Phật Thuyết Kinh Tăng Chi Bộ - Chương Mười - Mười Pháp - Phẩm Một - Phẩm Lợi ích - Phần Hai - Sở Y
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư An Thế Cao, Đời Hậu Hán
PHẬT THUYẾT
KINH TĂNG CHI BỘ
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư
An Thế Cao, Đời Hậu Hán
CHƯƠNG MƯỜI
MƯỜI PHÁP
PHẨM MỘT
PHẨM LỢI ÍCH
PHẦN HAI
SỞ Y
Này các Tỳ Kheo, với ác giới, với phá giới, không hối tiếc sở y bị diệt.
Với không có không hối tiếc, với hối tiếc không đầy đủ, hân hoan sở y bị diệt.
Với hân hoan không có, với hân hoan không đầy đủ, hỷ sở y bị diệt.
Với hỷ không có, với hỷ không đầy đủ, khinh an sở y bị diệt.
Với khinh an không có, với khinh an không đầy đủ, an lạc sở y bị diệt.
Với an lạc không có, với an lạc không đầy đủ, chánh định sở y bị diệt.
Với chánh định không có, với chánh định không đầy đủ, như thật tri kiến sở y bị diệt.
Với như thật tri kiến không có, với như thật tri kiến không đầy đủ, nhàm chán, ly tham sở y bị diệt.
Với nhàm chán, ly tham không có, với nhàm chán, ly tham không đầy đủ, giải thoát tri kiến sở y bị diệt.
Ví như cây không đủ cành và lá, các mầm non cũng có nghĩa là vỏ ngoài của cây ấy không đi đến viên mãn, vỏ trong, giác cây, lõi cây không đi đến viên mãn.
Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, với ác giới, với phá giới, không hối tiếc sở y bị diệt.
Với không hối tiếc không có, với không hối tiếc không đầy đủ. Giải thoát tri kiến sở y bị diệt.
Này các Tỳ Kheo, với giới có mặt, với giới có đầy đủ, không hối tiếc có sở y.
Với không hối tiếc có mặt, với không hối tiếc có đầy đủ, hân hoan có sở y.
Với hân hoan có mặt, với hân hoan có đầy đủ, hoan hỷ có sở y.
Với hoan hỷ có mặt, với hoan hỷ có đầy đủ, khinh an có sở y.
Với khinh an có mặt, với khinh an có đầy đủ, an lạc có sở y.
Với an lạc có mặt, với an lạc có đầy đủ, chánh định có sở y.
Với chánh định có mặt, với chánh định có đầy đủ, như thật tri kiến có sở y.
Với như thật tri kiến có mặt, với như thật tri kiến có đầy đủ, nhàm chán, ly tham có sở y.
Với nhàm chán, ly tham có mặt, với nhàm chán, ly tham có đầy đủ, giải thoát tri kiến có sở y.
Ví như này các Tỳ Kheo, một cây có đầy đủ cành và lá, các mầm non của cây ấy đi đến viên mãn, vỏ trong, giác cây, lõi cây đi đến viên mãn.
Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, với giới có mặt, với giới có đầy đủ, không hối tiếc có sở y.
Với không hối tiếc có mặt, với không hối tiếc có đầy đủ giải thoát tri kiến có sở y. Có Sở Y.
Như Kinh, chỉ khác ở đây là Tôn Giả Sàriputta thuyết. Có Sở Y.
Như Kinh, chỉ khác ở đây là Tôn Giả A Nan Đà thuyết.
Ðịnh Do Bậc Ðạo Sư Thuyết.
Bấy giờ Tôn Giả A Nan Đà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn Giả A Nan Đà bạch Thế Tôn: Bạch Thế Tôn, có thể có chăng một Tỳ Kheo khi chứng được thiền định như vậy, vị ấy có thể đi trong đất không tưởng đến đất.
Trong nước không tưởng đến nước.
Trong lửa không tưởng đến lửa.
Trong gió không tưởng đến gió.
Trong Không vô biên xứ, không tưởng đến Không vô biên xứ.
Trong Thức vô biên xứ, không tưởng đến Thức vô biên xứ.
Trong Vô sở hữu xứ, không tưởng đến Vô sở hữu xứ.
Trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ, không tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Trong Thế Giới hiện tại có thể không tưởng đến Thế Giới hiện tại.
Trong Thế Giới đời sau, không tưởng đến Thế Giới đời sau.
Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng?
Này A Nan Đà, có thể như vậy, một Tỳ Kheo khi chứng được thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất không tưởng đến đất.
Trong nước không tưởng đến nước.
Trong lửa không tưởng đến lửa.
Trong gió không tưởng đến gió.
Trong Không vô biên xứ, không tưởng đến Không vô biên xứ.
Trong Thức vô biên xứ, không tưởng đến Thức vô biên xứ.
Trong Vô sở hữu xứ, không tưởng đến Vô sở hữu xứ.
Trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ, không tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Trong Thế Giới hiện tại, không tưởng đến Thế Giới hiện tại.
Trong Thế Giới đời sau, không tưởng đến Thế Giới đời sau. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng.
Nhưng bạch Thế Tôn, như thế nào một Tỳ Kheo khi chứng được thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất trong Thế Giới đời sau, không tưởng đến Thế Giới đời sau.
Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng?
Ở đây, này A Nan Đà, Tỳ Kheo tưởng như sau: Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết Bàn.
Như vậy, này A Nan Đà, Tỳ Kheo khi chứng được thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất. Trong nước không tưởng đến nước trong Thế Giới đời sau, không tưởng đến Thế Giới đời sau.
Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng. Ðịnh Do Tôn Giả.
Bấy giờ Tôn Giả A Nan Đà đi đến Tôn Giả Sàriputta, sau khi đến, nói lên với Tôn Giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn Giả A Nan Đà nói với Tôn Giả Sàriputta: Thưa Hiền Giả Sàriputta, có thể có chăng một Tỳ Kheo khi chứng thiền định như vậy, vị ấy có thể trong địa đại, không tưởng đến địa đại trong Thế Giới đời sau, không tưởng đến Thế Giới đời sau, tuy vậy, vị ấy vẫn tưởng?
Này A Nan Đà, có thể như vậy. Một Tỳ Kheo khi chứng thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất không tưởng đến đất trong Thế Giới đời sau, không tưởng đến Thế Giới đời sau.
Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng. Nhưng thưa Hiền Giả Sàriputta, như thế nào một Tỳ Kheo khi chứng được thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất, trong Thế Giới đời sau, không tưởng đến Thế Giới đời sau.
Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng?
Này Hiền Giả A Nan Đà, một thời ở đây, tôi trú ở Sàvatthi, trong rừng Andha.
Tại đây, tôi chứng được thiền định như sau: Trong đất, tôi không tưởng đến đất, trong Thế Giới đời sau, tôi không tưởng đến Thế Giới đời sau. Tuy vậy, tôi vẫn có tưởng.
Nhưng trong lúc ấy, Tôn Giả Sàriputta tưởng đến gì?
Một tưởng khác khởi lên trong tôi: Hữu diệt là Niết Bàn.
Một tưởng khác diệt đi trong tôi: Hữu diệt là Niết Bàn.
Ví như, này Hiền Giả, lửa được đốt cháy từ mảnh đá nhỏ, một ngọn lửa khác khởi lên, một ngọn lửa khác diệt đi.
Cũng vậy, này Hiền Giả, một tưởng khác khởi lên trong tôi, thưa Hiền Giả: Hữu diệt là Niết Bàn.
Một tưởng khác diệt đi trong tôi: Hữu diệt là Niết Bàn.
Tuy vậy, trong lúc ấy tôi vẫn có tưởng.
Người có lòng tin.
Vị Tỳ Kheo có lòng tin, này các Tỳ Kheo, nhưng không có giới. Như vậy, vị ấy về chi phần này không được viên mãn.
Vị ấy cần phải làm cho viên mãn chi phần ấy, nghĩ rằng: Làm thế nào để ta có lòng tin và có giới nữa?
Này các Tỳ Kheo, khi nào Tỳ Kheo có lòng tin và có giới, như vậy về chi phần ấy, Tỳ Kheo có viên mãn.
Và này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo có lòng tin, có giới nhưng không có nghe nhiều có nghe nhiều nhưng không có nói pháp có nói pháp nhưng không thường tham gia với hội chúng thường tham gia với hội chúng, nhưng không vô úy thuyết pháp cho hội chúng có vô úy thuyết pháp cho hội chúng nhưng không trì luật có trì luật.
Nhưng không phải là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, nhưng đối với bốn thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, nhưng không có được không khó khăn, không có được không mệt nhọc.
Không có được không phí sức, đối với bốn thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, nhưng không do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Như vậy, vị ấy về chi phần này không được viên mãn.
Vị ấy cần phải làm cho viên mãn chi phần ấy, nghĩ rằng: Làm thế nào, ta có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có thuyết pháp, thường tham gia với hội chúng, vô úy thuyết pháp cho hội chúng, trì luật, là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, đối với bốn thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, và do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí.
Ta có thể chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát?
Và này các Tỳ Kheo, khi nào Tỳ Kheo có lòng tin, có giới, nghe nhiều, có thuyết pháp, thường tham gia với hội chúng, vô úy thuyết pháp cho hội chúng, trì luật, là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, đối với bốn thiền thuộc tăng thượng tâm.
Hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Như vậy về chi phần này, vị ấy được viên mãn.
Thành tựu mười pháp này, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo tịnh tín một cách phổ biến, và viên mãn trong mọi phương diện.
Tịch tịnh giải thoát.
Như Kinh ở trên, cho đến là người ở rừng ở các trú xứ vắng là người trì luật, nhưng không phải là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, nhưng đối với các tịch tịnh giải thoát vượt khỏi các sắc, thuộc về vô sắc, vị ấy không cảm giác với thân và an trú, đối với các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc, thuộc về vô sắc, vị ấy có cảm giác với thân và an trú.
Nhưng không do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Như vậy về chi phần này không viên mãn.
Vị ấy cần phải làm cho viên mãn chi phần ấy, nghĩ rằng: Làm thế nào, ta có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có thuyết pháp, thường tham gia với hội chúng, vô úy thuyết pháp cho hội chúng, trì luật, là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, đối với các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc, thuộc về vô sắc, ta có cảm giác với thân và an trú.
Do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, ta chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát?
Và này các Tỳ Kheo, khi nào Tỳ Kheo có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có thuyết pháp thường tham gia với hội chúng, vô úy thuyết pháp cho hội chúng, là vị trì luật, là vị ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, đối với các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc, thuộc về vô sắc, vị ấy có cảm giác với thân và an trú.
Do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Như vậy về chi phần này, vị ấy được viên mãn. Thành tựu mười pháp này, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo tịnh tín một cách phổ biến, và viên mãn trong mọi phương diện.
Với Các Minh như Kinh trước cho đến: Vị ấy trì luật, là người trì luật, nhưng không nhớ đến rất nhiều đời sống trước, một đời, hai đời vị ấy nhớ nhiều đời sống trước với các chi tiết và các đặc điểm, nhớ đến rất nhiều đời sống trước, như một đời, hai đời vị ấy nhớ nhiều đời sống trước với các chi tiết và các đặc điểm.
Nhưng không với Thiên Nhãn siêu nhân vị ấy rõ biết các chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ, vị ấy với Thiên Nhãn siêu nhân vị ấy rõ biết các chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ, nhưng không do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Như vậy, về chi phần này, vị ấy không được viên mãn.
Vị ấy cần phải làm cho viên mãn chi phần ấy, nghĩ rằng: Làm thế nào ta có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có thuyết pháp, thường tham gia với hội chúng, vô úy thuyết pháp cho hội chúng, là vị trì luật, có thể nhớ đến nhiều đời sống trước như một đời, hai đời có thể nhớ đến nhiều đời sống trước.
Với các chi tiết và các đặc điểm, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân có thể biết được các chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ, do đoạn diệt các lậu hoặc chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát?
Này các Tỳ Kheo, khi nào Tỳ Kheo có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, là vị thuyết pháp, thường tham gia với hội chúng, vô úy thuyết pháp cho hội chúng, là vị trì luật, nhớ đến nhiều đời sống trước, như một đời, hai đời có thể nhớ đến nhiều đời sống trước, với các chi tiết và các đặc điểm.
Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân có thể biết được các chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ, do đoạn diệt các lậu hoặc chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Như vậy về chi phần này, vị ấy được viên mãn.
Thành tựu mười pháp này, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo tịnh tín một cách phổ biến, có viên mãn trong mọi phương diện.
***
Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Năm - Phẩm Mười Bảy - Phẩm Tham Hành - Phần Hai
Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Ba - Phẩm Ba Mươi Mốt - Phẩm Tuyên Hóa - Phần Ba
Phật Thuyết Kinh Con đường Tu Hành - Phẩm Hai Mươi Sáu - Bậc Vô Học
Phật Thuyết Kinh Trung A Hàm - Phẩm Chín - Phẩm Nhân - Kinh Nguyện
Phật Thuyết Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ - Phẩm Bảy - Phẩm Thân Niệm Xứ - Tập Mười Chín
Phật Thuyết Kinh Tăng Nhất A Hàm - Phẩm Ba Mươi Hai - Phẩm Thiện Tụ - Phần Năm
Phật Thuyết Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ - Phẩm Ba - Phẩm địa Ngục - Tập Mười Bốn