Phật Thuyết Kinh Khởi Thế - Phẩm Mười Hai - Phẩm Tối Thắng - Tập Một

Kinh Đại thừa   •   Thứ hai, 25/12/2023, 22:18 PM

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Xà Na Quật Đa, Đời Tùy

PHẬT THUYẾT KINH KHỞI THẾ

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư

Xà Na Quật Đa, Đời Tùy  

PHẨM MƯỜI HAI

PHẨM TỐI THẮNG  

TẬP MỘT  

Lại nữa, Chư Tỳ Kheo, thế gian chuyển rồi, khi hình thành như vậy, các loài chúng sanh phần nhiều được sanh lên Cõi Trời Quang Âm.

Các chúng sanh ấy, khi sanh lên Cõi Trời kia, thân tâm thư thái, lấy sự vui mừng làm thức ăn, tự nhiên phát ánh sáng. Lại có thần thông đi trên hư không, được sắc đẹp thù thắng, tuổi thọ lâu dài, sống đời an lạc. Chư Tỳ Kheo, thế gian bấy giờ chuyển hoại rồi thành, rỗng không, không có vật gì.

Trong cung của chư Phạm chưa có chúng sanh. Trên Trời Quang Âm, kẻ phước nghiệp hết lại sanh xuống trong cung điện Phạm, chẳng từ thai sanh, bỗng nhiên hóa hiện. Ban đầu, Trời Phạm này, gọi là Sa ha ba đế. Sa ha là tên Thế Giới. Ba đế là chủ, vì vậy cho nên có tên này xuất hiện.

Chư Tỳ Kheo, bấy giờ, lại có các chúng sanh khác phước thọ hết rồi, từ Trời Quang Âm, bỏ thân mạng xong cũng sanh xuống đây, thân hình đẹp đẽ, lấy niềm vui mừng làm thức ăn uống, tự nhiên phát ra ánh sáng, có sức thần thông bay trên hư không, thân sắc tươi đẹp, liền ở trong khoảng ấy, an trụ lâu dài.

Các chúng sanh ấy, trong thời gian sinh sống, không có nam nữ, không có tốt xấu, chỉ có tên này: Chúng sanh, chúng sanh mà thôi.

Lại nữa, Chư Tỳ Kheo, ngay trong thời kỳ Tam ma da như thế, trên mặt đất này, sanh ra lớp mỡ đất, ngưng tụ khắp nơi. Thí như có người nấu chín nước sữa, trên sữa có màng mỏng đóng lại, giống như màng nước, kết trên mặt nước cũng như thế.

Chư Tỳ Kheo, lại thời gian sau, trên mặt đất này đã sanh ra lớp mỡ đất, đứng yên tại chỗ, dần dần như kem, thành ra sanh tô, có các hình dáng màu sắc như vậy, mùi vị thơm ngon giống như mật thượng hạng.

Lúc ấy chúng sanh ở trong đó, bỗng nhiên có kẻ tánh tham ăn, thích nghĩ thế này: Nay ta cũng có thể dùng tay lấy thứ này nếm thử để biết được đây là vật gì.

Chúng sanh kia nghĩ như vậy rồi liền dùng ngón tay chọt sâu xuống một lóng, chấm lấy vị đất mút để thưởng thức. Thưởng thức rồi thích ý, chấm mút, chấm mút như vậy cho đến ba lần, liền sanh tham đắm. Kế đến dùng tay bốc, dần dần dùng tay hốt, sau lại hốt nhiều, tự do mà ăn. Khi đó vị chúng sanh ấy tự do hốt ăn như vậy. Có vô số chúng sanh khác trông thấy cũng liền bắt chước, tranh nhau mà ăn.

Chư Tỳ Kheo, các chúng sanh ấy lấy vị đất này ăn mãi không thôi, thân hình họ tự nhiên xấu đi, da dẻ thô dày, nhan sắc phai mờ nhớp nhúa, hình mạo đổi khác, không còn ánh sáng, cũng không còn có thể bay lên hư không, vì lớp mỡ đất nên thần thông biến mất. Chư Tỳ Kheo, như trước đã nói, sau cũng như thế. Lúc đó thế gian trở thành tối tăm. Chư Tỳ Kheo, vì vậy nên thế gian mới có sự tối tăm lớn xuất hiện.

Lại nữa, tại sao ngay lúc ấy thế gian lại xuất hiện mặt trời, mặt trăng và các tinh tú, lại có tên gọi ngày đêm, một tháng, nửa tháng, năm, thời tiết… xuất hiện?

Chư Tỳ Kheo, bấy giờ, cung điện mặt trời to lớn đẹp đẽ từ phương Đông xuất hiện, vận hành vòng quanh lưng chừng núi Tu Di rồi lặn ở phía Tây. Lặn ở phía Tây rồi, trở lại xuất hiện ở phương Đông.

Khi ấy chúng sanh lại thấy mặt trời to lớn đẹp đẽ từ phương Đông xuất hiện, bảo với nhau: Chư Nhân Giả, lại là mặt trời chiếu sáng cung điện, sẽ từ phương Đông xuất hiện trở lại, vòng sang phía phải núi Tu Di và sẽ lặn mất ở phương Tây.

Thấy ba lần rồi, họ vẫn bảo nhau: Chư Nhân Giả, đó là ánh sáng lưu hành của Trời kia, đấy là ánh sáng của Trời kia lưu hành. Vì vậy, họ gọi mặt trời là Tu Lê Da Tu Lê Da theo đời Tùy ý chỉ cái này là cái kia cho nên có tên gọi như thế xuất hiện.

Lại nữa, Chư Tỳ Kheo, các vị nên biết! Cung điện mặt trời cao rộng bằng nhau năm mươi mốt do tuần, trên dưới cũng vậy, có bảy lớp bờ tường, bảy lớp lan Can, hàng cây Đa La cũng có bảy lớp bao bọc chung quanh, nhiều màu xen kẽ, dùng để trang nghiêm. Các bờ tường kia đều do vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xích châu, xa cừ, mã não tạo thành.

Ở bốn phía đều có các cửa. Ở mỗi cửa đều có lầu gác canh phòng, đài quan sát và các rừng cây, ao, vườn. Ở trong ấy có đủ các loại cây, cây ấy có các loại lá, các loại hoa, các loại quả, các loại mùi thơm theo gió xông khắp. Lại có các loài chim cùng nhau ca hót.

Chư Tỳ Kheo, mặt trời kia dùng hai loại vật dụng tạo thành cung điện, vuông vắn như ngôi nhà, từ xa trông giống như tròn.

Chư Tỳ Kheo, những gì là hai?

Đó là vàng và pha lê. Cung điện mặt trời ấy do nhiều vàng Trời và pha lê Trời, hợp lại mà thành. Một mặt hai phần đều là vàng Trời trong sạch không dơ, lìa các cáu bẩn, sạch sẽ chói sáng. Một mặt một phần là do pha lê Trời tạo thành, sạch sẽ chói sáng, càng chà càng sáng, không có cấu uế.

Chư Tỳ Kheo, lại nữa, cung điện mặt trời đẹp đẽ to lớn kia, có năm loại gió thổi chuyển đi: Một là Trì, hai là Trụ, ba Tùy Thuận Chuyển, bốn là Ba La Ha Ca, năm là Tương Hành.

Lại nữa, Chư Tỳ Kheo, ở trước cung điện mặt trời kia, đặc biệt có vô lượng vị Trời đi trước. Vô lượng trăm vị Trời, vô lượng ngàn vị Trời, vô lương trăm ngàn vị Trời đi trước. Khi đi, ai nấy đều luôn được an lạc, đều gọi là lao hành. Danh xưng Chư Thiên Lao hành phát xuất từ đó.

Chư Tỳ Kheo, trong cung điện mặt trời, dùng vàng Diêm Phùđàn làm xe, kiệu đẹp, cao mười sáu do tuần, vuông tám do tuần, trang nghiêm đẹp đẽ. Thiên Tử mặt trời và quyến thuộc ở trong xe ấy, cùng nhau thọ hưởng thú vui năm dục của Trời một cách đầy đủ, vui vẻ. Chư Tỳ Kheo, Thiên Tử mặt trời thọ năm trăm tuổi, con cháu truyền nhau, đều cai trị ở đó. Cung điện tồn tại mãn một kiếp.

Lại nữa, Chư Tỳ Kheo, trong các bộ phận nơi thân thể của Thiên Tử mặt trời, ánh sáng phát ra, chiếu sáng xe Diêm Phù Đàn. Ánh sáng xe Diêm Phù Đàn lại chiếu sáng cung điện kia. Từ trong đại cung điện mặt trời kia, ánh sáng liên tục phát ra chiếu sáng khắp cả bốn Châu và các Thế Giới.

Chư Tỳ Kheo, xe và cung điện của Thiên Tử mặt trời đều có đầy đủ một ngàn ánh sáng. Năm trăm ánh sáng theo bên chiếu sáng, năm trăm ánh sáng hướng xuống chiếu sáng.

Lại nữa, vì nhân duyên gì mà chỗ ở của Thiên Tử mặt trời, cung điện to lớn đẹp đẽ, chiếu sáng bốn Đại Châu và các Thế Giới?

Chư Tỳ Kheo, có một hạng người hay làm việc bố thí. Khi người ấy bố thí thì bố thí cho Sa Môn, Bà La Môn và người bần cùng cô độc, từ xa đến xin, và bố thí các thức ăn uống, xe cộ, áo quần, tràng hoa, chuỗi Anh lạc, hương xoa, giường, nệm, phòng xá, đèn dầu, nói chung là vật cần thiết dưỡng thân nuôi mạng.

Khi bố thí, bố thí nhanh chóng, bố thí chẳng dua nịnh. Hoặc lại cúng dường cho chư Tiên trì giới, người hành thiện đầy đủ công đức, phụng sự đủ các thứ cần dùng. Do nhân duyên ấy, thân tâm vị ấy thọ vô lượng an lạc.

Thí như ở chốn rừng núi hoang vu vắng vẻ, nơi sa mạc bát ngát xa xôi, bỗng nhiên có một ao nước, nước ao mát mẻ, trong sạch, ngọt ngon. Có đoàn lữ hành, đi xa mệt mỏi, nóng bức đói khát, chẳng được ăn uống, trải qua nhiều ngày, đến chỗ ao ấy, uống rồi tắm rửa không còn đói khát, nóng bức, ra khỏi ao, thân ý vui vẻ, sung sướng vô cùng, lấy làm hoan hỷ.

Như thế, như thế, người kia bố thí, do tâm thanh tịnh nên khi thân hoại mạng chung, sanh làm Thiên Tử ở trong cung điện mặt trời. Sanh trong ấy rồi, vị ấy được quả báo về cung điện, phi hành nhanh chóng vừa ý như thế. Do nhân duyên đó, cung điện mặt trời chiếu sáng bốn Châu và các Thế Giới khác.

Chư Tỳ Kheo, lại có hạng người, chẳng sát sanh, chẳng trộm cắp, chẳng tà dâm, chẳng nói dối, chẳng uống rượu, chẳng phóng dật, cúng dường Chư Tiên Hiền có đầy đủ công đức trì giới, gần gũi người chỉ thuần làm pháp lành… như trên, khi thân hoại mạng chung, theo nguyện vãng sanh lên cung điện mặt trời. Ở nơi ấy vị ấy liền hưởng thọ quả báo nhanh chóng. Vì vậy gọi là các nẻo nghiệp thiện. Do nhân duyên ấy, cung điện mặt trời đó chiếu sáng bốn Châu và các Thế Giới khác.

Lại có một hạng người tu chẳng sát sanh cho đến tu chánh kiến, cũng từng cúng dường các vị tiên đầy đủ công đức trì giới, cũng từng gần gũi người chỉ thuần làm thiện. Vì gặp nhân duyên thanh tịnh ấy, nên liền được quả báo sanh lên cung điện mặt trời, thọ quả báo nhanh chóng. Do nhân duyên ấy, cung điện mặt trời chiếu sáng bốn Đại Châu và các Thế Giới khác… như trên…

Chư Tỳ Kheo, sáu mươi sát na gọi là một la bà, ba mươi la bà gọi là mâu hưu đa. Chư Tỳ Kheo, cung điện mặt trời vận hành không ngừng nghỉ dù cho trong khoảng một mâu hưu đa, một la bà hay một sát na. Sáu tháng đi về hướng Bắc, trong một ngày chuyển dần về hướng Bắc sáu Câu Lô Xá, chưa từng rời khỏi quỹ đạo mặt trời. Sáu tháng đi về phương Nam, cũng trong một ngày, chuyển dần về hướng Nam sáu Câu Lô Xá, chẳng lệch khỏi quỹ đạo mặt trời.

Chư Tỳ Kheo, trong thời gian sáu tháng, thì vào ngày thứ mười lăm, cung điện mặt trăng cũng di chuyển như vậy.

Lại nữa, do nhân duyên gì, thường vào mùa hạ phát sanh nóng bức?

Chư Tỳ Kheo, cung điện mặt trời, trong khoảng thời gian sáu tháng đi về hướng Bắc, một ngày thường đi sáu Câu Lô Xá, chưa từng rời khỏi quỹ đạo mặt trời. Nhưng trong thời gian ấy, có mười nhân duyên nên phát sanh nóng bức.

Những gì là mười?

Chư Tỳ Kheo, ngoài núi Tu Di lại có một núi tên là Khư Đề La Ca cao rộng bằng nhau bốn vạn hai ngàn do tuần, nhiều màu đẹp đẽ, do bảy báu tạo thành. Trong thời gian ấy, ánh sáng của cung điện mặt trời chiếu đến núi kia, làm cho núi phát nóng, nên ở thời điểm ấy có sự nóng bức. Đây là nhân duyên thứ nhất gây nóng bức.

Lại nữa, Chư Tỳ Kheo, ngoài núi Khư Đề La Ca, lại có một ngọn núi tên là Y Sa Đà La, cao rộng bằng nhau hai vạn một ngàn do tuần. Trong thời gian ấy cung điện mặt trời chiếu sáng đến núi kia làm cho núi ấy phát nóng. Đây nhân duyên thứ hai gây ra sự nóng bức.

Lại có núi Do càn đà cao rộng bằng nhau, một vạn hai ngàn do tuần… đó là nhân duyên thứ ba.

Lại có núi Thiện Hiện, cao rộng bằng nhau sáu ngàn do tuần…

Đó là nhân duyên thứ tư.

Lại có núi Mã phiến đầu, cao rộng bằng nhau ba ngàn dotuần… đó là nhân duyên thứ năm.

Lại có núi Ni dân đà la, cao rộng bằng nhau một ngàn hai trăm do tuần… đó là nhân duyên thứ sáu.

Lại có núi Tỳ na da Ca cao rộng bằng nhau sáu trăm do tuần… đó là nhân duyên thứ bảy.

Lại có núi Luân vi cao rộng bằng nhau ba trăm do tuần… đó là nhân duyên thứ tám.

Lại từ đại địa này trở lên cao một vạn do tuần, ở trong hư không, có trú xứ là cung điện của các Dạ Xoa do pha lê tạo thành… đó là nhân duyên thứ chín.

Lại có bốn Đại Châu, tám vạn tiểu Châu, trong các Châu ấy, có các núi lớn khác ngoài núi chúa Tu Di… đó là nhân duyên thứ mười. Tất cả đều như đã nói về núi Khư Đề La Ca.

Đó là mười nhân duyên sanh nóng bức trong sáu tháng cung điện mặt trời đi trong quỹ đạo về hướng Bắc.

Lại nữa, do nhân duyên gì ở trong đó có sự lạnh lẽo?

Chư Tỳ Kheo, cung điện mặt trời, sáu tháng về sau, dần dần đi về hướng Nam. Bấy giờ lại có mười hai nhân duyên phát sanh lạnh lẽo. Chư Tỳ Kheo, khoảng giữa hai núi là núi Tu Di và núi Khư Đề La Ca, có biển Tu Di lưu rộng tám vạn bốn ngàn do tuần, bao la bát ngát.

Trong ấy có nhiều hoa Ưu Bát La, hoa Bát Đầu Ma, hoa Câu Mâu Đầu, hoa Bôn Đồ Lê Ca… mọc khắp mọi nơi, hương thơm ngào ngạt. Ánh sáng của cung điện mặt trời ngang qua nơi ấy, chiếu xuống biển kia. Đây là nhân duyên thứ nhất có sự lạnh lẽo.

Cứ lần lượt như vậy, núi Y Sa Đà La là nhân duyên thứ hai, núi Do Càn Đà là nhân duyên thứ ba, núi Thiện Hiện là nhân duyên thứ tư, núi Mã phiến đầu là nhân duyên thứ năm, núi Ni dân đà la là nhân duyên thứ sáu, núi Tỳ Na Da Ca là nhân duyên thứ bảy, núi Đại Luân Vi là nhân duyên thứ tám… trong các biển ấy có các loài hoa đầy đủ thứ lớp như trong núi Khư Đề La Ca đã nói.

Lại nữa, trong Châu Diêm Phù ở chỗ có các dòng sông chảy, ánh sáng của cung điện mặt trời chiếu đến, nên có sự lạnh lẽo… lược nói cho đến… đây là nhân duyên thứ chín gây ra sự lạnh lẽo.

Lại nữa, như các dòng sông chảy của Châu Diêm Phù, ở Châu Cù Đà Ni, các dòng sông chảy nhiều gấp bội. Ở đấy ánh sáng của cung điện mặt trời chiếu đến, sự lạnh lẽo càng tăng. Đây là nhân duyên thứ mười gây ra sự lạnh lẽo.

Lại nữa, như các dòng sông chảy của Châu Cù Đà Ni, ở Châu Phất Bà Đề, các dòng sông chảy nhiều hơn nơi đây gấp bội. Đó là nhân duyên thứ mười một gây ra sự lạnh lẽo.

Lại nữa, như các dòng sông chảy của Châu Phất Bà Đề, ở Châu Uất Đơn Việt, các dòng sông chảy hơn nơi đây gấp bội. Ánh sáng của cung điện mặt trời chiếu đến nên sanh lạnh lẽo. Đây là nhân duyên thứ mười hai gây ra lạnh lẽo.

Chư Tỳ Kheo, cung điện mặt trời, trong khoảng thời gian sáu tháng đi về hướng Nam, mỗi ngày đi được sáu Câu Lô Xá, không ngược quỹ đạo. Có mười hai nhân duyên như vậy nên có sự lạnh lẽo.

Lại nữa, Chư Tỳ Kheo, do nhân duyên gì về thời kỳ mùa đông đêm dài ngày ngắn?

Chư Tỳ Kheo, cung điện mặt trời, qua sáu tháng rồi, dần dần đi về hướng Nam, cứ mỗi ngày di chuyển sáu Câu Lô Xá, không có sai lệch. Ngay lúc ấy, cung điện mặt trời ở tại mé cực Nam của Châu Diêm Phù, địa hình nhỏ hẹp, nên mặt trời qua nhanh. Chư Tỳ Kheo, do nhân duyên này vào mùa đông ngày ngắn, đêm dài.

Lại nữa, Chư Tỳ Kheo, do nhân duyên gì về mùa xuân, hạ, ngày dài đêm ngắn?

Chư Tỳ Kheo, cung điện mặt trời, qua sáu tháng rồi dần dần đi về hướng Bắc, cứ trong mỗi ngày di chuyển sáu câu lôxá, không có sai lệch ngoài quỹ đạo cố định. Ngay lúc ấy, đang đi ở trong xứ Châu Diêm Phù, đất rộng, đi lâu nên ngày dài. Chư Tỳ Kheo, vì nhân duyên này nên mùa xuân, hạ ngày dài đêm ngắn.

Lại nữa, Chư Tỳ Kheo, nếu ở Châu Diêm Phù, khi mặt trời giữa trưa, thì ở Châu Phất Bà Đề mặt trời vừa lặn, ở Châu Cù Đà Ni mặt trời mới mọc, ở Châu Uất Đơn Việt chính là lúc nửa đêm. Nếu ở Châu Cù Đà Ni khi mặt trời giữa trưa, thì ở Châu Diêm Phù này mặt trời vừa lặn, ở Châu Uất Đơn Việt mặt trời mới mọc, ở Châu Phất Bà Đề nhằm lúc nửa đêm.

Nếu ở Châu Uất Đơn Việt mặt trời giữa trưa thì ở Châu Cù Đà Ni mặt trời vừa lặn, ở Châu Phất Bà Đề mặt trời mới mọc, ở Châu Diêm Phù nhằm lúc nửa đêm. Nếu ở Châu Phất Bà Đề mặt trời giữa trưa thì ở Châu Uất Đơn Việt mặt trời vừa lặn, ở Châu Diêm Phù mặt trời mới mọc, ở Châu Cù Đà Ni nhằm lúc nửa đêm.

Chư Tỳ Kheo, nếu người Châu Diêm Phù gọi là phương Tây thì người Cù Đà Ni cho là phương Đông. Người Cù Đà Ni gọi là phương Tây thì người cõi Uất Đơn Việt cho là phương Đông.

Người Cõi Uất Đơn Việt gọi là phương Tây thì người cõi Phất Bà Đề cho là phương Đông. Người cõi Phất Bà Đề gọi là phương Tây thì người Châu Diêm Phù cho là phương Đông. Hai phương Nam, Bắc cũng lại như vậy.

Khi ấy Đức Thế Tôn tự thuyết kệ:

Chuyển biến trụ và hoại

Trời hiện và mỏng che

Mười hai loại gió thổi

Chư Thiên đi phía trước

Lầu gác và gió thổi

Thân thể ánh sáng chiếu

Nghiệp bố thí, trì giới

Qua sát na, la bà

Nóng thì có mười duyên

Lạnh có mười hai thứ

Ngày đêm và giữa trưa

Đông, Tây nói bốn hướng.

***

icon

Tổng hợp

Cùng chủ đề

Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Ba - Phẩm Ba Mươi Mốt - Phẩm Tuyên Hóa - Phần Ba

Kinh Đại thừa   •   25.12.2023
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập, Đời Diêu Tần