Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội đầu - Phẩm Bảy - Phẩm Dạy Bảo Trao Truyền - Phần Ba

Kinh Đại thừa   •   Thứ hai, 25/12/2023, 22:18 PM

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập, Đời Diêu Tần

PHẬT THUYẾT KINH 

ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư

Cưu Ma La Thập, Đời Diêu Tần  

HỘI ĐẦU  

PHẨM BẢY

PHẨM DẠY BẢO TRAO TRUYỀN  

PHẦN BA  

Lại nữa, Thiện Hiện! Các Đại Bồ Tát, khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc thường, hoặc vô thường. Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc thường, hoặc vô thường. Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc vui, hoặc khổ.

Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc vui, hoặc khổ. Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc ngã, hoặc vô ngã. Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc ngã, hoặc vô ngã.

Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc tịnh, hoặc chẳng tịnh. Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc tịnh, hoặc chẳng tịnh. Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc không, hoặc chẳng không.

Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc không, hoặc chẳng không. Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc có tướng, hoặc không tướng. Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc có tướng, hoặc không tướng.

Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc có nguyện, hoặc không nguyện. Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc có nguyện, hoặc không nguyện. Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc tịch tịnh, hoặc chẳng tịch tịnh. Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc tịch tịnh, hoặc chẳng tịch tịnh.

Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc viễn ly, hoặc chẳng viễn ly. Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc viễn ly, hoặc chẳng viễn ly. Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc hữu vi, hoặc vô vi.

Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc hữu vi, hoặc vô vi. Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu.

Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc sanh, hoặc diệt. Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc sanh, hoặc diệt. Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc thiện, hoặc chẳng phải thiện.

Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc thiện, hoặc chẳng phải thiện. Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc có tội, hoặc không tội. Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc có tội, hoặc không tội.

Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc có phiền não, hoặc không phiền não. Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc có phiền não, hoặc không phiền não. Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian. Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian.

Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh. Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh. Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc thuộc sanh tử, hoặc thuộc Niết Bàn. Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc thuộc sanh tử, hoặc thuộc Niết Bàn.

Chẳng nên quán mười lực của Phật hoặc ở trong hoặc ở ngoài hoặc ở hai bên. Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng hoặc ở trong hoặc ở ngoài hoặc ở hai bên. Chẳng nên quán mười lực của Phật, hoặc có thể nắm bắt được, hoặc chẳng thể nắm bắt được.

Chẳng nên quán bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, hoặc có thể nắm bắt được, hoặc chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Các Đại Bồ Tát, khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, chẳng nên quán đại từ, hoặc thường, hoặc vô thường. Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc thường, hoặc vô thường.

Chẳng nên quán đại từ, hoặc vui, hoặc khổ. Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc vui, hoặc khổ. Chẳng nên quán đại từ, hoặc ngã, hoặc vô ngã. Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc ngã, hoặc vô ngã. Chẳng nên quán đại từ, hoặc tịnh, hoặc chẳng tịnh.

Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc tịnh, hoặc chẳng tịnh. Chẳng nên quán đại từ, hoặc không, hoặc chẳng không. Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc không, hoặc chẳng không.

Chẳng nên quán đại từ, hoặc có tướng, hoặc không tướng. Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc có tướng, hoặc không tướng. Chẳng nên quán đại từ, hoặc có nguyện, hoặc không nguyện. Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả hoặc có nguyện, hoặc không nguyện.

Chẳng nên quán đại từ, hoặc tịch tịnh, hoặc chẳng tịch tịnh. Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc tịch tịnh, hoặc chẳng tịch tịnh. Chẳng nên quán đại từ, hoặc viễn ly, hoặc chẳng viễn ly. Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc viễn ly, hoặc chẳng viễn ly.

Chẳng nên quán đại từ, hoặc hữu vi, hoặc vô vi. Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc hữu vi, hoặc vô vi. Chẳng nên quán đại từ, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Chẳng nên quán đại từ, hoặc sanh, hoặc diệt.

Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc sanh, hoặc diệt. Chẳng nên quán đại từ, hoặc thiện, hoặc chẳng phải thiện. Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc thiện, hoặc chẳng phải thiện. Chẳng nên quán đại từ, hoặc có tội, hoặc không tội.

Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc có tội, hoặc không tội. Chẳng nên quán đại từ, hoặc có phiền não, hoặc không phiền não. Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc có phiền não, hoặc không phiền não. Chẳng nên quán đại từ, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian.

Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian. Chẳng nên quán đại từ, hoặc tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh. Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh. Chẳng nên quán đại từ, hoặc thuộc sanh tử, hoặc thuộc Niết Bàn. Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc thuộc sanh tử, hoặc thuộc Niết Bàn.

Chẳng nên quán đại từ hoặc ở trong hoặc ở ngoài hoặc ở hai bên. Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả hoặc ở trong hoặc ở ngoài hoặc ở hai bên. Chẳng nên quán đại từ, hoặc có thể nắm bắt được, hoặc chẳng thể nắm bắt được. Chẳng nên quán đại bi, đại hỷ, đại xả, hoặc có thể nắm bắt được, hoặc chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Các Đại Bồ Tát, khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc thường, hoặc vô thường. Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc thường, hoặc vô thường. Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc vui, hoặc khổ.

Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc vui, hoặc khổ. Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc ngã, hoặc vô ngã. Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc ngã, hoặc vô ngã.

Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc tịnh, hoặc chẳng tịnh. Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc tịnh, hoặc chẳng tịnh. Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc không, hoặc chẳng không. Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc không, hoặc chẳng không.

Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc có tướng, hoặc không tướng. Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc có tướng, hoặc không tướng. Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc có nguyện, hoặc không nguyện.

Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc có nguyện, hoặc không nguyện. Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc tịch tịnh, hoặc chẳng tịch tịnh. Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc tịch tịnh, hoặc chẳng tịch tịnh. Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc viễn ly, hoặc chẳng viễn ly.

Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc viễn ly, hoặc chẳng viễn ly. Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc hữu vi, hoặc vô vi. Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc hữu vi, hoặc vô vi. Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu.

Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc sanh, hoặc diệt. Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc sanh, hoặc diệt. Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc thiện, hoặc chẳng phải thiện.

Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc thiện, hoặc chẳng phải thiện. Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc có tội, hoặc không tội. Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc có tội, hoặc không tội.

Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc có phiền não, hoặc không phiền não. Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc có phiền não, hoặc không phiền não. Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian. Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian.

Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh. Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh. Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc thuộc sanh tử, hoặc thuộc Niết Bàn.

Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc thuộc sanh tử, hoặc thuộc Niết Bàn. Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ hoặc ở trong hoặc ở ngoài hoặc ở hai bên. Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo hoặc ở trong hoặc ở ngoài hoặc ở hai bên.

Chẳng nên quán ba mươi hai tướng Đại Sĩ, hoặc có thể nắm bắt được, hoặc chẳng thể nắm bắt được. Chẳng nên quán tám mươi vẻ đẹp kèm theo, hoặc có thể nắm bắt được, hoặc chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Các Đại Bồ Tát, khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc thường, hoặc vô thường. Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc thường, hoặc vô thường.

Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc vui, hoặc khổ. Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc vui, hoặc khổ. Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc ngã, hoặc vô ngã. Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc ngã, hoặc vô ngã.

Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc tịnh, hoặc chẳng tịnh. Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc tịnh, hoặc chẳng tịnh. Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc không, hoặc chẳng không. Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc không, hoặc chẳng không. Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc có tướng, hoặc không tướng.

Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc có tướng, hoặc không tướng. Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc có nguyện, hoặc không nguyện. Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc có nguyện, hoặc không nguyện.

Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc tịch tịnh, hoặc chẳng tịch tịnh. Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc tịch tịnh, hoặc chẳng tịch tịnh. Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc viễn ly, hoặc chẳng viễn ly. Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc viễn ly, hoặc chẳng viễn ly.

Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc hữu vi, hoặc vô vi. Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc hữu vi, hoặc vô vi. Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu.

Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc sanh, hoặc diệt. Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc sanh, hoặc diệt. Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc thiện, hoặc chẳng phải thiện.

Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc thiện, hoặc chẳng phải thiện. Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc có tội, hoặc không tội. Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc có tội, hoặc không tội. Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc có phiền não, hoặc không phiền não.

Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc có phiền não, hoặc không phiền não. Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian. Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian. Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh.

Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh. Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc thuộc sanh tử, hoặc thuộc Niết Bàn. Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc thuộc sanh tử, hoặc thuộc Niết Bàn. Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc ở trong, hoặc ở ngoài, hoặc ở hai bên.

Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc ở trong, hoặc ở ngoài, hoặc ở hai bên. Chẳng nên quán pháp không quên mất, hoặc có thể nắm bắt được, hoặc chẳng thể nắm bắt được. Chẳng nên quán tánh luôn luôn xả, hoặc có thể nắm bắt được, hoặc chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Các Đại Bồ Tát, khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc thường, hoặc vô thường. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc thường, hoặc vô thường. Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc vui, hoặc khổ. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc vui, hoặc khổ.

Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc ngã, hoặc vô ngã. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc ngã, hoặc vô ngã. Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc tịnh, hoặc chẳng tịnh. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc tịnh, hoặc chẳng tịnh.

Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc không, hoặc chẳng không. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc không, hoặc chẳng không. Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc có tướng, hoặc không tướng. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc có tướng, hoặc không tướng.

Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc có nguyện, hoặc không nguyện. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc có nguyện, hoặc không nguyện. Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc tịch tịnh, hoặc chẳng tịch tịnh. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc tịch tịnh, hoặc chẳng tịch tịnh.

Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc viễn ly, hoặc chẳng viễn ly. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc viễn ly, hoặc chẳng viễn ly. Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc hữu vi, hoặc vô vi. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc hữu vi, hoặc vô vi.

Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc sanh, hoặc diệt. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc sanh, hoặc diệt.

Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc thiện, hoặc chẳng phải thiện. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc thiện, hoặc chẳng phải thiện. Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc có tội, hoặc không tội. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc có tội, hoặc không tội.

Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc có phiền não, hoặc không phiền não. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc có phiền não, hoặc không phiền não.

Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian. Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh.

Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh. Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc thuộc sanh tử, hoặc thuộc Niết Bàn.

Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc thuộc sanh tử, hoặc thuộc Niết Bàn. Chẳng nên quán trí nhất thiết hoặc ở trong hoặc ở ngoài hoặc ở hai bên. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng hoặc ở trong hoặc ở ngoài hoặc ở hai bên.

Chẳng nên quán trí nhất thiết, hoặc có thể nắm bắt được, hoặc chẳng thể nắm bắt được. Chẳng nên quán trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, hoặc có thể nắm bắt được, hoặc chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Các Đại Bồ Tát, khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc thường, hoặc vô thường. Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc thường, hoặc vô thường. Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc vui, hoặc khổ. Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc vui, hoặc khổ.

Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc ngã, hoặc vô ngã. Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc ngã, hoặc vô ngã. Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc tịnh, hoặc chẳng tịnh.

Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc tịnh, hoặc chẳng tịnh. Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc không, hoặc chẳng không.

Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc không, hoặc chẳng không. Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc có tướng, hoặc không tướng. Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc có tướng, hoặc không tướng.

Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc có nguyện, hoặc không nguyện. Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc có nguyện, hoặc không nguyện.

Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc tịch tịnh, hoặc chẳng tịch tịnh. Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc tịch tịnh, hoặc chẳng tịch tịnh. Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc viễn ly, hoặc chẳng viễn ly.

Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc viễn ly, hoặc chẳng viễn ly. Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc hữu vi, hoặc vô vi. Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc hữu vi, hoặc vô vi. Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu.

Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc sanh, hoặc diệt. Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc sanh, hoặc diệt.

Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc thiện, hoặc chẳng phải thiện. Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc thiện, hoặc chẳng phải thiện. Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc có tội, hoặc không tội. Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc có tội, hoặc không tội.

Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc có phiền não, hoặc không phiền não. Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc có phiền não, hoặc không phiền não. Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian.

Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian. Chẳng nên quán quả Dự Lưu hoặc tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh. Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh.

Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc thuộc sanh tử, hoặc thuộc Niết Bàn. Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc thuộc sanh tử, hoặc thuộc Niết Bàn. Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc ở trong, hoặc ở ngoài, hoặc ở hai bên.

Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc ở trong, hoặc ở ngoài, hoặc ở hai bên. Chẳng nên quán quả Dự Lưu, hoặc có thể nắm bắt được, hoặc chẳng thể nắm bắt được. Chẳng nên quán quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác, hoặc có thể nắm bắt được, hoặc chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Các Đại Bồ Tát, khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc thường, hoặc vô thường. Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc thường, hoặc vô thường. Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc vui, hoặc khổ. Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc vui, hoặc khổ.

Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc ngã, hoặc vô ngã. Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc ngã, hoặc vô ngã. Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc tịnh, hoặc chẳng tịnh. Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc tịnh, hoặc chẳng tịnh.

Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc không, hoặc chẳng không. Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc không, hoặc chẳng không. Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc có tướng, hoặc không tướng.

Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc có tướng, hoặc không tướng. Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc có nguyện, hoặc không nguyện.

Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc có nguyện, hoặc không nguyện. Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc tịch tịnh, hoặc chẳng tịch tịnh. Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc tịch tịnh, hoặc chẳng tịch tịnh.

Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc viễn ly, hoặc chẳng viễn ly. Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc viễn ly, hoặc chẳng viễn ly.

Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc hữu vi, hoặc vô vi. Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc hữu vi, hoặc vô vi. Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu.

Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc sanh, hoặc diệt. Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc sanh, hoặc diệt. Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc thiện, hoặc chẳng phải thiện.

Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc thiện, hoặc chẳng phải thiện. Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc có tội, hoặc không tội. Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc có tội, hoặc không tội. Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc có phiền não, hoặc không phiền não.

Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc có phiền não, hoặc không phiền não. Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian. Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian.

Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh. Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh. Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc thuộc sanh tử, hoặc thuộc Niết Bàn.

Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc thuộc sanh tử, hoặc thuộc Niết Bàn. Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc ở trong, hoặc ở ngoài, hoặc ở hai bên. Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc ở trong, hoặc ở ngoài, hoặc ở hai bên.

Chẳng nên quán tất cả hạnh Đại Bồ Tát, hoặc có thể nắm bắt được, hoặc chẳng thể nắm bắt được. Chẳng nên quán quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật, hoặc có thể nắm bắt được, hoặc chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Các Đại Bồ Tát, khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, hoặc Đại Bồ Tát, hoặc bát nhã Ba la mật đa, hoặc danh xưng cả hai, đều chẳng thấy ở trong cõi hữu vi, cũng chẳng thấy ở trong cõi vô vi.

Vì sao?

Thiện Hiện! Vì các Đại Bồ Tát, khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, đối với tất cả pháp, chẳng khởi phân biệt, không phân biệt sự sai khác.

Thiện Hiện! Đại Bồ Tát ấy, khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, đối với tất cả pháp, an trụ vô phân biệt, có khả năng tu bố thí Ba la mật đa, cũng có khả năng tu tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, bát nhã Ba la mật đa.

Có khả năng an trụ cái không nội, cũng có khả năng an trụ cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới.

Cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không chẳng thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh. Có khả năng an trụ chơn như.

Cũng có khả năng an trụ pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, định pháp, trụ pháp, thật tế, cõi hư không, cõi không thể nghĩ bàn.

Có khả năng tu bốn niệm trụ. Cũng có khả năng tu bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo. Có khả năng an trụ Thánh Đế khổ. Cũng có khả năng an trụ Thánh Đế tập, diệt, đạo.

Có khả năng tu bốn tịnh lự. Cũng có khả năng tu bốn vô lượng, bốn định vô sắc. Có khả năng tu tám giải thoát. Cũng có khả năng tu tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Có khả năng tu pháp môn giải thoát không. Cũng có khả năng tu pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện. Có khả năng tu tất cả pháp môn Đà La Ni, cũng có khả năng tu tất cả pháp môn Tam Ma Địa. Có khả năng tu bậc Cực hỷ, cũng có khả năng tu Bậc Ly Cấu, Bậc Phát Quang, Bậc Diệm Tuệ, Bậc Cực Nan Thắng, Bậc Hiện Tiền, Bậc Viễn Hành, Bậc Bất Động, Bậc Thiện Tuệ, Bậc Pháp Vân. Có khả năng tu năm loại mắt.

Cũng có khả năng tu sáu phép thần thông. Có khả năng tu mười lực của Phật. Cũng có khả năng tu bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng.

Có khả năng tu pháp không quên mất. Cũng có khả năng tu tánh luôn luôn xả. Có khả năng tu trí nhất thiết. Cũng có khả năng tu trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Thiện Hiện! Đại Bồ Tát ấy, trong những khi tu hành như thế, chẳng thấy Đại Bồ Tát, chẳng thấy danh xưng Đại Bồ Tát, chẳng thấy bát nhã Ba la mật đa, chẳng thấy danh xưng bát nhã Ba la mật đa, chỉ chuyên cần cầu trí nhất thiết trí.

Vì sao?

Thiện Hiện! Vì Đại Bồ Tát ấy, tu hành bát nhã Ba la mật đa, đối với tất cả pháp, khéo đạt thật tướng, vì biết trong đó, không nhiễm, không tịnh.

Lại nữa, thiện Hiện! Các Đại Bồ Tát, khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, nên biết như thật, danh xưng là giả đặt bày ra, pháp là giả đặt bày ra.

Thiện Hiện! Đại Bồ Tát ấy, đã biết như thật, danh là giả, pháp là giả rồi. Chẳng đắm sắc. Chẳng đắm thọ, tưởng, hành, thức. Chẳng đắm nhãn xứ. Chẳng đắm nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ. Chẳng đắm sắc xứ.

Chẳng đắm thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ. Chẳng đắm nhãn giới. Chẳng đắm nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới. Chẳng đắm sắc giới. Chẳng đắm thanh, hương, vị, xúc, pháp giới. Chẳng đắm nhãn thức giới. Chẳng đắm nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới.

Chẳng đắm nhãn xúc. Chẳng đắm nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc. Chẳng đắm các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, hoặc vui, hoặc khổ, hoặc chẳng khổ, hoặc chẳng vui. Chẳng đắm các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, hoặc vui, hoặc khổ, hoặc chẳng khổ, hoặc chẳng vui. Chẳng đắm địa giới.

Chẳng đắm thủy, hỏa, phong, không, thức giới. Chẳng đắm nhân duyên. Chẳng đắm đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các pháp do duyên sanh ra. Chẳng đắm vô minh. Chẳng đắm hành thức danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền. Chẳng đắm cõi hữu vi.

Chẳng đắm cõi vô vi. Chẳng đắm cõi hữu lậu. Chẳng đắm cõi vô lậu. Chẳng đắm Bố Thí Ba la mật đa. Chẳng đắm tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, bát nhã, phương tiện, thiện xảo, diệu nguyện, lực, trí Ba la mật đa. Chẳng đắm cái không nội.

Chẳng đắm cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không chẳng thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh.

Chẳng đắm chơn như. Chẳng đắm pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, định pháp, trụ pháp, thật tế, cõi hư không, cõi không thể nghĩ bàn.

Chẳng đắm bốn niệm trụ. Chẳng đắm bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi Thánh đạo. Chẳng đắm Thánh Đế khổ. Chẳng đắm Thánh Đế tập, diệt, đạo. Chẳng đắm bốn tịnh lự.

Chẳng đắm bốn vô lượng, bốn định vô sắc. Chẳng đắm tám giải thoát. Chẳng đắm tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ. Chẳng đắm pháp môn giải thoát không. Chẳng đắm pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện. Chẳng đắm pháp môn Đà La Ni.

Chẳng đắm pháp môn Tam Ma Địa. Chẳng đắm bậc Cực Hỷ. Chẳng đắm bậc Ly Cấu, bậc Phát Quang, bậc Diệm Tuệ, Bậc Cực Nan Thắng, Bậc Hiện Tiền, Bậc Viễn Hành, Bậc Bất Động, Bậc Thiện Tuệ, Bậc Pháp Vân. Chẳng đắm năm loại mắt. Chẳng đắm sáu phép thần thông. Chẳng đắm mười lực của Phật.

Chẳng đắm bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng. Chẳng đắm đại từ. Chẳng đắm đại bi, đại hỷ, đại xả. Chẳng đắm ba mươi hai tướng Đại Sĩ. Chẳng đắm tám mươi vẻ đẹp kèm theo. Chẳng đắm pháp không quên mất. Chẳng đắm tánh luôn luôn xả. Chẳng đắm trí nhất thiết.

Chẳng đắm trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng. Chẳng đắm quả Dự Lưu. Chẳng đắm quả Nhất Lai, Bất Hoàn, A La Hán và quả vị Độc Giác. Chẳng đắm tất cả hạnh Đại Bồ Tát. Chẳng đắm quả vị giác ngộ cao tột của Chư Phật. Chẳng đắm ngã.

Chẳng đắm hữu tình, dòng sinh mạng, sự sanh, sự dưỡng, sự trưởng thành, chủ thể luân hồi, người do người sanh, ngã tối thắng, khả năng làm việc, khả năng khiến người làm việc, khả năng tạo nghiệp, khả năng khiến người tạo nghiệp, tự thọ quả báo, khiến người thọ quả báo, cái biết, cái thấy.

Chẳng đắm dị sanh. Chẳng đắm bậc Thánh. Chẳng đắm Bồ Tát. Chẳng đắm Như Lai. Chẳng đắm danh. Chẳng đắm tướng. Chẳng đắm nghiêm tịnh cõi Phật. Chẳng đắm thành thục hữu tình. Chẳng đắm phương tiện thiện xảo.

Vì sao vậy?

Vì tất cả pháp đều không sở hữu, nên năng đắm, sở đắm, nơi đắm, lúc đắm, đều không thể nắm bắt được.

Như vậy, Thiện Hiện! Các Đại Bồ Tát tu hành bát nhã Ba la mật đa, vì đối với tất cả pháp không đắm, nên có khả năng tăng trưởng bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, bát nhã, phương tiện thiện xảo, diệu nguyện, lực, trí Ba la mật đa.

Cũng có khả năng an trụ cái không nội, cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không chẳng thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh.

Cũng có khả năng an trụ chơn như, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi cái khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, định pháp, trụ pháp, thật tế, cõi hư không, cõi không thể nghĩ bàn.

Cũng có khả năng tăng trưởng bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi Thánh đạo. Cũng có khả năng an trụ Thánh Đế khổ, Thánh Đế tập, diệt, đạo. Cũng có khả năng tăng trưởng bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Cũng có khả năng tăng trưởng tám giải thoát, tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ. Cũng có khả năng tăng trưởng pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện. Cũng có khả năng thu nhập Niết Bàn, xa lìa sanh tử của Bồ Tát. Cũng có khả năng an trụ bậc bất thối chuyển Bồ Tát.

Cũng có khả năng viên mãn tất cả pháp môn Đà La Ni, pháp môn Tam Ma Địa. Cũng có khả năng viên mãn bậc Cực Hỷ, bậc Ly Cấu, bậc Phát Quang, bậc Diệm Tuệ, Bậc Cực Nan Thắng, Bậc Hiện Tiền, Bậc Viễn Hành, Bậc Bất Động, Bậc Thiện Tuệ, Bậc Pháp Vân. Cũng có khả năng viên mãn năm loại mắt, sáu phép thần thông.

Cũng có khả năng viên mãn mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng. Cũng có khả năng viên mãn đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. Cũng có khả năng viên mãn ba mươi hai tướng Đại Sĩ, tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Cũng có khả năng viên mãn pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả. Cũng có khả năng viên mãn trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng. Cũng chứng đắc thần thông tối thắng của Bồ Tát.

Khi đầy đủ thần thông rồi, từ Cõi Phật này, đến Cõi Phật cái khác, vì muốn thành thục các loại hữu tình, vì muốn nghiêm tịnh Cõi Phật của mình và vì muốn thấy Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.

Khi được thấy rồi, cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen, khiến các căn lành đều được sanh trưởng. Khi căn lành sanh trưởng rồi, tùy chỗ ưa nghe mà chánh pháp của Chư Phật, đều được nghe và nhận.

Khi đã nghe và nhận rồi, cho đến khi an tọa tòa Bồ Đề nhiệm mầu, chứng đắc quả vị giác ngộ cao tột, thường không quên mất. Đối với tất cả pháp môn Đà La Ni, tất cả pháp môn Tam Ma Địa, đều được tự tại.

***

icon

Tổng hợp

Cùng chủ đề

Phật Thuyết Kinh đại Bát Nhã Ba La Mật đa - Hội Thứ Ba - Phẩm Ba Mươi Mốt - Phẩm Tuyên Hóa - Phần Ba

Kinh Đại thừa   •   25.12.2023
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập, Đời Diêu Tần