựu Phật đạo, chính thức an tọa trong bảy ngày, không đi đâu cả, chỉ xem xét cây Bồ Đề không chán?
Các vị Thiên Tử ấy thấy rõ sự biến hóa của đức hạnh, nên cảm động, vô cùng hoan hỷ, đều tâm niệm: Chúng ta nên cầu như Đức Như Lai này, tâm không chỗ dựa chăng?
Suốt bảy ngày đêm, nhất tâm chuyên tinh cầu đạo, nhưng không được. Duyên vào đó nên mới quan xét ba mươi hai tướng của Đức Thế Tôn, tâm càng hết sức hoan hỷ, liền phát tâm Bồ Đề cầu đạo quả Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác. Vào đời vị lai cũng sẽ được an tọa nơi cội cây Bồ Đề. Do đấy mà Như Lai ngồi yên nơi cội cây trong bảy ngày. Đó là phương tiện thiện xảo của Bồ Tát.
Do đâu Bồ Tát đã được thành Phật rồi, khuyến hóa vô số chúng trời, người, Phạm Thiên không thưa thỉnh thì cũng không thuyết pháp?
Lúc ấy Như Lai tự suy nghĩ: Nơi cõi dục số lượng Chư Thiên không thể tính kể đã tụ hội đông đảo. Các quyến thuộc của ma, Quỷ Thần, Lasát nếu thấy Bồ Tát gầm lên tiếng gầm của sư tử, bước đi một mình thì liền phát tâm Bồ Đề. Người trông thay đều hoan hỷ, duyên vào đấy để đạt đến vô vi.
Lại nữa, này Thiện Nam! Đi đến nơi cội cây Bồ Đề, Bồ Tát tức thì phóng ra hào quang từ tướng đỉnh đầu, tỏa chiếu khắp các cung điện của ma và cả tam thiên Đại Thiên Thế Giới, từ nơi ánh hào quang đó phát ra một loại âm thanh: Nay, người con của giòng họ Thích là Năng Nhân tôn quý, bỏ nước xa nhà tu tập đạo pháp.
Hiện đã thành tựu đạo quả Chánh Đẳng, Chánh Giác Vô Thượng, đã vượt qua coi ma, hóa độ muôn người không thể lường tính nên cảnh giới của ma sẽ trống không, nên tìm tới đây để cùng chiến đấu.
Ma nghe lời này thì hết sức sầu khổ, bèn dẫn bốn thứ binh quân, gồm đủ ba mươi ức, cùng kéo tới nơi cội cây Bồ Đề. Khi đó, Bồ Tát vận dụng trí tuệ báu, tạo lập tâm đại từ. Ánh sáng của trí tuệ thù thắng soi rõ nơi cánh tay màu vàng óng. Các chúng Trời, Rồng, Đế Thích, Phạm Vương đều tôn kính.
Phạm Chí suy nghĩ: Phạm Thiên hóa ra ta. Ta từ Phạm Thiên sinh ra. Không ai có thể hơn được. Đời không có bậc Tôn Sư, Phạm Thiên là trên hết.
Như Lai suy niệm: Ta đã vượt hơn Phạm Thiên, phải khiến cho mọi người cùng thấy!
Chư Thiên, rồng, quy thần đều dựa vào Phạm Thiên, nhưng Phạm Thiên hãy còn cúi đầu đảnh lễ Phật! Phạm Thiên cho rằng phải nên khuyến trợ Như Lai, hợp thời thuyết pháp.
Nếu không khuyến thỉnh thì Như Lai không nêu giảng! Vâng theo uy thần của Phật khiến Phạm Thiên đi đến Đạo Tràng để khuyến trợ Chánh Pháp. Giả sử mọi người đều kính niệm Phạm Thiên, tất sẽ thấy Phạm Thiên khuyến thỉnh Như Lai.
Bấy giờ, Phạm Thiên tự rời khỏi cung điện, đi tới chỗ Đức Thế Tôn, khuyến thỉnh Phật chuyển pháp luân, có sáu trăm tám mươi vạn Phạm Thiên đều phát tâm Bồ Đề, cầu đạt đạo quả Chánh Đẳng, Chánh Giác Vô Thượng, cùng nói kệ:
Phật, Thế Tôn vô lượng
Tối thắng, không gì hơn
Hành phương tiện thiện xảo
Đó cũng là Như Lai.
Đức Phật bảo Bồ Tát Tuệ Thượng: Chỗ thị hiện của Như Lai về những tai ương còn sót lại có mười. Đó cũng là phương tiện thiện xảo của Thế Tôn. Phải nên chí thành hiểu rõ như vậy.
Muốn khiến Như Lai có một mảy may tỳ vết, tức chẳng đủ để gieo trồng gốc công đức chăng?
Muốn khiến Như Lai có khuyết điểm, tức nẻo hành hóa không đầy đủ chăng?
Điều ấy không thể có. Bồ Tát đã đạt đến quả vị Chánh Giác, an tọa nơi cội cây Bồ Đề.
Vì sao?
Vì thông đạt pháp thanh tịnh nên không có các thứ tỳ vết.
Này Thiện Nam! Nên biết Như Lai đều đã diệt trừ hết các pháp bất thiện. Thế Tôn là bậc vô ngại, huống hồ lại bị cấu nhiễm để có các tai ương tàn dư. Phật là vị Y vương, diệt trừ hết thảy bệnh tật, không còn bị ngăn che. Vì cứu độ chúng sinh nên thị hiện các thứ tội còn sót lại, nhằm khiến cho muôn người luôn giữ gìn thân, khẩu, ý, tu tập thanh tịnh.
Cũng như hàng tộc tánh tôn quý có con, đều nuôi lớn theo cách vương giả, dùng toàn sữa, lạc, nhưng nơi thân tướng mọc nhiều mụt nhọt, trên đến phần cổ, trước sau, nội tạng cũng vậy, cần phải chữa trị đúng cach thì mới khỏi bệnh. Cha mẹ vui mừng vì con đã mạnh khỏe.
Lại nữa, này Thiện Nam! Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác là bậc từ phụ của khắp thế gian, diệt trừ mọi phiền não cho chúng sinh khiến đạt được an lạc, do đấy mà thị hiện bệnh tật, người nghe như thế thì không dám gây tạo tội lỗi. Đó là phương tiện thiện xảo của Bồ Tát.
Đức Phật lại bảo Bồ Tát Tuệ Thượng: Về thời quá khứ lâu xa, thời đó không nhận biết tội phước, nên Bồ Tát vì chúng sinh mà thị hiện các lỗi lầm. Do đấy, Như Lai nói Ta là vị Pháp Vương không lìa bỏ tội từ trước. Các vị thì sao có thể lìa bỏ tai ương.
Vì vậy, có chỗ nói Như Lai vĩnh viễn không còn tai ương tàn dư. Ví như có người khéo học hỏi về các môn chú giải Kinh sách, đối chiếu khảo đính, rồi đem giảng dạy cho các đồng tử khiến họ thành tựu, không điều gì là không nhận biết, cũng không bị trở ngại. Trẻ nhỏ thấy, nghe, tức thọ học, dần dần hiểu biết, thấu đạt phần căn bản.
Như Lai cũng như vậy, đều học hỏi về các pháp, không gì là không lãnh hội rộng khắp, thị hiện các tai ương là nhằm khiến cho chúng sinh có đủ pháp thanh tịnh. Ví như có vị thầy thuốc, bắt đầu học về cách trị bệnh, cần hiểu rõ về phương pháp cùng các loại thuốc men, hợp bệnh mới chữa trị, đã tự chữa trị, lại có thể chữa trị lành cho mọi kẻ bệnh nên được đông đảo người tán dương.
Ở thời Phật Định Quang, bấy giờ có năm trăm kẻ buôn bán, đi vào biển cả để tìm của báu. Có kẻ dị tâm cho rằng tâm phạm tội quá nặng, cần phải mở bày cửa tội. Kẻ ấy học theo tà thuật, mưu hại như giặc dữ. Quan sát tướng mạo của thương chủ biết ông này có vị thầy dẫn đường tên là Cát Tài, đã giúp đỡ đám thương nhân thuận theo thời tiết và cung cấp tin tức.
Kẻ xấu ác kia suy nghĩ: Ta nay nên hại vị thương chủ kia để một mình đoạt lấy số châu báu ấy!
Ở cõi Diêm Phù Đề có vị thầy dẫn đường nổi tiếng tên là Đại Ai, lúc này đang ngủ, mộng thấy thần biển đến nói với mình: Trong số các thương nhân đang đi vào biển cả, có một kẻ giặc, dấy tâm hết sức ác độc, muốn hãm hại cả đoàn người ấy, để riêng một mình hắn tóm thâu hết châu báu.
Vị Đạo Sư này cho rằng: Giả sử khiến sự việc đó thực hiện được thì tội ác gây tạo là chẳng thể lường tính.
Vì sao?
Vì năm trăm thương nhân này đều phát tâm Bồ Đề, cầu đạo quả Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác, đứng vững nơi quả vị không thoái chuyển, cho dù bị hại, tâm cũng không thay đổi.
Do tội lỗi ấy, nên mỗi mỗi hạnh của Bồ Tát đều thành tựu được đạo quả giác ngộ. Kẻ ác bị đọa vào địa ngục, chịu bao nhiêu là thống khổ, tội kia mới hết. Nay do vị thầy dẫn đường nhân từ, hành hóa quyền biến, nên người ấy không bị đọa nơi cõi ác lần nữa, lại khiến cho số thương nhân kia khong bị nguy hại.
Bảy ngày tư duy kỹ, không còn phương tiện nào khác, mới suy nghĩ: Chỉ nên chọn lấy sự nguy hại cho thân mạng mình, nếu nói cho đám thương nhân kia biết, tức đều giận dữ, sẽ giết kẻ kia, tất bị đọa vào cõi ác.
Lại suy xét lần nữa: Ví như ta riêng sát hại kẻ ác kia thì cũng sẽ thọ nhận tội. Ta thà nhẫn chịu, hoặc nơi trăm ngàn kiếp thọ nhận khổ não nơi địa ngục, chứ không khiến cho các thương nhân thấy rõ sự nguy hại, lại khiến cho một kẻ giặc kia bị rơi vào đường dữ. Bấy giờ, vị thầy dẫn đường Đại Ai, liền vị họ mà thuyết pháp, khiến tâm mọi người vô cùng vui mừng, thích thú, sau đấy thì đều ngủ ngon giấc.
Đức Phật bảo: Này Thiện Nam! Vị thầy dẫn đường nổi tiếng kia, đã vì đám thương nhân đó mà dấy khởi tâm đại bi, dùng phương tiện thiện xảo, hại mạng một kẻ giặc kia. Sau khi mạng chung, được sinh lên Cõi Trời thứ mười hai là Quang Âm.
Vị Đạo Sư tên Đại Ai thời ấy chính là thân ta. Dùng phương tiện đó nên vượt qua ngàn kiếp sinh tử, mất rồi thì sinh lên Cõi Trời. Năm trăm thương nhân đồng thuyền thời ấy, nay tức là năm trăm vị Phật trong hiền kiếp đã xuất hiện. Bồ Tát lẽ nào có tội, họa, trước sau đều vượt quá mọi sự diệt trừ, trải qua trăm ngàn kiếp chẳng nên quán xét Chư Phật, cho là có tội lỗi.
Mọi sự thị hiện của Như Lai là vì chúng sinh. Khi đó, do thiếu sót về phương tiện quyền xảo, nên đã thị hiện việc Như Lai giẫm qua cọc sắt, do nơi uy thần nên mọi sự đều thông hợp.
Vì sao?
Vì thân của Như Lai là thân kim cương.
Lại nữa, này Thiện Nam! Trong thành Xá Vệ có hai mươi người, lại cùng với hai mươi người khác xem nhau là oán địch. Bấy giờ, cả hai bên đều muốn dùng oán thù để tạo nguy hại cho nhau, vì là đời sau cùng, nên cả hai đều tìm kiếm phương tiện. Hai mươi người kia muốn hại hai mươi người gọi là oán thù này, vâng theo uy thần của Phật, đã đi tới chỗ của Như Lai.
Khi ấy, Đức Thế Tôn đã giáo hóa cả bốn mươi người. Cũng nhằm khuyến hóa, dẫn dắt hết thảy đại chúng, nên Phật bảo Hiền Giả Đại Mục Kiền Liên: Nay ở nơi chỗ đất này sẽ có cọc sắt tự nhiên xuất hiện, ra vào nơi ngón chân cái, thuộc chân bên phải của Đức Phật. Nói vừa dứt lời thì vật kia đã ở ngay trước Phật.
Hiền Giả Đại Mục Kiền Liên bạch Phật: Nay nên nhổ vật ấy, cắm vào Thế Giới khác chăng?
Phật bảo: Không nên.
Lúc này, Hiền Giả Đại Mục Kiền Liên dùng sức mạnh của sự tinh tấn nhằm nhổ bật vật lạ kia, khiến cả tam thiên Đại Thiên Thế Giới bị chấn động lớn, nhưng không thể làm lay động vật kia, dù chỉ như sợi tóc.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn đi tới cõi Phạm Thiên, vật lạ kia liền đi theo. Đức Như Lai trở lại an tọa, vật ấy cũng có mặt ở trước Phật. Đức Như Lai bèn dùng tay phải nắm lấy cọc sắt kia, rồi dùng chân giẫm lên trên.
Hiền Giả Đại Mục Kiền Liên bạch Phật: Như Lai vốn có tội hay sao mà bị nạn vì cọc sắt bé tí này?
Đức Phật bảo: Từ xa xưa cùng với năm trăm thương nhân đi vào biển cả, khi ấy có một người mang tâm ý độc ác muốn giết hại cả đoàn để đoạt lấy của báu, ta bèn hại kẻ đó nên phải chịu tai ương tàn dư này.
Bấy giờ, bốn mươi người kia nghe Đức Phật giảng nêu như vậy thì đều chuyển hướng, cùng thưa: Như Lai là vị Pháp Vương đã được tự tại, hãy còn có tai ương tàn dư, không thể diệt trừ, huống chi là chúng ta sao chẳng thọ tội?
Liền đến trước Phật sám hối tự thú những lỗi lầm của mình. Đức Như Lai bèn vì họ mà thuyết giảng Kinh Pháp, phân biệt tội phước khiến bốn mươi người đều nhập vào trí tuệ bình đẳng. Ba vạn hai ngàn hàng trời, người xa lìa phiền não cầu uế, đạt được pháp nhãn thanh tịnh. Nhân chỗ thị hiện của Như Lai về cọc sắt kia cũng là phương tiện thiện xảo của Bồ Tát.
Do đâu Thế Tôn đã lìa các thứ bệnh tật mà thị hiện có tật bệnh, khiến cho y vương Kỳ vực phải kết hợp thuốc thang?
Khi Phật lập giới, gồm hai trăm năm mươi giới, chưa bao lâu, có năm trăm Tỳ Kheo, hành đạo nơi vùng rừng cây khác vừa muốn kết thúc, nhưng tâm còn hồ nghi.
Như Lai có chỉ dạy: Chỉ dùng một thứ thuốc để trị các bệnh nơi thân, không được dùng nhiều thứ khác.
Phật phát khởi suy niệm: Nên dùng phương tiện nào để khiến cho các Tỳ Kheo được dùng nhiều thứ thuốc khác?
Vì sao?
Giả sử Như Lai tùy ý chấp nhận, thì người đời sau sẽ chê bai về giới pháp của bốn Bậc Hiền. Do vậy, Như Lai đã hành trì phương tiện thiện xảo hợp nhiều thứ thuốc giao cho Kỳ Vực.
Bấy giờ, Chư Thiên Cõi Trời Tịnh Cư nói với các Tỳ Kheo: Phải nên tìm thuốc, không được để nguy đến tánh mạng.
Các Tỳ Kheo cùng nói với nhau: Thà tự nghiền nát thân chớ không hủy phạm giới cấm của Phật.
Chư Thiên nói: Này các Hiền Giả! Hiện nay Như Lai tức là bậc Pháp Vương, khiến đạt được tiện lợi nên tìm các thứ thuốc khác, có thể cải đổi chỗ dùng quen, ham chuộng việc uống thuốc. Ngay khi ấy, các Tỳ Kheo lìa bỏ chỗ nghi ngờ, do dự, bèn tìm thuốc khác, bệnh liền dứt khỏi, bảy ngày đêm, chứng đắc đạo quả Vô Trước A La Hán.
Giả sử Như Lai không cho dùng thuốc thang thì các Tỳ Kheo này không thể giải thoát. Về đời vị lai cũng nên như thế, thân tâm được an ổn, sau đấy mới đắc đạo. Đó cũng là phương tiện thiện xảo của Bồ Tát.
Do đâu Như Lai, các đức trọn đủ, lại phải đi vào làng xóm hành khất thực, có khi đi ra với bình bát rỗng?
Như Lai không còn tai ương, do quán xét về đời sau, chúng sinh nơi các vùng biên địa thuộc các cõi nước, dấy khởi tâm từ bi.
Như có Tỳ Kheo đi vào các xóm làng, ấp huyện, quận để khất thực, nhưng do phước đức còn ít, nên khất thực không đạt, tâm sẽ suy nghĩ: Như Lai công đức đầy đủ, trọn vẹn, vô lượng phước tụ hội, lúc hành khất thực hãy còn ra về với bình bát trống không, huống chi là chúng ta, chỗ gieo trồng gốc thiện chẳng rộng khắp, đâu có thể oán trách, lìa bỏ, không hành khất thực?
Nên phải khất thực, dù là nhiều lần phải ra về với bình bát không có gì.
Lại nói: Ma xấu ác, hóa ra các gia đình Phạm chí, Trưởng Giả, khiến không cúng dường Phật, chẳng bố thí cho Chúng Tăng. Thật sự chưa từng có điều ấy. Ma Ba Tuần kia, chưa dám tạo ra uy thế để nhiễu hại Như Lai, gây trở ngại tâm tạo phước.
Là do Thánh chỉ của Phật tạo ra sự biến hiện đó. Phạm Chí, Trưởng Giả, có dị tâm ấy, nhưng chẳng phải là bản ý, cũng chẳng phải do Phật ít phước đức. Thời đó mọi người không biết bố thí, lại thấy Như Lai ra về với bình bát rỗng không.
Cõi ma, Chư Thiên, người thấy Phật không có được bữa ăn, nhưng Đức Thế Tôn không có tâm buồn chán. Tất cả đều ngày đêm nhất tâm nhớ nghĩ đến Như Lai cùng chúng đệ tử cho là tất sẽ có lo buồn, nhưng thấy đệ tử và Phật tâm không tăng giảm, trước sau đều thích hợp.
Bảy vạn Thiên Tử cung kính quỳ ở trước Phật. Như Lai ứng hợp với căn cơ, vì họ thuyết giảng Kinh Pháp, khiến đều đạt được pháp nhãn thanh tịnh. Đó cũng là phương tiện thiện xảo của Bồ Tát.
Thế nào là trường hợp Chiên già ma ni dùng khúc gỗ độn nơi bụng để hủy báng Như Lai, cũng chẳng phải là tai ương còn sót lại nơi gốc của Thế Tôn?
Oai thần của Phật có thể giữ lấy kẻ bạo ác đem đặt bên ngoài hằng hà sa cõi, nhưng Như Lai với phương tiện quyền xảo đã thị hiện sự việc ấy. Tỳ Kheo, nơi đời vị lai, hoặc có người xuất gia làm Sa Môn, bị người hủy báng tâm có hồ nghi, quán xét về Phật Thế Tôn, tuy thấy có sự chê trách, nhưng tâm không dao động, chẳng cho là tội từ đời trước.
Lại nhớ nghĩ về Phật Như Lai, công đức hơn hết, hãy còn như vậy, huống chi là chúng ta, lại không bị chê trách sao?
Suy nghĩ như vậy thì càng thêm tinh tấn, giữ giới thanh tịnh, tâm không chuyển đổi. Giả sử kẻ bạo ác trong mộng có hủy báng, thì sau khi mạng chung không lìa khỏi địa ngục. Như Lai tất nhận biết sẽ khiến họ giữ gìn giới cấm.
Vì sao?
Vì đức của Như Lai không hề bỏ chúng sinh. Đó là phương tiện thiện xảo của Như Lai.
Thế nào là trường hợp kẻ dị đạo giết hại Tu Đa Lợi, chôn vùi nơi vườn cây của Thái Tử Kỳ Đà?
Phật với các trí tuệ thông tỏ, nên quán xét khắp, không bị ngăn ngại. Mọi người nhận biết nên dấy khởi giận dữ, vì đã thấy rõ đầu đuôi sự kiện như vậy. Về sự việc giết hại Tu Đa Lợi thì hoặc nàng ấy gắn liền với tai họa còn sót lại. Phật hiểu rõ người nữ ấy thọ mạng sắp hết, do đấy, đám dị đạo kia đã bàn cách để giết hại.
Duyên nơi tà đạo, dị học, nên sự việc bị giết hại ấy tất dẫn tới tội lỗi. Phật dùng trí tuệ bình đẳng để hóa độ, an lập. Do đấy, sẽ gây tạo làm tăng trưởng gốc công đức nơi chúng sinh. Vì vụ việc ấy nên Như Lai bảy ngày không vào thành, hóa độ sáu mươi ức Chư Thiên đến với chánh đạo.
***
Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Năm - Phẩm Mười Bảy - Phẩm Tham Hành - Phần Hai
Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Ba - Phẩm Ba Mươi Mốt - Phẩm Tuyên Hóa - Phần Ba
Phật Thuyết Kinh ưu Bà Tắc Giới - Phẩm Hai Mươi Bảy - Thiền Ba La Mật
Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội đầu - Phẩm Bốn Mươi Bốn - Phẩm Chúng Dụ - Phần Hai
Phật Thuyết Kinh Tạp A Hàm - Kinh Tụ
Phật Thuyết Kinh Trường A Hàm - Kinh Du Hành - Phần Tám
Phật Thuyết Kinh Tăng Nhất A Hàm - Phẩm Bốn Mươi Chín - Phẩm Chăn Trâu - Phần Hai